ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM MINH TÂN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VAY PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ NGHÈO THÔNG QUA NGÂN HÀNG
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN PHÚ BÌNH,
TỈNH THÁI NGUYÊN
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
THÁI NGUYÊN, NĂM 2020
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
PHẠM MINH TÂN
MỘT SỐ GIẢI PHÁP NÂNG CAO
HIỆU QUẢ SỬ DỤNG VỐN VAY PHÁT TRIỂN
KINH TẾ HỘ NGHÈO THÔNG QUA NGÂN HÀNG
CHÍNH SÁCH XÃ HỘI HUYỆN PHÚ BÌNH,
TỈNH THÁI NGUYÊN
Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã ngành: 8 62 01 15
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ NÔNG NGHIỆP
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của UBND huyện Phú Bình;
Phòng Nông nghiệp và PTNT huyện Phú Bình; Chi cục Thống kê huyện Phú
Bình; Phòng Lao động - TB&XH huyện Phú Bình, Ngân hàng Chính sách xã
hội huyện Phú Bình, các hộ gia đình trên địa bàn điều tra… đã tạo mọi điều
kiện thuận lợi có thể để tôi hoàn thành đề tài luận văn này.
Với trình độ và thời gian có hạn, do đó bản luận văn của tôi không thể
tránh khỏi những thiếu sót. Vì vậy tôi rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến
của các thầy cô để bản đề tài của tôi được hoàn thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, 25 háng 5 năm 2020
Học viên
Phạm Minh Tân
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN...............................................................................................i
MỤC LỤC........................................................................................................iii
iv
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
CNH-HĐH
CSXH
IMF
KHKT
NĐ-CP
DANH MỤC CÁC BẢNG
LỜI CAM ĐOAN...............................................................................................i
LỜI CAM ĐOAN...............................................................................................i
MỤC LỤC........................................................................................................iii
MỤC LỤC........................................................................................................iii
v
DANH MỤC CÁC HÌNH
LỜI CAM ĐOAN...............................................................................................i
LỜI CAM ĐOAN...............................................................................................i
MỤC LỤC........................................................................................................iii
MỤC LỤC........................................................................................................iii
vi
TRÍCH YẾU LUẬN VĂN
1. Tên tác giả: Phạm Minh Tân
2. Tên đề tài: Một số giải pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay
phát triển kinh tế hộ nghèo thông qua Ngân hàng Chính sách xã hội huyện
Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên.
3. Ngành: Kinh tế nông nghiệp
Mã số: 8.62.01.15
4. Cơ sở đào tạo: Trường Đại học Nông Lâm
phân tích hồi quy tuyến tính đa biến để phân tích mối liên hệ tương quan giữa
một số biến độc lập là các biến định lượng và biến định tính (biến giả định) với
các biến phụ thuộc là thu nhập bình quân của hộ và chi tiêu bình quân của hộ.
Kết quả nghiên cứu cho thấy: Trong tổng số 200 hộ nghèo vay vốn đã
được điều tra tại các xã nghiên cứu, trong vòng 3 năm 2015, 2016 và 2017 đã
có tổng số 285 món vay từ ngân hàng CSXH huyện Phú Bình, số hộ vay đã
đạt tỷ lệ 142,5%. Trong đó năm 2015 có 178 hộ vay, chiếm tỷ lệ 89%; Năm
2016 có 63 hộ vay, chiếm tỷ lệ 31,5% và năm 2017 có 44 hộ vay vốn, chiếm
tỷ lệ 22% tổng số hộ điều tra. Có 117 hộ vay 1 món (chiếm tỷ lệ 85,8%), 81
hộ (chiếm tỷ lệ 40,5%) vay 2 món và 3 hộ (chiếm 1,5%) vay 3 món trong
vòng 3 năm 2015, 2016 và 2017. Trị giá mỗi khoản vay bình quân là 31,3
triệu đồng, lượng vốn vay bình quân là 32,8 triệu đồng/hộ, được đánh giá là
còn rất nhỏ, chưa đáp ứng yêu cầu hộ nghèo.
Kết quả phân tích cho thấy chương trình tín dụng hộ nghèo từ ngân
hàng CSXH huyện Phú Bình đã tác động tích cực trong việc cải thiện đời
sống nông dân, phát huy vai trò của nông hộ trong sự phát triển cộng đồng
người nghèo, đặc biệt là tín dụng nông thôn giúp người dân nâng cao được
thu nhập cải thiện được khả năng thoát nghèo. Phần lớn nông hộ nghèo đều
thấy tác động tích cực của tín dụng nông thôn như phát triển kỹ thuật trong
sản xuất, biết cách sản xuất hợp lý hơn, tích luỹ được đồng vốn, nâng cao
viii
trình độ dân trí, tăng cường tính tương trợ trong cộng đồng. Có thể nói đây
cũng là một trong các yếu tố quan trọng để góp phần thúc đẩy phát triển cộng
đồng.
Năm biến số độc lập định lượng: Tuổi chủ hộ, học vấn của chủ hộ, nhân
khẩu, lao động của hộ gia đình và lượng vốn vay có quan hệ tương quan thuận
cùng chiều với thu nhập bình quân và chi tiêu bình quân của hộ nghèo vay vốn
từ ngân hàng CSXH, tức là có quan hệ đối với hiệu quả sử dụng vốn vay từ ngân
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đói nghèo là một vấn đề xã hội mang tính toàn cầu. Những năm gần đây,
nhờ có chính sách đổi mới, nền kinh tế nước ta tăng trưởng nhanh; đại bộ
phận đời sống nhân dân đã được tăng lên một cách rõ rệt. Song, một bộ phận
không nhỏ dân cư, đặc biệt dân cư ở vùng cao, vùng sâu, vùng xa,…đang chịu
cảnh nghèo đói, chưa đảm bảo được những điều kiện tối thiểu của cuộc sống.
Sự phân hóa giầu nghèo đang diễn ra mạnh, là vấn đề xã hội cần được quan
tâm. Chính vì vậy chương trình xóa đói giảm nghèo là một trong những giải
pháp quan trọng hàng đầu của chiến lược phát triển kinh tế xã hội nước ta.
Trước thực trạng đó, Đảng và Nhà nước ta cũng đã quan tâm đến nhiệm
vụ xóa đói giảm nghèo; Đại hội VIII của Đảng đã xác định rõ XĐGN là một
trong những chương trình phát triển kinh tế, xã hội vừa cấp bách trước mắt,
vừa cơ bản lâu dài và nhấn mạnh “phải thực hiện tốt chương trình xóa đói
giảm nghèo, nhất là đối với vùng căn cứ cách mạng, vùng ồng bào dân tộc.
Xây dựng và phát triển quỹ xóa đói giảm nghèo bằng nhiều nguồn vốn trong
và ngoài nước; quản lý chặt chẽ, đầu tư đúng đối tượng và có hiệu quả”.
Chính phủ đã phê duyệt và triển khai chương trình mục tiêu quốc gia xóa đói
giảm nghèo theo từng giai đoạn, xây dựng nhiều chính sách hỗ trợ giảm nghèo
như: hỗ trợ xây dựng cơ sở hạ tầng xã nghèo; hỗ trợ đồng bào dân tộc đặc biệt
khó khăn; định canh, định cư, di dân, kinh tế mới; hướng dẫn người nghèo
cách làm ăn và khuyến nông - lâm - ngư nghiệp; hỗ trợ tín dụng cho người
nghèo; hỗ trợ người nghèo về y tế; hỗ trợ người nghèo về giáo dục; hỗ trợ sản
xuất, phát triển ngành nghề; đào tạo cán bộ làm công tác xóa đói giảm nghèo,
cán bộ các xã nghèo, chương trình phát triển kinh tế, xã hội các xã đặc biệt
khó khăn (Quyết định số 135/1998/QĐ-TTg), chương trình mục tiêu quốc gia
về việc làm. Đặc biệt, tháng 9/2016 Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết
không phải cứ hỗ trợ vốn là người nghèo có thể thoát nghèo. Vì vậy, các
chương trình tín dụng hộ nghèo cần đi kèm với những chương trình giảm
nghèo khác như chương trình khuyến nông, hỗ trợ phát triển sản xuất, đào tạo
3
nâng cao năng lực sản xuất cho hộ nghèo, đào tạo nâng cao trình độ sử dụng
vốn… Các nguồn vốn hỗ trợ cũng cần được xem xét kỹ đến nhu cầu, khả
năng sử dụng vốn của hộ nghèo. Ở mỗi địa phương khác nhau, do đặc điểm
dân cư khác nhau, trình độ phát triển sản xuất khác nhau mà yêu cầu với
nguồn vốn hỗ trợ cũng có những điểm khác biệt. Do vậy, việc nghiên cứu các
yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn vay sẽ là căn cứ quan trọng để
đưa ra các giải pháp giúp nâng cao hiệu quả tín dụng hộ nghèo từ các ngân
hàng Chính sách xã hội. Vì vậy, tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Một số giải
pháp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay phát triển kinh tế hộ nghèo thông
qua Ngân hàng Chính sách xã hội huyện Phú Bình, tỉnh Thái Nguyên”.
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Cập nhật và hệ thống hóa cơ sở lý luận, lý thuyết và thực tiễn liên quan
đến vốn vay, sử dụng vốn vay của hộ nghèo từ Ngân hàng chính sách xã hội;
- Đánh giá hiệu quả sử dụng vốn vay từ ngân hàng Chính sách xã hội của
các hộ nghèo tại địa bàn nghiên cứu;
- Đánh giá thực trạng thu nhập và chi tiêu của hộ nghèo vay vốn từ ngân
hàng Chính sách xã hội;
- Xác định các yếu tố tác động đến thu nhập và chi tiêu bình quân của các
hộ nghèo vay vốn từ ngân hàng; Đánh giá chiều và mức độ tác động của các
yếu tố này đối với thu nhập và chi tiêu bình quân của hộ nghèo vay vốn;
- Đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng
nguồn vốn vay từ ngân hàng Chính sách xã hội, góp phần giảm nghèo và phát
triển kinh tế hộ nghèo.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
rằng những giải pháp mà đề tài đề xuất sẽ được chính quyền địa phương huyện
Phú Bình và ngân hàng CSXH huyện Phú Bình cũng như những địa phương
khác có điều kiện tương tự có thể tham khảo, vận dụng, áp dụng vào thực tiễn
nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn vay, góp phần giảm nghèo và phát triển
kinh tế hộ nghèo của địa phương.
5
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lý luận của đề tài
1.1.1. Một số khái niệm thuật ngữ liên quan
1.1.1.1. Vốn
Bất cứ một doanh nghiệp nào khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh
thì cũng cần phải có vốn, vốn là yếu tố không thể thiếu được của mọi quá
trình sản xuất kinh doanh, do đó việc quản lý và sử dụng vốn đã là một nội
dung quan trọngtrong quản lý tài chính của doanh nghiệp. Mục đích của việc
quản lý vốn là đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được
liên tục, làm cho nguồn vốn luôn được mở rộng tạo tiềm lực tài chính lớn
mạnh cho doanh nghiệp. Vì vậy việc xác định được đâu là vốn của một doanh
nghiệp là điều cần thiết đảm bảo cho việc sử dụng vốn một cách có hiệu quả
nhất. Vốn của doanh nghiệp có thể biểu hiện dưới nhiều dạng khác nhau,
được phân thành hai loại: vốn bằng hiện vật và vốn bằng tiền. Vốn bằng tiền
được coi là nguồn lực tài chính của doanh nghiệp, nó là cơ sở để doanh
nghiệp có thể có được các yếu tố đầu vào như nhà xưởng, máy móc, thiết bị,
nguyên vật liệu… đảm bảo cho quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh được
tiến hành. Như vậy, có thể hiểu vốn của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền
của toàn bộ tài sản của doanh nghiệp bỏ ra cho hoạt động sản xuất kinh doanh
nhằm mục đích kiếm lời. Vốn là tiền đề cho hoạt động sản xuất kinh doanh
của mọi doanh nghiệp do đó vốn được hình thành ngay từ khi doanh nghiệp
doanh, nó là một đại lượng so sánh giữa một bên là kết quả đạt được với bên
kia là số vốn bỏ ra; trong đó chỉ tiêu so sánh giữa lợi nhuận ròng với số vốn
chủ sở hữu được coi là chỉ tiêu tổng hợp có ý nghĩa quan trọng về hiệu quả
sử dụng vốn doanh nghiệp. Tuy nhiên, khi đi vào nghiên cứu các tiêu chuẩn
về hiệu quả sử dụng vốn doanh nghiệp trong cơ chế thị trường lại có nhiều
quan điểm khác nhau.
7
- Hiệu quả sử dụng vốn chỉ là một mặt của hiệu quả kinh doanh mà không
phải là toàn bộ hiệu quả kinh doanh, do vốn chỉ là một yếu tố của quá trình kinh
doanh. Ngược lại, nói đến hiệu quả kinh doanh có thể có một trong các yếu tố
của nó không đạt hiệu quả. Còn nói đến hiệu quả sử dụng vốn, không thể nói sử
dụng có kết quả nhưng lại bị lỗ vốn. Tức là, tính hiệu quả sử dụng vốn thể hiện
trên hai mặt: Bảo toàn được vốn và tạo ra được các kết quả theo mục tiêu kinh
doanh, trong đó đặc biệt là kết quả về sức sinh lời của đồng vốn.
- Hiệu quả sử dụng vốn là sự gia tăng lợi nhuận trên một đồng vốn được sử
dụng vào sản xuất kinh doanh. Sử dụng vốn có hiệu quả trước hết là điều kiện để
doanh nghiệp bảo đảm đạt được lợi ích của các nhà đầu tư, người lao động, của
nhà nước về mặt thu nhập và đảm bảo sự tồn tại phát triển của bản thân. Mặt
khác đó cũng chính là cơ sở để doanh nghiệp có thể huy động vốn được dễ dàng
trên thị trường tài chính để mở rộng sản xuất, phát triển kinh doanh.
- Tối thiểu hoá số vốn và thời gian sử dụng, trong các quan điểm trước
đây, khi xét “đầu vào” của chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn chủ yếu đề cập đến
khả năng tối thiểu hoá về số lượng vốn, còn vấn đề thời gian sử dụng dài hay
ngắn, ít đề cập hoặc không đề cập đến. Thực tế cho thấy, cùng với một kết quả
như nhau mà sử dụng một lượng vốn ít hơn nhưng kéo dài thời gian sử dụng
thì việc sử dụng số vốn đó chưa hẳn là đã có kết quả.
Tóm lại, chúng ta có thể hiểu hiểu quả sử dụng vốn như sau: Hiệu quả sử
dụng vốn là chỉ tiêu biểu hiện một mặt về hiệu quả kinh doanh, phản ánh trình
thời gian. Nghèo tuyệt đối thường được tính trên những nhu cầu dinh dưỡng
và một số hàng hóa khác, do vậy một đường nghèo tuyệt đối được dùng để
thực hiện các so sánh nghèo đói.
- Nghèo tương đối: Đó là sự thiếu hụt của các cá nhân/hộ gia đình so với
mức sống trung bình đạt được. Sự thiếu hụt này dựa trên cơ sở một tỷ lệ nào
đó so với mức thu nhập bình quân của dân cư, có quốc gia xác định dựa trên
1/2 thu nhập bình quân, có quốc gia lại dựa trên 1/3 thu nhập bình quân.
Để so sánh sự nghèo khổ giữa các quốc gia với nhau, người ta sử dụng
khái niệm nghèo tương đối. Để đấu tranh chống nạn nghèo cùng cực thì dùng
khái niệm nghèo tuyệt đối. Tuy nhiên, cả hai khái niệm trên đều không hoàn
toàn đầy đủ. Khái niệm nghèo tuyệt đối không tính đến sự khác nhau về mức
9
sống ở các nước. Khái niệm nghèo tương đối, không tính đến sự diễn biến của
bối cảnh kinh tế xã hội, do đó không tính đến diễn biến của những nhu cầu.
Việt Nam là nước nông nghiệp mà trong đó kinh tế nông thôn đóng vai
trò quan trọng trong quá trình CNH - HĐH đất nước. Nhờ tăng trưởng kinh tế
nhanh, công cuộc XĐGN đã đạt nhiều kết quả to lớn. Tuy nhiên, Việt Nam
vẫn đang là một nước nghèo và Việt Nam vẫn được xếp vào nhóm các nước
nghèo của thế giới. Tỷ lệ hộ đói nghèo của Việt Nam còn khá cao. Sau đây là
một số đặc điểm của nghèo đói ở nước ta:
- Nghèo đói phổ biến trong những hộ có thu nhập bấp bênh:
Mặc dù Việt Nam đã đạt được những thành công rất lớn trong việc giảm
tỷ lệ hộ nghèo, tuy nhiên cũng cần thấy rằng, những thành tựu này vẫn còn rất
mong manh. Thu nhập của một bộ phận lớn dân cư vẫn nằm giáp danh mức
nghèo, do vậy chỉ cần những điều chỉnh nhỏ về chuẩn nghèo, cũng khiến họ
rơi xuống ngưỡng nghèo và làm tăng tỷ lệ hộ nghèo. Phần lớn thu nhập của
người nghèo từ nông nghiệp. Với điều kiện nguồn lực rất hạn chế (đất đai, lao
động, vốn), thu nhập của những người nghèo rất bấp bênh và dễ bị ảnh hưởng
kiện sản xuất và dịch vụ còn nhiều hạn chế, hạ tầng cơ sở kém phát triển, điều
kiện thiên nhiên khắc nghiệt và thiên tai xảy ra thường xuyên (trích theo Trần
Lệ Thị Bích Hồng, 2018).
1.1.1.4. Chuẩn nghèo
Chuẩn nghèo là thước đo mức sống của dân cư để phân biệt trong xã hội
ai thuộc diện nghèo và ai không thuộc diện nghèo. Hầu hết chuẩn nghèo dựa
vào thu nhập hoặc chi tiêu. Những người được coi là nghèo khi mức sống của
họ đo qua thu nhập (hoặc chi tiêu) thấp hơn mức tối thiểu chấp nhận được,
tức là thấp hơn chuẩn nghèo (đường nghèo). Những người có mức thu nhập
hoặc chi tiêu ở trên chuẩn này là người không nghèo hoặc đã vượt nghèo,
thoát nghèo. Chuẩn nghèo là công cụ để đo lường và giám sát nghèo đói. Một
thước đo nghèo đói tốt sẽ cho phép đánh giá tác động các chính sách của
Chính phủ tới nghèo đói, cho phép đánh giá nghèo đói theo thời gian, tạo điều
kiện so sánh với các nước khác, và giám sát chi tiêu xã hội theo hướng có lợi
11
cho người nghèo. Cần phân biệt hai loại chuẩn nghèo tuyệt đối và chuẩn
nghèo tương đối.
Chuẩn nghèo tuyệt đối: Là chuẩn tuyệt đối về mức sống được coi là tối
thiểu cần thiết để cá nhân hoặc hộ gia đình có thể tồn tại. Phương pháp chung
để xác định chuẩn nghèo này là sử dụng một rổ các loại lương thực được coi
là cần thiết để đảm bảo mức độ dinh dưỡng tối thiểu cho con người. Do vậy
chuẩn nghèo này gọi là chuẩn nghèo lương thực, thực phẩm và thường là thấp
vì nó không tính đến chi tiêu cho các sản phẩm phi lương thực khác.
Chuẩn nghèo tương đối (chuẩn nghèo chung): Được xác định theo phân
phối thu nhập hoặc tiêu dùng chung trong cả nước để phản ánh tình trạng của
một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng (ví dụ chuẩn
nghèo tương đối có thể là 50% mức thu nhập trung bình của cả nước).
Trên bình diện quốc tế, Ngân hàng Thế giới (WB) đã tính toán chuẩn nghèo
do đó số lượng hộ cận nghèo vẫn rất lớn, tỷ lệ tái nghèo còn cao, hàng năm cứ
03 hộ thoát nghèo thì lại có 01 hộ trong số đó tái nghèo.
Thực tế cho thấy sử dụng tiêu chí thu nhập để đo lường nghèo đói là
không đầy đủ. Về bản chất, đói nghèo đồng nghĩa với việc bị khước từ các
quyền cơ bản của con người, bị đẩy sang lề xã hội chứ không chỉ là thu nhập
thấp. Có nhiều nhu cầu tối thiểu không thể đáp ứng bằng tiền. Nhiều trường
hợp không nghèo về thu nhập nhưng lại khó tiếp cận được các dịch vụ cơ bản
về y tế, giáo dục, thông tin. Mặc dù một số hộ không có tên trong danh sách
hộ nghèo nhưng lại thiếu thốn các dịch vụ y tế, nước sạch, ở vùng sâu vùng xa
học sinh phải học trong những căn nhà lá đơn sơ, bốn bề gió lùa,… Do đó,
nếu chỉ dùng thước đo duy nhất dựa trên thu nhập hay chi tiêu sẽ dẫn đến tình
trạng bỏ sót đối tượng nghèo, dẫn đến sự thiếu công bằng, hiệu quả và bền
vững trong thực thi các chính sách giảm nghèo.
Giống như quá trình phát triển, nghèo đói là một khái niệm đa chiều.
Trong cùng một thời điểm, người nghèo có thể phải đối mặt với nhiều bất lợi
13
khác nhau, có thể là những khó khăn trong khám chữa bệnh, học hành, nhà ở,
đất đai, nước sạch hoặc điện thắp sáng. Sử dụng một tiêu chí thu nhập (hay
chi tiêu) không đủ để nắm bắt được tình trạng nghèo thực tế của người dân.
Đánh giá nghèo cần được tiếp cận rộng hơn từ chiều cạnh phát triển toàn diện
con người. Sau 30 năm đổi mới, phát triển và hội nhập, Việt Nam đã chuyển
từ một quốc gia thu nhập thấp sang nhóm nước có thu nhập trung bình nên
cách tiếp cận đánh giá nghèo đơn chiều theo thu nhập đã bộc lộ những hạn
chế. Đã đến lúc xem xét, đánh giá nghèo từ góc độ đa chiều từ góc độ nghèo
vật chất, nghèo về con người và nghèo về xã hội.
Hiện nay ở nước ta, theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng
chính phủ về Chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 20162020, thì các tiêu chí tiếp cận đo lường nghèo đa chiều gồm tiêu chí về thu
nhập, và mức độ thiếu hụt tiếp cận dịch vụ xã hội cơ bản, cụ thể:
- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức
độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức
độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.
c) Đối với hộ có mức sống trung bình
- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
1.000.000 đồng đến 1.500.000 đồng.
- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên
1.300.000 đồng đến 1.950.000 đồng.
Theo tiêu chí mới, một gia đình được coi là hộ nghèo nghiêm trọng nếu
hộ đó thiếu từ 1/2 tổng số nhu cầu cơ bản trở lên; thiếu từ 1/3 - 1/2 tổng số
nhu cầu sống cơ bản; thiếu từ 1/5 - 1/3 tổng số nhu cầu cơ bản.
Hiện nay, ở huyện Phú Bình và tỉnh Thái Nguyên, chuẩn nghèo được
áp dụng theo Quyết định 59/2015/QĐ-TTg của Thủ tướng chính phủ về