Hoạt động cho vay của các NHTM với các Tổng Công Ty - Pdf 64

Hoạt động cho vay của các NHTM với các Tổng Công Ty
Chương này trình bày những nội dung cơ bản về hoạt động cho vay
(hoạt động cho vay) cuả các NHTM , về mô hình Tổng Công Ty (TCT) và đặc
điểm của hoạt động cho vay các TCT cuả các NHTM. Mục tiêu của chương
nhằm tạo cơ sở của việc đưa ra các giải pháp và kiến nghị nhằm mở rộng cho
vay những khách hàng vay tại Sở giao dịch I - Ngân hàng công thương Việt
Nam.
I - HOẠT ĐỘNG CHO VAY CỦA CÁC NHTM
1. Khái niệm, vai trò hoạt động cho vay của các NHTM
1. 1. Khái niệm
Theo nghĩa thông thường, cho vay là việc chuyển giao một số tiền hay
tài sản nhất định cho người khác sử dụng với điều kiện có hoàn trả lại. Khái
niệm phổ biến này được dùng rộng rãi trong đời sống thường ngày, từ những
món tiền hay tài sản có giá trị lớn cho tới những món tiền lớn hay đồ vật có giá
trị nhỏ. Với khái niệm này, hoạt động cho vay hay quan hệ vay mượn nói chung
có 2 đặc điểm chính là:
- Thứ nhất trong quan hệ ấy, chỉ có sự chuyển giao quyền sử dụng
(tiền, tài sản) mà không có sự chuyển giao quyền sở hữu các tài sản hay số tiền
đó.
- Thứ hai, người cho vay được hoàn trả lại sau một thời gian nhất định
theo sự thoả thuận giữa hai bên người cho vay và người đi vay.
Người cho vay có nhận được một khoản lãi nào không cũng phụ thuộc
vào sự thoả thuận này, và trong đời sống thường ngày không phải bao giờ
người cho vay cũng lấy lãi.
Còn đối với các NHTM hay là các tổ chức tín dụng (TCTD) nói chung thì
cho vay là một nội dung nghiệp vụ, đó là việc NHTM giao cho khách hàng một
khoản tiền nhất định trong một thời gian nhất định với điều kiện là họ phải
hoàn trả lại cùng với một khoản tiền vượt trội đóng vai trò là tiền lãi. Như vậy,
ngoài hai đặc điểm vừa nêu đối với cho vay nói chung, hoạt động cho vay của
các NHTM còn có đặc trưng thứ ba là người cho vay (các NHTM) luôn đòi hỏi
một khoản tiền lãi ngoài khoản tiền gốc mà họ đã cho vay. Với một khoản vay

phát hiện ra rằng ở một thời điểm bất kỳ các biên lai trình để rút vàng chỉ
chiếm một tỷ lệ nhỏ trong số tiền vàng họ nắm giữ. Nguyên lý này giờ được
mang tên của chính những người phát hiện ra nó, nguyên lý “thợ kim hoàn”,
và nó còn được các chủ ngân hàng áp dụng. Cho tới ngày nay, dù xã hội đã
phát triển với những bước tiến nhảy vọt thì cho vay vẫn cứ là một trong ba
hoạt động cơ bản chứng tỏ sự tồn tại của một NHTM, đó là nhận tiền gửi,
cho vay và làm dịch vụ thanh toán.
Nếu như cho vay luôn là hoạt động quan trọng nhất của các NHTM,
thì đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân nó cũng giữ một vị trí thiết yếu
không kém. Cùng với hoạt động nhận tiền gửi, các ngân hàng đã “ tạo tiền ”
qua cho vay nền kinh tế. Các lý thuyết đã chỉ ra phần lớn các khoản vay ngân
hàng đều tạo ra các khoản tiền gửi ngân hàng khác, và như vậy bằng cách
cấp một kho tăng khối tiền tệ ản vay, một khoản tiền gửi mới sẽ được tạo ra
ở một ngân hàng nào đó và khối tiền tệ sẽ tăng lên. Quá trình sẽ diễn ra theo
chiều ngược lại khi ngân hàng thu nợ. Tất nhiên, khả năng tạo tiền của các
nước là không giống nhau do tỷ lệ dự trữ ở các NHTM từ lượng tiền huy
động được (gồm cả dự trữ bắt buộc và dự trữ tự nguyện) và tỷ lệ giữa tiền
trong dân là khác nhau, song trong một trừng mực nào đó thì khả năng ấy
cũng phụ thuộc vào khả năng tăng dư nợ cho vay của họ. Mặt khác, hoạt
động cho vay còn làm giảm hệ số giữ tiền mặt trong nền kinh tế, bởi các chủ
thể có thể dễ dàng vay ngân hàng cho các nhu cầu chi tiêu, qua đó làm. Các
tác động trên của hoạt động cho vay tới mức cung tiền được cho bởi công
thức:
MS = m. H
m =
Trong đó: MS là mức cung tiền (M
1
)
H là tiền cơ sở
m là số nhân tiền tệ

vốn làm tối đa hoá giá trị thị trường ( hay giá cả cổ phiếu) của công ty đó,
và với cơ cấu vốn tối ưu này thì chi phí vốn bình quân được cho bởi công
thức sau đây là thấp nhất:
WACC = Wd. Kd (1- t) + Wp + WsKs
Trong đó
- WACC là chi phí vốn bình quân
- Wd, Wp, Ws lần lượt là tỷ trọng của nợ vay, vốn huy động từ cổ phiếu
ưu đãi và cổ phiếu thường (hay lợi nhuận giữ lại). Vốn vay có tác dụng
khuyếch đại lợi nhuận qua đòn cân nợ: DFL = . Đòn cân nợ DFL chính là thay
đổi của thu nhập của mỗi cổ phiếu thường thay đổi 1% của lợi nhuận hoạt
động ( EBIT); là lãi suất tiền vay (R) là một loại chi phí hợp lý được trừ ra
khỏi lợi nhuận hoạt động khi tính thuế thu nhập doanh nghiệp. Do vậy, theo
công thức tính chi phí vốn bình quân, doanh nghiệp chỉ phải thực chịu mức
lãi suất (1 - t), trong đó Kd là lãi suất tiền vay và t là thuế suất thuế thu
nhập. Tuy vậy, không phải doanh nghiệp sẽ dùng toàn bộ vốn vay để tài trợ
cho hoạt động của mình, bởi thường thì đến một giới hạn nào đó, các ngân
hàng sẽ đòi hỏi lãi suất cao hơn để bù đắp mức rủi ro tăng lên mà họ phải
gánh chịu; Hơn nữa càng sử dụng nhiều nợ vay thì quyền tự chủ kinh doanh
của doanh nghiệp càng bị ảnh hưởng. Như vậy, các doanh nghiệp sẽ cân nhắc
một tỷ lệ vốn vay hợp lý để có một cơ cấu vốn tối ưu, và các NHTM đã giúp các
doanh nghiệp tìm ra một cơ cấu vốn có chi phí rẻ nhất. Trong điều kiện một nền
kinh tế mà hệ thống thị trường còn chưa hoàn chỉnh như ở Việt Nam ta, việc huy
động vốn bằng phát hành cổ phiếu. trái phiếu rất khó khăn, và hơn nữa phần
lớn các doanh nghiệp nước ta hiện nay không phải là công ty cổ phần, thì nguồn
vốn vay NHTM lại càng chiếm một tỷ lệ lớn trong tổng nguồn huy động của
doanh nghiệp.
Nhưng để được một ngân hàng cho vay, các doanh nghiệp lại phải có
những điều kiện nhất định. Một điều kiện thường thấy là các doanh nghiệp
phải giải trình tình hình tài chính được thể hiện qua sổ sách kế toán, các báo
cáo tài chính, định kỳ chuyển cho ngân hàng các tài liệu thể hiện hoạt động

đối với pháp nhân, không quá 15 năm với cho vay các dự án phục vụ đời
sống. Vậy cũng là một quy định mới vì trước đây (trước khi có quyết định
200/QDNN1 ngày 28/6/2000 ) chúng ta coi cho vay trung hạn có thời hạn
từ 1 - 3 năm, và cho vay dài hạn tới 3- 5 năm. Tất nhiên đây chỉ là sự khác
nhau do quy ước, nhưng nó có tác động lớn tới hoạt động cho vay, bởi vì
điều đó đi kèm với sự quản lý của NHNN.
Phân loại các món vay theo thời hạn là phổ biến của mọi NHTM. Họ sẽ
căn cứ vào đối tượng cho vay mà quyết định loại cho vay cho phù hợp (thuộc
loại ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn, và thời hạn cụ thể), từ đó mà áp dụng
các phương thức kiểm tra, kiểm soát món vay phù hợp. Với cách phân loại
này, các ngân hàng sẽ xây dựng một cơ cấu hợp lý các khoản cho vay ngắn,
trung và dài hạn, từ đó tạo ra cơ cấu kỳ hạn tối ưu của tài sản, phù hợp với
kỳ hạn của nguồn vốn huy động, kết hợp tốt nhất giữa khả năng sinh lời và
khả năng thanh khoản. Ngược lại, cũng căn cứ vào nhu cầu vay vốn của
khách hàng về các món vay ngắn hạn, trung hạn hay dài hạn mà ngân hàng
lập kế hoạch huy động sao cho thoả mãn những nhu cầu đó.
2.2. Theo lĩnh vực đầu tư
Theo cách phân loại này ta có thể chia các khoản cho vay thành:
- Cho vay thương mại và công nghiệp
- Cho vay bất động sản
- Cho vay nông nghiệp
- Cho vay cá nhân
- Cho vay khác
Tuỳ theo điều kiện và yêu cầu quản lý ta có thể chia nhỏ hơn nữa các
lĩnh vực trên để được các loại cho vay với lĩnh vực hẹp hơn. Phân loại các
món vay theo lĩnh vực rất có ý nghĩa trong việc kết hợp giữa đa dạng hoá để
giảm rủi ro với chuyên môn hoá ở mức độ phù hợp. Các NHTM thường dựa
vào các lợi thế của mình (lợi thế về vị trí, về trang thiết bị công nghệ, về quy
mô. về đội ngũ cán bộ,...) để chuyên môn hoá vào một hay một số lĩnh vực
nhằm khai thác triệt để các lợi thế ấy, dự báo tốt về động thái các ngành

Trường hợp khách hàng có tín nhiệm, có tình hình tài chính vững
mạnh và lợi nhuận có được từ dự án sẽ cho vay là khả quan thì ngân hàng
có thể cho vay không cần đảm bảo, điều mà các sở Việt Nam ta gọi là cho vay
tín chấp. Điều đó giải thích tại sao nhiều ngân hàng cấp những khoản cho
vay lớn nhất lại không cần đảm bảo. Đó là các khoản cho vay những khách
hàng chủ yếu, những công ty có quan hệ thường xuyên với ngân hàng, có
tình hình tài chính vững mạnh với lợi nhuận tương đối ổn định bởi hệ thống
quản lý có hiệu quả và các sản phẩm dịch vụ được thị trường sẵn sàng chấp
nhận. Trường hợp này ít nhiều tương tự việc cho vay các tổng công ty ở
nước ta hiện nay. Chúng ta sẽ trở lại vấn đề này ở các phần sau. Như vậy, để
quyết định món vay là có đảm bảo hay không có đảm bảo các ngân hàng
phải dựa vào những yếu tố nhất định như đã phân tích.
2.4. Theo phương pháp hoàn trả
Các khoản cho vay còn có thể được hoàn trả một lần hay trả góp. Cho
vay hoàn trả một lần thì khoản tiền vay được hoàn trả toàn bộ một lần vào
thời gian đáo hạn theo hợp đồng tín dụng, lãi suất có thể được trả theo
những thời hạn nhất định (chẳng hạn theo tháng, theo quý hay năm). Trong
khi ấy, cho vay trả góp đòi hỏi việc hoàn trả theo định kỳ theo nguyên tắc trả
dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng. các khoản trả nợ có thể bằng
nhau (trả theo niên kim cố định) hoặc không bằng nhau tuỳ theo thoả thuận.
Thông thường các ngân hàng áp dụng phương thức trả góp với các khoản
cho vay trung dài hạn (TDH) để đâùu tư vào các dự án mở rộng sản xuất
kinh doanh hay đầu tư mới, hay đầu tư vào bất động sản còn các khoản cho
vay hoàn trả một lần lại thường được áp dụng với cho ngắn hạn hơn. theo
quy chế cho vay hiện nay, các khoản cho vay ngắn hạn được cấp hai hình
thức là cho vay theo món và theo hạn mức tíh dụng.
2.5. Theo thành phần kinh tế
Ta cũng có thể phân các khoản cho vay ra thành cho vay DNNN và cho
vay ngoài quốc doanh. Đây là cách phân loại không được nhấn mạnh trong
các nền kinh tế TBCN nhưng đối với nền kinh tế thị trường theo định hướng

kỳ hạn, phương thức cho vay. . . . mà điều đó được quyết định thế nào phải
do chính ngân hàng dựa theo các giới hạn trên. Do vậy cần phải có một
chính sách cho vay rõ ràng để xác định phương hướng sử dụng vốn được
hình thành từ những cổ đông và người gửi tiền. Chính sách cho vay của ngân
hàng sẽ đóng vai trò hướng dẫn đối với cán bộ tín dụng (CBTD), đơn giản hoá
và thúc đẩy nhanh quá trình ra quyết định, đồng thời hình thành một mức độ
đồng nhất trong hoạt động cho vay. Để làm được điều ấy, chính sách cho vay
của ngân hàng sẽ bao gồm các nội dung từ chiến lược của ngân hàng trong
hoạt động cho vay (mục tiêu, nguyên tắc ưu tiên,....); chế độ, thể lệ tín dụng;
phương pháp thẩm định tín dụng, hồ sơ vay nợ; tổ chức kiểm tra, quản lý việc
thực hiện các hợp đồng tín dụng. Thực tiễn đã chỉ ra rủi ro ngân hàng sẽ tăng
lên nếu nó không có chính sách cho vay, hoặc nếu có nhưng không triển khai
đến toàn bộ những người thực hiện, hoặc nếu chính sách cho vay ấy không
đồng bộ. Việc thực hiện cho vay sẽ là việc áp dụng chính sách cho vay vào hoạt
động thực tiễn. Dưới đây là các bước mà ngân hàng thường trải qua khi cho
vay một khách hàng. (Ở đây do yêu cầu của vấn đề nghiên cứu, người viết sẽ
nhấn mạnh vào các khách hàng là tổ chức kinh tế (TCKT) )
3.1 Tìm kiếm và thẩm định
Các ngân hàng có thể có được yêu cầu vay vốn do khách hàng đưa tới
hoặc chủ động tìm đến với các khách hàng có nhu cầu để đề nghị phục vụ.
Khi đã có yêu cầu xin vay vốn, điều đầu tiên CBTD phải làm là hướng dẫn
khách hàng về thủ tục và điu kiện được xin vay vốn. Nếu khách hàng đã
nhất trí với các điều kiện và thủ tục ấy thì CBTD hướng dẫn họ lập hồ sơ vay
vốn để ngân hàng chính thức nghiên cứu, thẩm định. Mục đích của thẩm
định tín dụng là xác định khả năng và ý muốn của người vay trong việc
hoàn trả tiền vay phù hợp với các điều khoản của hợp đồng tín dụng, (hay là
ước lượng rủi ro không hoàn trả), từ đó đưa ra quyết định cho vay hay từ
chối, và nếu cho ay thì cho vay bao nhiêu ? Với kỳ hạn và lãi suất nào?
Phương thức cho vay. . . . Khi tiến hàngân hàng thẩm định, ngân hàng phải
trả lời cho hai loại câu hỏi lớn là phải thẩm định cái gì, thẩm định các yếu tố

một món vay nào do doanh nghiệp nếu không được đảm bảo bằng vốn kinh
doanh. Vốn kinh doanh là một trong những tiêu chuẩn đo lường sức mạnh
tài chính của khách hàng, và cũng là một yếu tố quyết định tới khối lượng
tín dụng mà ngân hàng sẵn lòng cung cấp. Các ngân hàng còn phải xem xét
khả năng độc lập, tự chủ tài chính trong kinh doanh, khả năng thanh toán
và hoàn trả nợ của người vay. Điều này được thực hiện thông qua phân tích
các chỉ tiêu đặc trưng tài chính của doanh nghiệp như tỷ lệ thanh toán
nhanh; tỷ lệ thanh toán hiện hành; vốn lưu động thực tế chủ sở hữu; vòng
quay vốn lưu động; hệ số tài trợ trong tổng tài sản . . . cũng nhận thấy là
năng lực tài chính của doanh nghiệp, trong đó có yếu tố lợi nhuận, chịu tác
động của nhiều yếu tố nội tại của doanh nghiệp ấy, đó là khả năng quản lý,
khả năng kỹ thuật - công nghệ, sức cạnh tranh. Đây cũng là những đối
tượng trong thẩm định của ngân hàng, và tất nhiên họ sẽ đánh giá cao các
doanh nghiệp có hệ thống quản lý có hiệu lực, cung cấp các sản phẩm, dịch
vụ có sức cạnh tranh tốt trên thị trường.
Bốn là thẩm định tài sản thế chấp, cầm cố (nếu có): Về nguyên tắc
những tài sản đem cầm cố, thế chấp phải thực quyền sở hữu của người vay,
và người vay phải chứng minh được điều đó trước ngân hàng bằng những
tài liệu hợp pháp. Không chỉ như vậy, CBTD còn phải thẩm định giá trị
những tài sản ấy một cách chính xác theo giá cả thị trường hiện tại và giá
trị thanh lý ( thường thấp hơn nhiều giá cả thị trường hiện tại) nếu người
vay không trả nợ, sự biến động về giá cả của những tài sản đó.
Năm là các điều kiện kinh tế: Đây tuy không phải là yếu tố thuộc về
bản thân khách hàng nhưng nó lại tác động tới khả năng trả nợ của khách
hàng với vai trò là môi trường hoạt động của cả các doanh nghiệp và ngân
hàng. Cũng chính bởi vậy, các điều kiện ấy cũng sẽ tác động tới sự thành
công hay thất bại của các phương án, dự án sử dụng vốn vay của khách
hàng, do đó chúng ta sẽ được xem xét trong thẩm định phương án, dự án xin
vay. Ở đây, ta có thể nói chung là CBTD sẽ phải liên tục tổng hợp và phân
tích các thông tin về nhịp độ tăng trưởng kinh tế của đất nước, như tỷ lệ


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status