HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC NHTM VỚI CÁC TỔNG CÔNG TY - Pdf 68

HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC NHTM VỚI CÁC TỔNG CÔNG TY
Chương này trình bày những nội dung cơ bản về hoạt động cho vay (hoạt
động cho vay) cuả các NHTM , về mô hình Tổng Công Ty (TCT) và đặc điểm của
hoạt động cho vay các TCT cuả các NHTM. Mục tiêu của chương nhằm tạo cơ sở
của việc đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng cho vay những khách
hàng vay tại Sở giao dịch I - Ngân hàng công thương Việt Nam.
I - HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC NHTM
1. Khái niệm, vai trò hoạt động cho vay của các NHTM
1. 1. Khái niệm
Theo nghĩa thông thường, cho vay là việc chuyển giao một số tiền hay tài
sản nhất định cho người khác sử dụng với điều kiện có hoàn trả lại. Khái niệm phổ
biến này được dùng rộng rãi trong đời sống thường ngày, từ những món tiền hay
tài sản có giá trị lớn cho tới những món tiền lớn hay đồ vật có giá trị nhỏ. Với khái
niệm này, hoạt động cho vay hay quan hệ vay mượn nói chung có 2 đặc điểm
chính là:
- Thứ nhất trong quan hệ ấy, chỉ có sự chuyển giao quyền sử dụng
(tiền, tài sản) mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu các tài sản hay số tiền đó.
- Thứ hai, người cho vay được hoàn trả lại sau một thời gian nhất định theo
sự thoả thuận giữa hai bên người cho vay và người đi vay.
Người cho vay có nhận được một khoản lãi nào không cũng phụ thuộc vào
sự thoả thuận này, và trong đời sống thường ngày không phải bao giờ người cho
vay cũng lấy lãi.
Còn đối với các NHTM hay là các tổ chức tín dụng (TCTD) nói chung thì
cho vay là một nội dung nghiệp vụ, đó là việc NHTM giao cho khách hàng một
khoản tiền nhất định trong một thời gian nhất định với điều kiện là họ phải hoàn trả
lại cùng với một khoản tiền vượt trội đóng vai trò là tiền lãi. Như vậy, ngoài hai
đặc điểm vừa nêu đối với cho vay nói chung, hoạt động cho vay của các NHTM
còn có đặc trưng thứ ba là người cho vay (các NHTM) luôn đòi hỏi một khoản tiền
lãi ngoài khoản tiền gốc mà họ đã cho vay. Với một khoản vay mượn thông
thường, người cho vay có thể không đòi hỏi một khoản lãi nào, điều này có thể
xuất phát từ những mối quan hệ cá nhân, hoặc người cho vay không phải là người

cho vay vẫn cứ là một trong ba hoạt động cơ bản chứng tỏ sự tồn tại của một
NHTM, đó là nhận tiền gửi, cho vay và làm dịch vụ thanh toán.
Nếu như cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM, thì đối
với toàn bộ nền kinh tế quốc dân nó cũng giữ một vị trí thiết yếu không kém. Cùng
với hoạt động nhận tiền gửi, các ngân hàng đã “ tạo tiền ” qua cho vay nền kinh tế .
Các lý thuyết đã chỉ ra phần lớn các khoản vay ngân hàng đều tạo ra các khoản tiền
gửi ngân hàng khác, và như vậy bằng cách cấp một kho tăng khối tiền tệ ản vay,
một khoản tiền gửi mới sẽ được tạo ra ở một ngân hàng nào đó và khối tiền tệ sẽ
tăng lên. Quá trình sẽ diễn ra theo chiều ngược lại khi ngân hàng thu nợ. Tất nhiên,
khả năng tạo tiền của các nước là không giống nhau do tỷ lệ dự trữ ở các NHTM từ
lượng tiền huy động được (gồm cả dự trữ bắt buộc và dự trữ tự nguyện) và tỷ lệ
giữa tiền trong dân là khác nhau, song trong một trừng mực nào đó thì khả năng ấy
cũng phụ thuộc vào khả năng tăng dư nợ cho vay của họ. Mặt khác, hoạt động cho
vay còn làm giảm hệ số giữ tiền mặt trong nền kinh tế, bởi các chủ thể có thể dễ
dàng vay ngân hàng cho các nhu cầu chi tiêu, qua đó làm. Các tác động trên của
hoạt động cho vay tới mức cung tiền được cho bởi công thức:
MS = m. H
m =
Trong đó: MS là mức cung tiền (M
1
)
H là tiền cơ sở
m là số nhân tiền tệ
s là tỷ lệ giữa tiền mặt trong lưu thông và tiền gửi
r là tỷ lệ dự trữ thực tiễn
hoạt động cho vay của các NHTM do đó góp phần thực hiện chính sách tiền
tệ quốc gia. Lãi suất các món vay thường bám rất sát vào mức lãi suất chiết khấu
của ngân hàng Trung ương có tác dụng chi phối lãi suất thị trường tác động tới các
chỉ tiêu lạm phát, rồi tới các biến số vĩ mô khác của nền kinh tế.
hoạt động cho vay của các NHTM cũng tạo điều kiện thực hiện thành công

tiền vay (R) là một loại chi phí hợp lý được trừ ra khỏi lợi nhuận hoạt động khi tính
thuế thu nhập doanh nghiệp. Do vậy, theo công thức tính chi phí vốn bình quân,
doanh nghiệp chỉ phải thực chịu mức lãi suất (1 - t), trong đó Kd là lãi suất tiền vay
và t là thuế suất thuế thu nhập. Tuy vậy, không phải doanh nghiệp sẽ dùng toàn bộ
vốn vay để tài trợ cho hoạt động của mình, bởi thường thì đến một giới hạn nào đó,
các ngân hàng sẽ đòi hỏi lãi suất cao hơn để bù đắp mức rủi ro tăng lên mà họ phải
gánh chịu; Hơn nữa càng sử dụng nhiều nợ vay thì quyền tự chủ kinh doanh của
doanh nghiệp càng bị ảnh hưởng. Như vậy, các doanh nghiệp sẽ cân nhắc một tỷ lệ
vốn vay hợp lý để có một cơ cấu vốn tối ưu, và các NHTM đã giúp các doanh nghiệp
tìm ra một cơ cấu vốn có chi phí rẻ nhất. Trong điều kiện một nền kinh tế mà hệ thống
thị trường còn chưa hoàn chỉnh như ở Việt Nam ta, việc huy động vốn bằng phát hành
cổ phiếu. trái phiếu rất khó khăn, và hơn nữa phần lớn các doanh nghiệp nước ta hiện
nay không phải là công ty cổ phần, thì nguồn vốn vay NHTM lại càng chiếm một tỷ lệ
lớn trong tổng nguồn huy động của doanh nghiệp.
Nhưng để được một ngân hàng cho vay, các doanh nghiệp lại phải có những
điều kiện nhất định. Một điều kiện thường thấy là các doanh nghiệp phải giải trình
tình hình tài chính được thể hiện qua sổ sách kế toán, các báo cáo tài chính, định
kỳ chuyển cho ngân hàng các tài liệu thể hiện hoạt động kinh doanh và sử dụng
vốn vay. Chính bởi vậy nó tạo ra sức ép đối với các doanh nghiệp trong việc thực
hiện hạch toan kinh doanh, góp phần quản lý giám sát nền kinh tế, lành mạnh hoá
môi trường kinh doanh. Sự sẵn có của các khoản cho vay khiến các doanh nghiệp
an tâm hơn về vốn lưu động, có khả năng đầu tư nhiều hơn vào hàng dự trữ nếu
thấy có lợi mà vốn lưu động tự có của họ không đáp ứng nổi. Các khoản cho vay
lãi dài hạn của ngân hàng lại tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư vào tài sản cố
định đầu tư vào sản xuất, cải tiến công nghệ nâng cao năng lực sản xuất. Và dù là
cho vay theo hình thức nào thì lãi suất vốn vay cùng sự kiểm tra giám sát ngân
hàng thúc đâỷ các doanh nghiệp quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả để có lãi hoàn
trả được nợ ngân hàng, tạo uy tín để tiếp tục vay vốn ngân hàng.
Nói tóm lại, cho vay là một hoạt động chủ yếu của các NHTM , qua đó các
NHTM góp phần thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia, cung cấp một trong những

dài hạn mà ngân hàng lập kế hoạch huy động sao cho thoả mãn những nhu cầu đó.
2.2. Theo lĩnh vực đầu tư
Theo cách phân loại này ta có thể chia các khoản cho vay thành:
- Cho vay thương mại và công nghiệp
- Cho vay bất động sản
- Cho vay nông nghiệp
- Cho vay cá nhân
- Cho vay khác
Tuỳ theo điều kiện và yêu cầu quản lý ta có thể chia nhỏ hơn nữa các lĩnh
vực trên để được các loại cho vay với lĩnh vực hẹp hơn. Phân loại các món vay
theo lĩnh vực rất có ý nghĩa trong việc kết hợp giữa đa dạng hoá để giảm rủi ro với
chuyên môn hoá ở mức độ phù hợp. Các NHTM thường dựa vào các lợi thế của
mình (lợi thế về vị trí, về trang thiết bị công nghệ, về quy mô. về đội ngũ cán bộ,...)
để chuyên môn hoá vào một hay một số lĩnh vực nhằm khai thác triệt để các lợi thế
ấy, dự báo tốt về động thái các ngành mình cho vay, khả năng hoàn trả đúng hạn
các khoản vay của khách hàng... Tuy vậy xu hướng của thế giới hiện nay vẫn là
hướng tới các ngân hàng đa năng, trong đó sự chuyên môn hoá diễn ra ở cấp độ các
phòng ban hay bộ phận của ngân hàng. Bằng cách chia các khách hàng vay ra các
lĩnh vực khác nhau, ngân hàng có thể theo dõi động thái của nền kinh tế và từng
lĩnh vực để mở rộng cho vay vào lĩnh vực này hay rút bớt vốn khỏi lĩnh vực kia.
Chẳng hạn khi thị trường bất động sản suy giảm ở các nước Đông Nam Á và Việt
Nam thì các ngân hàng phải có hướng thu hẹp đầu tư vào đối tượng này để chuyển
sang cho vay các đối tượng khác có hiệu quả hơn. Mặt khác trong nền kinh tế thị
trường có sự quản lý của Nhà nước, Chính phủ cũng thường có những ưu đãi với
những lĩnh vực nhất định. Đây cũng là những mối quan tâm thường xuyên của các
NHTM.
2.3. Theo mức độ đảm bảo.
Các ngân hàng có thể cho vay có hay không có đảm bảo tuỳ theo tín nhiệm
cũng như độ rủi ro của phương án xin vay vốn. Từ đảm bảo của khách hàng ở đây
chỉ được hiểu theo nghĩa hẹp là đảm bảo bằng tài sản thế chấp, cầm cố hay bảo

hợp đồng. các khoản trả nợ có thể bằng nhau (trả theo niên kim cố định) hoặc
không bằng nhau tuỳ theo thoả thuận. Thông thường các ngân hàng áp dụng
phương thức trả góp với các khoản cho vay trung dài hạn (TDH) để đâùu tư vào
các dự án mở rộng sản xuất kinh doanh hay đầu tư mới, hay đầu tư vào bất động
sản còn các khoản cho vay hoàn trả một lần lại thường được áp dụng với cho ngắn
hạn hơn. theo quy chế cho vay hiện nay, các khoản cho vay ngắn hạn được cấp hai
hình thức là cho vay theo món và theo hạn mức tíh dụng.
2.5. Theo thành phần kinh tế
Ta cũng có thể phân các khoản cho vay ra thành cho vay DNNN và cho vay
ngoài quốc doanh. Đây là cách phân loại không được nhấn mạnh trong các nền
kinh tế TBCN nhưng đối với nền kinh tế thị trường theo định hướng XHCN ở nước
ta nó lại rất có ý nghĩa thực tiễn. Kinh tế Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; nhà nước
có chính sách khác nhau với từng khu vực kinh tế chẳng hạn việc quy định các
DNNN không cần phải có tài sản thế chấp khi vay vốn tại các NHTMQD, các ưu
tiên và hạn chế khác liên quan tới mở rộng hay thu hẹp tín dụng ngân hàng tới các
thành phần kinh tế nói chung. Mặt khác mỗi thành phần kinh tế lại có những đặc
điểm riêng biệt, và pohải nói một cách công bằng là ngân hàng sẽ có thái độ ứng
xử khác nhau trong hoạt động cho vay các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế
khác nhau. Đây cũng là điều hợp lý. Lưu ý là trong cách phân loại này ta cũng có
thể phân chia chi tiết hơn nữa, chẳng hạn đối với cho vay ngoài quốc doanh, cho
vay cá nhân; cho vay công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần; cho vay
doanh nghiệp tư nhân; cho vay vốn đầu tư nước ngoài. Đối với cho vay DNNN,
bao gồm cho vay các DNNN độc lập và cho vay các Tổng công ty và thành viên
của chúng. Đề tài này sẽ tập trung vào vấn đề mở rộng cho vay các Tổng công ty,
một loại hình DNNN quy mô lớn.
Trên đây là một số cách phân loại các khoản cho vay, và chúng còn có thể
có nhiều cách phân loại khác nữa theo từng yêu cầu quản lý. Mỗi cách phân loại
dựa trên một tiêu thức nhất định do vậy có những ý nghĩa riêng. Các NHTM trên
thực tế sẽ thường áp dụng nhiều cách phân loại đồng thời nhằm đạt hiệu quả nhất
trong hoạt động cho vay cũng như hoạt động của toàn ngân hàng. Tiếp sau đây ta

nghiên cứu, thẩm định. Mục đích của thẩm định tín dụng là xác định khả năng và
ý muốn của người vay trong việc hoàn trả tiền vay phù hợp với các điều khoản của
hợp đồng tín dụng, (hay là ước lượng rủi ro không hoàn trả), từ đó đưa ra quyết
định cho vay hay từ chối, và nếu cho ay thì cho vay bao nhiêu ? Với kỳ hạn và lãi
suất nào? Phương thức cho vay. . . . Khi tiến hàngân hàng thẩm định, ngân hàng
phải trả lời cho hai loại câu hỏi lớn là phải thẩm định cái gì, thẩm định các yếu tố
nào và các nguồn thông tin lấy từ đâu. Chúng ta sẽ đi vào xem xét cách trả lời với
mỗi loại câu hỏi trên.
Trả lời câu hỏi thẩm định cái gì ? Các ngân hàng lại thường chia ra thành
thẩm định các yếu tố về bản thân khách hàng và thẩm định về phương án, dự án
xin vay vốn. Khi thẩm định các yếu tố về bản thân khách hàng , các ngân hàng
thường vận dụng 5 chữ C của Mỹ hay 5 chữ M của Nhật Bản trong các phân tích.
Tựu trung lại chúng bao gồm:
Năng lực vay nợ: Các ngân hàng quan tâm trước tiên đến năng lực pháp lý
và năng lực hành vi dân sự của khách hàng. Là khách hàng cá nhân họ phải là
những công dân đến tuổi trưởng thành nếu không họ phải được cha mẹ hay người
giám hộ bảo lãnh và cùng ký vào đơn xin vay tiền. Đối với các TCKT, ngân hàng
xem xét xem nó có đủ tư cách pháp nhân không, các giấy tờ xác minh tư cách ấy,
tính độc lập và tự chịu trách nhiệm trong đưa ra các quyết định của nó thế nào ? ; ai
là người có thẩm quyền đại diện cho công ty trong quan hệ vay mượn ? Đây là
những yếu tố mà bắt buộc ngân hàng phải xem xét.
Hai là uy tín của khách hàng : Uy tín ở đây không chỉ trong quan hệ của
khách hàng với ngân hàng, mà còn trong các quan hệ tín dụng cũng như kinh tế với
các ngân hàng và đối tác khác. Lịch sử các mối quan hệ này của khách hàng trong
đó có việc thực hiện các hợp đồng tín dụng thường rất có giá trị khi đánh giá uy tín
của họ. Tuy nhiên không phải lúc nào ngân hàng cũng nắm được rõ ràng các yếu tố
này mà còn phải phán đoán sự sẵn lòng trả nợ cũng như sự cố gắng thực hiện hợp
đồng tín dụng. Tất nhiên cũng cần nhận thức rằng không phải bao giờ một khách
hàng có uy tín trong việc vay mượn ở quá khứ cùng chắc chắn thực hiện đầy đủ
các hợp đồng tín dụng. Có điều là trong trường hợp họ không làm như vậy, uy tín

xét trong thẩm định phương án, dự án xin vay. Ở đây, ta có thể nói chung là
CBTD sẽ phải liên tục tổng hợp và phân tích các thông tin về nhịp độ tăng trưởng
kinh tế của đất nước, như tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp, lãi suất chiết khấu của
NHTW, cân đối ngân sách, cân đối thanh toán và tỷ giá hối đoái . . . Cụ thể hơn
nữa, CBTD phải có và phân tích được các thông tin về lĩnh vực hoạt động của
khách hàng. Người ta nói CBTD cũng phải là nhà dự đoán kinh tế cùng chính sách
ở điểm này.
Tiếp đến là thẩm đinh phương án, dự án xin vay: Nếu xét một cách toàn diện
các yếu tố của phương án, dự án xin vay vốn ngân hàng không thể tách rời khỏi
các yếu tố thuộc về bản thân khách hàng vừa xét ở trên bởi một lý do đơn giản là
phương án xin vay vốn nào cũng phải xuất phát từ những khách hàng cụ thể để
thực hiện kế hoạch hay chiến lược phát triển sản xuất kinh doanh (SXKD) của
mình với các điều kiện cụ thể. Bởi vậy, ngân hàng phải xem xem phương án sử
dụng vốn vay có phù hợp với kế hoạch SXKD, tiếp đó là điều kiện thị trường hay
không; các điều kiện để thực hiện thành công phương án, các định mức kinh t ế -
kỹ thuật, các số liệu về thu nhập và chi phí cũng như lợi nhuận dự kiến có hợp lý
không? Điều này xuất phát từ mối quan hệ tay ba ngân hàng - doanh nghiệp - thị
trường. Đối với những yêu cầu xin vay vốn ngắn hạn bổ sung cho vốn lưu động
nguồn trả nợ trực tiếp nhất là doanh thu tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ hình thành từ
nguồn vốn vay. Ngân hàng thường thiết lập một tương quan giữa khoản tiền xin
vay với doanh thu theo kế hoạch và doanh thu thực hiện của phương án SXKD.
Mặc dù tại thời điểm xem xét, doanh thu thực hiện chưa xuất hiện, nhưng ngân
hàng lại phải dự đoán được nó căn cứ vào các thông tin đã có và những dự đoán về
thị trường, doanh thu ấy phụ thuộc trực tiếp vào tiêu thụ, tức là nhu cầu thị trường
và sức cạnh tranh của sản phẩm. Kết hợpvới các yếu tố đã phân tích về bản thân
khách hàng, ngân hàng sẽ rút ra kết luận cho mình về số tiền có thể chấp nhận cho


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status