CƠ SỞ LÝ LUẬN DOANH NGHIỆP VÀ VÀ NHỎ- TÍN DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ - Pdf 68

CƠ SỞ LÝ LUẬN DOANH NGHIỆP VÀ VÀ NHỎ- TÍN
DỤNG NGÂN HÀNG ĐỐI VỚI CÁC DOANH NGHIỆP VỪA
VÀ NHỎ
I. DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TRONG NỀN KINH TẾ QUỐC DÂN
1. Khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ
Trong một nền kinh tế, nếu chỉ dựa vào quy mô hoạt động có thể chia doanh
nghiệp thành hai loại: doanh nghiệp lớn, DNV&N.Các DNV&N là loại hình
doanh nghiệp phổ biến ở hầu hết các nước. Tuy nhiên, không có một tiêu chuẩn
chung nào cho việc phân định ranh giới quy mô doanh nghiệp ở các nước. ở mỗi
nước khác nhau, tuỳ theo điều kiện và hoàn cảnh phát triển kinh tế cụ thể mà có
cách xác định quy mô doanh nghiệp trong từng giai đoạn cụ thể.
Hầu hết các nước trên thế giới đếu xác định DNV&N theo hai tiêu thức: tổng
số vốn kinh doanh, số lượng lao động của doanh nghiệp để phân biệt quy mô
lớn, vừa và nhỏ.
Ở Việt Nam, theo quyết định của Chính Phủ tại NĐ 90/ 2001/NĐ- CP ra ngày
23/11/2001 về trợ giúp và phát triển DNV&N có định nghĩa sau: "DNV&N vừa
là cơ sở sản xuất, kinh doanh độc lập, đã đăng ký kinh doanh theo pháp luật
hiện hành. Có vốn đăng ký không quá 10 tỷ VNĐ hoặc số lao động hàng năm
không quá 300 người". Căn cứ vào tình hình kinh tế xã hội cụ thể của từng
ngành, địa phương trong quá trình thực hiện các biện pháp chương trình trợ giúp
có thể linh hoạt áp dụng đồng thời cả hai chỉ tiêu vốn và lao động hoặc một
trong hai chỉ tiêu nói trên.
Với tiêu chí xác định DNV&N theo NĐ 90/ 2001/ NĐ- CP thì số lượng
doanh nghiệp đã tăng lên đáng kể. Theo số liệu thống kê đến hết năm 2001 có
tổng cộng 77.784 doanh nghiệp đăng ký kinh doanh: riêng trong năm 2000-
2001 thực hiện luật doanh nghiệp mới tăng vượt bậc 35.481 doanh nghiệp, với
số vốn đăng ký kinh doanh là 41.882 tỷ đồng.
2. Đặc điểm và phân loại
2.1. Phân loại
Tuỳ theo các tiêu thức ta có thể phân loại DNV&N như sau:
-Theo hình thức sở hữu bao gồm:

còn ít làm cho hoạt động SXKD gặp nhiều khó khăn ảnh hưởng tới chất lượng
sản phẩm như là: chất lượng chưa cao, sức cạnh tranh của hàng hoá dịch vụ còn
yếu do đó không mở rộng được thị trường, hàng hoá ngày càng khó tiêu thụ. Tất
yếu dẫn đến lợi nhuận thấp, cản trở việc SXKD, dễ có những hành vi gian lận
thương mại, kinh doanh trái với quy định của pháp luật.
Thứ ba, Quản lý và điều hành hoạt động SXKD của DNV&Nthấp.
Hầu hết các DNV&N được thành lập có nguồn vốn dựa vào tiền tích luỹ cá
nhân cộng với tích luỹ của gia đình (đối với các DN ngoài quốc doanh). Do vậy,
những người điều hành DN hầu hết có thế mạnh về vốn lớn hơn thế mạnh về
năng lực quản lý. Các DNV&N nhà nước còn rất nhiều nhà quản lý yếu kém về
trình độ điều hành. Nên chưa đáp ứng được nhu cầu kinh tế của thị trường,
không đủ sức để DN đứng vững và phát triển trong điều kiện cạnh tranh gay
gắt.
Bên cạnh đó số người của DNV&N có trình độ, được đào tạo còn ít, khó
khăn đối với các DNV&N là không thu hút được cán bộ kỹ thuật giỏi và những
công nhân có tay nghề cao. Từ đó, dẫn đến năng suất lao động thấp, hiệu quả sử
dụng vốn kém ảnh hưởng đến khả năng hoàn trả vốn vay và bảo toàn vốn thấp.
Cho nên khả năng tiếp cận vốn ngân hàng của các DNV&N bị hạn chế.
Thứ tư, Môi trường kinh doanh bên ngoài ảnh hưởng không nhỏ tới
DNV&N
Thật vậy, những tác động từ bên ngoàitới DN cũng gây không ít khó khăncho
DNV&N.Trước hết, là sự tác động quản lý của nhà nước về hoàn thiện luật DN,
thực thi luật DN, các chính sách thuế, chính sách, thương mại, chính sách khoa
học- công nghệ, cơ sở giáo dục đào tạo, lao động và việc làm...còn nhiều bất
cập. Tác động quản lý của nhà nước đối với DNV&N trong khâu tổ chức còn
nhiều bức xúc, nhất là tệ quan liêu, tham nhũng của một bộ phận cán bộ công
chứng quản lý nhà nước. Sự thiếu hụt và rối loạn của thị trường như: thị trường
vốn, thị trường thông tin, thị trường dịch vụ và nạn hàng giả, hàng lậu tràn lan
gây nhiều khó khăn cho hoạt động SXKD của DNV&N.
3. Vai trò của DNV&N trong nền KT thị trường

3.3. DNV&N phát triển và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực tài chính
Sự ra đời và phát triển của DNV&N với nhiều loại hình như: DNNN, công ty
tư nhân, công ty TNHH, công ty cổ phần... đã khơi dậy và đưa vào hoạt động
nhiều khoản vốn đang nằm phân tán trong dân cư, góp phần phát triênt SX.
DNV&N góp phần quan trọng trong việc thu hút vốn đầu tư trong dân cư và sử
dụng tối ưu các nguồn lực tại địa phương.
Thật vậy, Việc thành lập DNV&N không cần quá nhiều vốn. Điều đó đã tạo
cơ hội cho đông đảo dân cư có thể tham gia đầu tư. Mặt khác, trong quá trình
hoạt động các DNV&N có thể dễ dàng huy động vốn dựa trên quan hệ họ hàng,
bạn bè thân thuộc.
Với quy mô nhỏ và vừa, lại được phân tán ở hầu khắp các địa phương, các
vùng lãnh thổ nên DNV&N có khả năng tận dụng các tiềm năng về LĐ, về
nguyên vật liệu với trữ lượng hạn chế không đáp ứng đủ nhu cầu quy mô lớn
nhưng sẵn có ở địa phương, sử dụng các sản phẩm phụ hoặc phế liệu, phế phẩm
của các DN lớn. Ngoài ra, những ngành mà Việt Nam có lợi thế cạnh tranh từ
giá thành sức LĐ (như may mặc, chế biến lương thực, thuỷ hải sản, sản xuất đồ
mỹ nghệ...) đều là những ngành không có lợi ích từ quy mô lớn.
3.4. DNV&N hỗ trợ cho các DN lớn trong SXKD
Các DNV&N có thể nhận gia công, sản xuất cung ứng nguyên liệu đầu vào,
nhận làm đại lý phân phối tiêu thụ các sản phẩm đầu ra cho các DN lớn. Từ đó
phát huy thế mạnh của từng loại hình DN, tăng tính chuyên môn hoá, nâng cao
khả năng cạnh tranh cho sản phẩm, thúc đẩy sự phát triển của các DN. Đặc biệt,
trong quá trình đổi mới hội nhập của đất nước vai trò hỗ trợ cho các DN lớn của
DNV&N sẽ ngày một khẳng định và phát huy thêm.
3.5. DNV&N góp phần thúc đẩy tăng trưởng KT
Toàn bộ khu vực DNV&N cả nước chỉ chiếm 20% vốn kinh doanh của tất cả
các DN. Tuy nhiên, tỷ trọng đóng góp vào GDP không nhỏ đạt xấp xỉ 36,6%
(trong đó: DNV&N quốc doanh đóng góp 7%, DNV&N ngoài quốc doanh đóng
góp 19,6% GDP). Nếu so với kết quả đánh giá của tổng cục quản lý vốn và tài
sản của nhà nước, các tổng công ty nhà nước chiếm gần 80% về vốn nhưng

ngày nay dễ dàng chấp nhận sự cạnh tranh tự do. So với các DN lớn, DNV&N
có tính tự chủ cao hơn, các DNV&N không ỷ lại vào sự giúp đỡ của nhànước
mà sẵn sàng khai thác các cơ hội để phát triển không ngại rủi ro. Nói chung,
DNV&N buộc phải duy trì sự phát triển nếu không sẽ bị phá sản.
-DNV&N có thể phát huy các tiềm lực trong nước. Thành công của các
DNV&N là nắm bắt được các điều kiện cụ thể của đất nước về tài nguyên, lao
động.
-DNV&N đóng góp một phần tạo lập sự phát triển cân bằng giữa các vùng
trong một quốc gia, DNV&N có thể phát triển rộng rãi khắp nơi, mội vùng lãnh
thổ và tạo ra nhiều sản phẩm phong phú, đa dạng, đồng thời tạo lập sự phát triển
cân bằng giữa các vùng trong một đất nước.
Bên cạnh những ưu thế trên DNV&N cũng có nhiều hạn chế vốn có.
4.2. Hạn chế chủ yếu của các DNV&N
-Khả năng tài chính của DNV&N hạn chế. Với ưu thế tạo lập dễ dàng do chỉ
cần một lượng vốn ít DNV&N gặp phải một hạn chế là năng lực tài chính thấp
từ đó dẫn đến một loạt bất lợi cho DNV&N trong SXKD.
-Thiếu thông tin, trình độ quản lý thường bị hạn chế. Do khả năng tài chính
hạn chế mà DNV&N khó khăn trongviệc tiếp cận thi trường, tiếp cận công nghệ
SX và công nghệ quản lý tiên tiến.
-DNV&N ít có khả năng thu hút được những nhà quản lý và người LĐ giỏi.
Với quy mô SX không lớn, sản phẩm tiêu thụ không nhiều, DNV&N khó có thể
trả lương cao cho người LĐ.
-Hoạt động của DNV&N thiếu vững chắc. Mặc dù có ưu thế linh hoạt nhưng
do khả năng tài chính hạn chế, khi có biến động lớn trên thị trường, DNV&N dễ
rơi vào tình trạng phá sản. Tuy nhiên, phần lớn các nước có số lượng phá sản
lớn, nhưng đi đôi với việc phá sản lại có các DN mới được thành lập, và số
lượng các DN mới được thành lập luôn lớn hơn số bị phá sản. Do vậy, đã không
dẫn đến tình trạng xáo động nền KT- XH và cũng chính hiện tượng đó đã phản
ánh sức sống mãnh liệt của các DNV&N nói chung trong nền kinh tế.
Cùng với những hạn chế nêu trên, trong quá trình hoạt động của các DNV&N

đích được thoả thuận với ngân hàng, không trái với các quy định của pháp luật
và các quy định khác của ngân hàng cấp trên. Luật pháp quy định phạm vi hoạt
động cho các ngân hàng. Bên cạnh đó mỗi ngân hàng có thể có mục đích và
phạm vi hoạt động riêng. Mục đích tài trợ được ghi trong hợp đồngTD đảm bảo
ngân hàng không tài trợ cho các hoạt động trái luật pháp và việc tài trợ đó
không phù hợp với cương lĩnh của ngân hàng.
Nguyên tắc thứ ba: Ngân hàng tài trợ dựa trên phương án (hoặc dự án) có
hiệu quả. Thực hiện nguyên tắc này là thực hiện nguyên tắc thứ nhất. Phương án
có hiệu quả của người vay minh chứng cho khả năng thu hồi được vốn đầu tư và
có lãi để trả nợ cho ngân hàng, các khoản tài trợ của ngân hàng phải gắn liền với
việc hình thành tài sản của người vay. Trong trường hợp xét thấy kém an toàn,
ngân hàng đòi hỏi người vay phải có tài sản đảm bảo khi vay.
1.3. Phân loại TD (các hình thức TDNH)
TD là loại tài sản lớn nhất ở phần lớn các NHTM phản ánh hoạt động đậc
trưng của ngân hàng. Loại tài sản này được phân chia theo nhiều tiêu thức khác
nhau.
1.3.1. Tín dụng phân loại theo thời gian (TD ngắn hạn, trung hạn, dài hạn)
TD ngắn hạn- thời hạn từ 12 tháng trở xuống, trung hạn- trên 1 năm đến 5
năm, dài hạn- trên 5 năm. Việc xác định thời hạn trên cũng chỉ có tính chất
tương đối vì nhiều khoản cho vay không xác định trước được chính xác thời
hạn. Phân chia TD theo thời gian có ý nghĩa quan trọng đối với ngân hàng vì
thời gian liên quan mật thiết đến tính an toàn và sinh lời của tài sản.
Tỷ trọng TD ngắn hạn tại các NHTM thường cao hơn TD trung và dài hạn:
các ngân hàng chủ yếu tài trợ cho tài sản lưu động của khách hàng. TD trung và
dài hạn thường có tỷ trọng thấp hơn nhưng rủi ro cao hơn, nguồn vốn đắt và
khan hiếm hơn. Có nhiều nhân tố ảnh hưởng đến tỷ lệ này như tính ổn định của
nguồn vốn, khả năng quản lý thanh khoản của ngân hàng, khả năng dự báo và
dự phòng rủi ro trong trung và dài hạn...
1.3.2. Hình thức tài trợ TD được chia thành cho vay, bảo lãnh, cho thuê...
Cho vay là tài sản lớn nhất trong khoản mục TD. Cho vay thường được định


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status