NHỮNG LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ XUẤT KHẨU
HÀNG HOÁ CỦA DOANH NGHIỆP XUẤT NHẬP KHẨU
1.1.Khái niệm, vai trò và các hình thức xuất khẩu hàng hóa ở doanh nghiệp
1.1.1.Khái niệm
Xuất khẩu là một quá trình thu doanh lợi bằng cách đưa các sản phẩm hoặc
dịch vụ ra khỏi thị trường trong nước và bán chúng ở các thị trường nước ngoài
khác với thị trường trong nước.
Hoạt động xuất khẩu đã ra đời từ rất lâu và nó chính là phương thức phổ
biến nhất với mức độ rủi ro và chi phí thấp để thâm nhập thị trường quốc tế.
Xuất khẩu thực chất là hoạt động bán hàng hoặc cung cấp dịch vụ cho nước
ngoài trên cơ sở sử dụng tiền tệ làm phương tiện thanh toán.
1.1.2.Vai trò của xuất khẩu ở doanh nghiệp
Xu hướng hội nhập vào nền kinh tế cùng với sự phát triển của phân công
lao động xã hội và phân công lao động hợp tác quốc tế đã làm cho hoạt động
xuất khẩu ngày càng có ý nghĩa quan trọng.
Ba động cơ chủ yếu để các công ty tham gia kinh doanh quốc tế là:
- Tăng doanh số bán hàng: hầu hết các công ty lớn sử dụng xuất khẩu như
là cách thức để tăng doanh số bán hàng khi thị trường trong nước bão hoà.
- Đa dạng hoá thị trường đầu ra: thị trường đầu ra được đa dạng nó có thể
ổn định luồng tiền của công ty để thanh toán cho các nhà cung cấp từ các khách
hàng đa dạng hơn. Các công ty có nguồn thu từ nước ngoài đều có thể đa dạng
thị trường bán hàng và luồng tiền của mình.
- Thu được các kinh nghiệm quốc tế: các nhà kinh doanh và nhà quản lý sẽ
thu được nhiều kiến thức qua việc tiến hành kinh doanh quốc tế. Trong những
môi trường văn hoá kinh tế và chính trị khác nhau thì việc sử dụng xuất khẩu
như là một cách thức để có được các kinh nghiệm quốc tế với chi phí và rủi ro
thấp
Xuất khẩu giúp doanh nghiệp thu về một khoản ngoại tệ phục vụ cho
công tác nhập khẩu. Ngoài ra xuất khẩu còn góp phần tăng tích luỹ vốn, mở
rộng sản xuất tăng thu nhập cho doanh nghiệp nói riêng, nên kinh tế nói chung.
Thông qua xuất khẩu, hàng hóa của các doanh nghiệp trong nước sẽ tham
tị chỗ khi mới tiếp cận thị trường.
1.1.3.2.Gia công xuất khẩu
Là một phương thức sản xuất hàng xuất khẩu, trong đó người đặt gia công
ở nước ngoài cung cấp máy móc, thiết bị, nguyên phụ liệu hoặc bán thành phẩm
theo mẫu và định mức cho trước; người nhận gia công trong nước tổ chức quá
trình sản xuất sản phẩm theo yêu cầu của khách. Toàn bộ sản phẩm làm ra người
nhận gia công sẽ giao lại cho người đặt gia công để nhận tiền công. Đây là hình
thức thích hợp với các doanh nghiệp Việt Nam trong điều kiện vốn đầu tư hạn
chế, chưa am hiểu về pháp luật quốc tế, chưa có thương hiệu, kiểu dáng công
nghiệp nổi tiếng; thông qua hoạt động này để tận dụng nguồn lao động dồi dào,
tận dụng cơ sở nhà xưởng, máy móc, sử dụng nguyên phụ liệu, vật tư sẵn có
trong nước hoặc nhập khẩu từ các nước khác nhau, sử dụng thương hiệu, kênh
phân phối hàng hoá của bên đặt gia công ở nước ngoài. Bên cạnh đó, rủi ro
trong hình thức xuất khẩu này cũng ít hơn vì đầu vào và đầu ra của quá trình
kinh doanh đều do phía đối tác đặt gia công nước ngoài lo. Và có thể nói, đây là
hình thức giải quyết công ăn việc làm cho người lao động, thu ngoại tệ.
Tuy nhiên, bên cạnh những ưu điểm của hình thức gia công hàng hoá xuất
khẩu, có thể thấy rằng, đây là loại hoạt động rất khó kiểm soát đối với cơ quan
nhà nước, bị phụ thuộc nhiều vào đối tác nước ngoài đặt gia công; ngoại tệ thu
được chủ yếu là tiền gia công, mà đơn giá gia công ngày một giảm trong điều
kiện cạnh tranh lớn giữa các đơn vị nhận gia công.
1.1.3.3.Xuất khẩu uỷ thác
Đây là hình thức doanh nghiệp xuất khẩu kinh doanh dịch vụ thương mại
thông qua nhận xuất khẩu hàng hóa cho một doanh nghiệp khác và được hưởng
phí trên việc xuất khẩu đó. Ở khía cạnh nào đó, hình thức này làm tăng tiềm lực
kinh doanh xuất khẩu cho công ty nhận uỷ thác như duy trì khách hàng, thị
trường…đồng thời phát triển hoạt động thương mại dịch vụ, tăng thu nhập cho
doanh nghiệp mà không cần đầu tư nhiều vốn. Nhưng mặt khác, doanh nghiệp
nhận uỷ thác lại phụ thuộc hoàn toàn vào đối tác, nên tính chủ động trong tiếp
cận thị trường kém (không nắm bắt được nhu cầu của thị trường, khiến sản
sách mặt hàng của nước bên bán và của nước bên mua, theo thông lệ và tập
quán quốc tế. Vì vậy nó đòi hỏi thương nhân phải am hiểu thị trường, luật lệ, giá
cả, các phương thức thanh toán quốc tế của nhiều nước. Doanh nghiệp kinh
doanh xuất khẩu theo hình thức này có thể kiếm lợi nhuận mà không cần bỏ
vốn, đồng thời không phải nộp thuế xuất nhập khẩu, tuy nhiên cũng phải chịu
nhiều rủi ro do phải vận chuyển nhiều.
1.1.3.7.Thương mại biên giới
Đây là hình thức trong đó các hoạt động mua, bán trao đổi hàng hóa diễn
ra ở khu vực biên giới các nước láng giềng, bao gồm: mua bán chính ngạch, tiểu
ngạch, mua bán ở chợ biên giới, mua bán của cư dân biên giới.
1.2.Nội dung của hoạt động xuất khẩu hàng hoá ở Doanh nghiệp
1.2.1.Lập kế hoạch xuất khẩu.
Khi bắt tay vào một chiến lược xuất khẩu một hay một nhóm loại hàng hóa
nào đó, doanh nghiệp cần phải tiến hành lập kế hoạch xuất khẩu với trình tự và
nội dung cơ bản như sau:
Một là, đánh giá các điều kiện nội tại của Doanh nghiệp. Mục đích của
bước này là tìm ra điểm mạnh và điểm yếu trong kinh doanh của doanh nghiệp
để từ đó có thể đầu tư vào những điểm mạnh và khắc phục những điểm yếu của
doanh nghiệp. Doanh nghiệp cần có đánh giá đúng đắn về những kết quả đã đạt
được, những lợi thế cạnh tranh hoặc những điểm mạnh mà doanh nghiệp tin
chắc có thể làm tốt hơn những đối thủ cạnh tranh khác; đồng thời cũng cần nhìn
nhận và đánh giá đúng đắn những điểm yếu trong cạnh tranh của doanh nghiệp
mình.
Hai là, đánh giá các điều kiện và yếu tố bên ngoài. Sau khi tiến hành đánh
giá, phân tích các điều kiện bên trong, cần nghiên cứu những yếu tố bên ngoài
có ảnh hưởng đến việc xuất khẩu sản phẩm của doanh nghiệp: tiềm năng của thị
trường; yếu tố cạnh tranh; môi trường chính sách, pháp luật; môi trường kinh tế
và kinh doanh; môi trường văn hoá xã hội; môi trường kỹ thuật; hệ thống phân
phối…
Ba là, nghiên cứu sản phẩm. Doanh nghiệp cần định ra những sản phẩm,
tra thực địa. Ngoài hai phương pháp này, người ta còn có thể sử dụng các
phương pháp như: mua, bán thử; mua dịch vụ thông tin của các công ty điều tra
tín dụng; thông qua người thứ ba để tìm hiểu khách hàng v.v...
1.2.3.Định giá xuất khẩu
Giá cả là yếu tố quan trọng trong giao dịch ngoại thương. Do vậy, việc xác
định giá xuất khẩu như thế nào hết sức có ý nghĩa đối với doanh nghiệp, nó là
cơ sở để doanh nghiệp tiến hành các bước giao dịch hay đàm phán kí kết hợp
đồng. Doanh nghiệp cần lưu ý rằng nếu giá xuất khẩu được đính giá quá thấp so
với giá nên xuất thì sẽ bị giảm lợi nhuận; còn nếu định giá cao hơn giá nên bán
thì ảnh hưởng đến sức cạnh tranh của sản phẩm.
Thông thường trong xuất khẩu việc xác định giá thường dựa trên phương pháp sai biệt phí tổn.
1. Giá thành chế tạo (manufacturing cost) + các chi phí xuất khẩu
(special exporting cost) = giá thành sản xuất (factory cost)
2. Giá thành sản xuất – thuế được hoàn lại = giá thành sản xuất thuần
3. Giá thành xuất khẩu + lợi nhuận + chi phí bán hàng = giá xuất
xưởng (Ex Works Price).
4. Giá xuất xưởng + chi phí vận tải nội địa + các chi phí lưu kho, lưu
bãi cầu cảng, bốc xếp = giá FOB
5. Giá FOB + chi phí vận tải = giá CFR
6. Giá CFR + phí bảo hiểm = giá CIF
Ngoài ra còn cần phải cộng thêm chi phí khác như : phí ngân hàng, phí ký quỹ (phí bảo đảm);
ngoại hối kỳ hạn (cost of forward exchange cover); các phí EFIC v.v...
1.2.4.Giao dịch và đàm phán, tiến tới kí kết hợp đồng xuất khẩu
Để tiến tới ký kết hợp đồng mua bán với nhau, người xuất khẩu và người
nhập thường phải qua một quá trình giao dịch, thương thảo về các điều kiện
giao dịch. Quá trình đó gồm các bước chính sau:
- Hỏi hàng (hỏi giá): Là việc người mua gửi tới một hay một nhóm người
cung cấp về những hàng hoá mình quan tâm hoặc có nhu cầu.
- Chào hàng: Là việc người bán gửi tới một (chào hàng cố định) hoặc một
nhóm (chào hàng tự do) người mua những thông tin về hàng hoá của mình
nghiệp, một ngành…hoạt động có hiệu quả hay không?
Thực tế, phạm trù “hiệu quả” đã xuất hiện từ xã hội chiếm hữu nô lệ,
nhưng cho đến nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả, xuất phát
từ hình thái xã hội, hoàn cảnh lịch sử và góc độ nghiên cứu khác nhau.
Theo quan điểm của nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith thì “hiệu quả
là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, là doanh thu tiêu thụ hàng hoá”.
Cách hiểu này đã đồng nhất hiệu quả với kết quả hoạt động sản xuất kinh
doanh, do đó sẽ không giải thích được sự gia tăng doanh thu của doanh nghiệp
là do tăng chi phí, mở rộng các nguồn lực sản xuất hay do tăng năng suất lao
động…Và như vậy, nếu hai hoạt động có cùng một mức kết quả nhưng có hai
mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này, chúng vẫn có cùng hiệu quả.
Quan điểm thứ hai cho rằng “hiệu quả là quan hệ tỷ lệ giữa phần tăng
thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí”. Quan điểm này mặc dù biểu
hiện được mối quan hệ giữa kết quả bổ sung và chi phí bổ sung, nhưng trong
thực tế, các sự vật và hiện tượng đều có mối quan hệ ràng buộc hữu cơ, tác động
qua lại chứ không tồn tại một cách độc lập riêng rẽ. Vì vậy, trong kinh doanh,
các yếu tố tăng thêm có quan hệ mật thiết với các yếu tố sẵn có, nên khi đánh
giá hiệu quả không thể chỉ xem xét phần tăng thêm của kết quả và chi phí.
Quan điểm thứ ba lại cho rằng hiệu quả là trình độ sử dụng các yếu tố cần
thiết tham gia vào hoạt động nhằm đạt mục tiêu nhất định, “hiệu quả được đo
bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó”. Quan điểm
này đã phản ánh được mối quan hệ bản chất hiệu quả kinh tế , gắn kết quả với
chi phí, coi hiệu quả kinh doanh là trình độ sử dụng các chi phí. Tuy nhiên, nó
vẫn chưa biểu hiện một cách toàn diện mối tương quan về lượng và chất giữa
kết quả với chi phí và chưa phản ánh mức độ chặt chẽ của mối liên hệ này. Vì
để tạo ra kết quả của một hoạt động, một quá trình nào đó không chỉ có chi phí
mà còn cả các nguồn được huy động hay được sử dụng. Trong khi đó, để phản
ánh được tình hình sử dụng các nguồn lực, chúng ta phải cố định một trong hai
yếu tố là kết quả đạt được hoặc chi phí bỏ ra. Nhưng theo quan điểm của chủ
nghĩa Mác - Lênin, các yếu tố này không ở trạng thái tĩnh mà luôn vận động và