§¹i häc Th¸i Nguyªn
trêng §¹i häc N«ng L©m
------------ -------------
Bài tiểu luận
MÔN: THỨC ĂN VÀ DINH DƯỠNG GIA SÚC
CHUYÊN ĐỀ: Các phương pháp chế biến thức ăn cho
lợn rừng.
GIẢNG VIÊN: NGUYỄN HƯNG QUANG
SINH VIÊN: LINH THỊ VÂN
LỚP: 40B_CNTY
KHOA: CHĂN NUÔI THÚ Y
THÁI NGUYÊN, 2010
Tên chuyên đề : Các phương pháp chế biến thức ăn cho lợn
rừng
1.Đặt vấn đề
Như chúng ta đã biết hiện nay chăn nuôi lợn của Việt Nam đang có tốc độ tăng
trưởng rất nhanh, số lượng đầu lợn năm 2001 là 21,8 tiệu con; 2002 là 23,17 triệu con,
đứng thứ 7 trên thế giới và thứ 2 Châu Á và thứ nhất Đông Nam Á (Trần Văn Phùng
và cs, 2004) [4] đã góp phần đưa kinh tế nước ta phát triển.
Đặc biệt trong những năm gần đây việc chăn nuôi một số động vật hoang dã,
đặc sản đang được nhiều người quan tâm vì hiệu quả kinh tế cao. Cùng với sự xuất
hiện các vật nuôi mới như nhím, dúi, hươu, nai …đang thu hút mạnh cả người chăn
nuôi và người tiêu dùng thì lợn rừng đang tỏ ra là một nghề rất triển vọng, nhưng còn
là nghề khá mới với người chăn nuôi (Đào Lệ Hằng, kỹ thuật …) [1].
Nghề chăn nuôi lợn là một nghề truyền thống lâu đời gắn bó mật thiết với người
nông dân. Chăn nuôi lợn ngày càng chiếm ưu thế và có tầm quan trọng trong đời sống
con người. Mặt khác nó là nguồn cung cầp phân bón hữu cơ quan trọng trong trồng
trọt và một số sản phẩm cho ngành chăn nuôi, chế biến.
Ở nước ta chăn nuôi lợn sản xuất trên 70 % lượng thịt trong năm.nó là nghề
truyền thống và nhanh tiếp cận với công nghệ nuôi thâm canh hiện đại nhất hiện nay
đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thịt cho sinh hoạt ngày một cao của nhân
Việc nuôi thuần và lai tạo với giống thuần địa phương như trong chăn nuôi lợn
rừng hiện nay ở việt Nam đã góp phần vào việc bảo vệ đa dạng sinh học các giống
lợn, tăng tính đa dạng sinh học và hạn chế việc săn bắt động vật hoang dã trong tự
nhiên.
Bên cạnh đó lợn rừng có một số đặc điểm khác lợn nhà như sau. Chuồng trại
đơn giản, thức ăn dễ kiếm, rẻ tiền, chi phí thú y thấp quay vốn chậm do sinh trưởng
dài, khả năng sản xuất thịt và sinh sản chậm.
Lợn rừng nước ta có một số đặc điểm: Mẹ nhỏ, thường chỉ từ 35-50 kg, mõm
dài và nhọn đầu nhỏ, cổ dài, thắt ngẫng, không có má đẻ it con, lợn chậm lớn, áp dụng
đúng kĩ thuật nuôi thì cơ bản không có mỡ (95% là thịt nạc. [8]
Lợn rừng là loại ăn tạp và tham ăn đến 95% thực đơn là rau, củ, quả, cỏ, phụ
phẩm công nông nghiệp rẻ tiền, dễ kiếm. Người chăn nuôi chỉ phải đầu tư ít cám gạo
(5% còn lại trong khẩu phần). Mỗi lợn rừng trưởng thành tiêu thụ mỗi ngày hết
khoảng 2 kg cỏ hoặc thức ăn thô xanh khác và 0,2 kg cám gạo [7].
Theo Đỗ Kim Tuyên [3]
Lợn rừng hiện nay có rất nhiều loài: lợn rừng đại (lợn rừng “thần” hay lợn rừng
lông ); giống lợn rừng ria trắng, giống lợn rừng tai dài, lợn rừng nhim, lợn rừng ngựa,
giống lợn rừng râu dài, lợn rưng Indonesia, lợn rừng không lông, lợn rừng sông, lợn
rừng Ấn Độ, lợn rừng Philippins …
Hiện nay Việt Nam ta đang nuôi một số loài lợn rừng như: lợn rừng thuần mặt
dài, lợn rừng thuần mặt ngắn.
2.2. Thức ăn của lợn rừng
Thức ăn chủ yếu của lợn rừng chủ yếu là thực vật . Không nên lạm dụng thức
ăn giàu dinh dưỡng để nuôi lợn rừng vì nó sẽ làm cho chất lượng của lợn rừng bị biến
đổi và đôi khi lợn lại bị tiêu chảy. [6].Sẽ làm mất năng suất của chăn nuôi.
Thức ăn thô: cây chuối, bẹ chuối, thân cây ngô non, rau muống,rau lấp, bèo tây
các loại cỏ, các loại cỏ xanh. [6]. Các loại thức ăn thô xanh này rất quan trọng bởi
chúng hợp với khẩu vị, mức tiêu hoá và tập tính ăn uống của lợn rừng. Nếu chỉ cho ăn
thức ăn tinh, lợn kém ăn do không quen, không ngon miệng và chất lượng thịt sẽ giảm
xuống. Đồng thời nghề chăn nuôi lợn rừng không hấp dẫn nữa bởi giá thành cao và
đến các phẩm còn tươi như rơm, thân lá khoai lang sau thu hoạch củ, thân lá lạc, vỏ
lạc, ngọn lá sắn đều có thể phơi sấy khô để dự trữ cho gia súc ăn vào mùa đông, mùa
khô thiếu thức ăn xanh hoặc nguyên liệu chế biến với ure cùng với các phụ phẩm
khác. Các loại phụ phẩm này đều là những thực vật giàu đạm, giàu vitamin, khoáng,
tỷ lệ xơ cũng cao nên là thức ăn rất tốt cho gia súc.
Phương pháp sấy khô thường làm mất hơn 10% các chất hữu cơ nên khi cho ăn
tnức ăn phơi sấy khô thường nên cho ăn thêm rau, cỏ tươi, rỉ mật đường hoặc các chất
tinh bột khác (cám gạo, cám ngô …).
Ở phương pháp này, không cần hố ủ mà chỉ cần các thiết bị để nghiền nát sản
phẩm như chày cối, máy xay và các vật liệu để đựng sản phẩm như thùng kim loại
không rỉ, bao nilông có máy hàn kín miệng sau khi đựng sản phẩm, bao xác sẵn, bao
tải khô, kho chứa …Khi sấy khô phải khống chế được tác đụng lên men, sinh mốc của
nhóm nấm mốc thì mới giữ được sản phẩm phơi, sấy khô tốt.