TÍN DỤNG VÀ VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM AN TOÀN TÍN DỤNG NGÂN HÀNG - Pdf 68

TÍN DỤNG VÀ VẤN ĐỀ BẢO ĐẢM AN TOÀN TÍN DỤNG NGÂN
HÀNG
I. NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG
1. Sự ra đời của Ngân hàng Thương mại:
Ngân hàng Thương mại xuất hiện trước khi có chủ nghĩa tư bản. Ngân hàng
đầu tiên xuất hiện trong lịch sử không phải là Ngân hàng nhà nước (Ngân hàng
phát hành) mà là Ngân hàng thương mại. Nó được hình thành từ những thương
nhân là nghề kinh doanh tiền tệ từ đó họ có thể chuyển từ việc chỉ làm nghề giữ hộ
tiền (vàng) sang đổi tiền hộ và dần họ tiến hành cho vay mà lúc này hoạt động giữ
hộ tiền và thu lệ phí chuyển sang hoạt động huy động vốn tiền tệ thu vốn nhàn rỗi
trong xã hội.
Ngoài 2 nghiệp vụ huy động và cho vay các doanh nghiệp còn tiến hành
nghiệp vụ thanh toán hộ khách hàng và thu lệ phí, khi cả 3 nghiệp vụ nói trên hình
thành đồng bộ thì lúc đó Ngân hàng theo đúng nghĩa là xuất hiện. Sự phát triển của
Ngân hàng phải liền với trình độ xã hội hoá sản xuất...
Ở Việt Nam Ngân hàng quốc gia Việt Nam được thành lập từ 5/1951 ở các
vùng tự do, sau ngày miền Nam giải phóng cả nước tồn tại 1 hệ thống Ngân hàng
nhà nước từ Trung ương đến các chi nhánh tỉnh, thành phố và các chi điểm của
Huyện. Hệ thống Ngân hàng Việt Nam là hệ thống Ngân hàng 1 cấp vừa thực hiện
chức năng quản lý về nhà nước và thực hiện chức năng kinh doanh tiền tệ, tín dụng
.
Hoạt động của Ngân hàng theo mô hình gắn với cơ chế kế hoạch hoá tập
trung quan liêu tất yếu làm nảy sinh nhiều nhược điểm và tỏ ra không phù hợp với
mô hình Ngân hàng hoạt động trong điều kiện kinh tế thị trường sự nghiệp đổi mới
nền kinh tế do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ 6 (12/86) khởi xướng trong đó chủ
trương xoá bỏ cơ chế kế hoạch hoá tập trung quan liêu bao cấp thực hiện theo cơ
chế thị trường có sự quản lý của nhà nước thực hiện chủ trương trên ngành Ngân
hàng tiến hành thí điểm và trên cơ sở thí điểm đã được tổng kết. Hội đồng Bộ
trưởng ra nghị định số 53/HĐBT về tổ chức bộ máy Ngân hàng nhà nước.
Phân định rõ ràng chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, tín dụng và chức
năng kinh doanh tiền tệ của các doanh nghiệp.

1. Nghiệp vụ huy động vốn:
Là nghiệp vụ đầu tiên của các Ngân hàng thương mại nhằm tạo nguồn vốn
làm tiền đề cho vay vốn của Ngân hàng dùng để cho vay vốn gồm:
- Vốn điều lệ là vốn ban đầu khi Ngân hàng được thành lập vốn này, có thể do
Nhà nước cấp (nếu là Ngân hàng quốc doanh) có thể do các cổ đông góp vốn nếu
là Ngân hàng thương mại cổ phần...
Qui mô hay mức vốn điều lệ của Ngân hàng thương mại khi thành lập được
quy định.
- Vốn huy động: loại vốn này chiếm tỷ trọng ngày càng tăng trong nguồn vốn
của Ngân hàng thương mại, vốn được huy động dưới hình thức tiền gửi tiền tiết
kiệm (có kỳ hạn, không kỳ hạn) tiền phát hành trái phiếu, kỳ phiếu theo mức của
Ngân hàng nhà nước cho phép. Trong từng thời gian nhất định Ngân hàng thương
mại được quyền sử dụng có thời hạn và hoàn trả cả vốn, lãi cho chủ sở hữu.
- Vốn tiếp nhận: loại vốn này gồm tài trợ, vốn đầu tư phát triển, uỷ thác đầu tư
để cho vay, theo các chương trình dự án xây dựng cơ bản chung của nhà nước.
- Vốn đi vay: gồm vốn vay của Ngân hàng nhà nước vay vốn của Ngân hàng
nước ngoài, và các tổ chức tín dụng, Ngân hàng thương mại có trách nhiệm sử
dụng đúng mục đích có hiệu quả hoàn trả đúng thời hạn cả gốc và lãi.
- Nghiệp vụ cho vay vốn là nghiệp vụ thông qua đó các nguồn vốn huy động
được đem cho vay nhằm phục vụ yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội.
Tuỳ theo tiêu thức phân loại có các hình thức cho vay khác như cho vay ngắn
hạn, trung và dài hạn, cho vay sản xuất kinh doanh, cho vay thanh toán, cho vay dự
trữ.
- Nghiệp vụ thanh toán là nghiệp vụ của Ngân hàng thương mại thực hiện trên
cơ sở sự uỷ nhiệm của khách hàng trong khâu thanh toán hộ, giữ hộ đòi nợ... thông
qua các hình thức chuyển tiền, thanh toán, chứng từ và phát hành chứng khoán.
* Các nghiệp vụ huy động, cho vay và thanh toán có mối quan hệ với nhau,
cấu thành nội dung hoạt động của Ngân hàng thương mại trong đó nghiệp vụ huy
động vốn là tiền, để phát triển nghiệp vụ cho vay, đến lượt nó, việc cho vay càng
mở rộng sẽ thúc đẩy nghiệp vụ huy động ngày càng tăng lên trong quá trình thực

Vậy có thể nói vốn và sự phát triển kinh tế có độ chính xác hơn so với nói vốn
đối với sự phát triển kinh tế.
Đối với nước ta, tại đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của
Đảng đã chỉ rõ: " để công nghiệp hoá, hiện đại hoá cần huy động nhiều nguồn vốn,
sẵn có với sử dụng vốn có hiệu quả trong đó nguồn vốn trong nước là quyết định,
nguồn vốn bên ngoài là quan trọng..."
Khẳng định rằng nếu ta có quan niệm đúng về vốn thì sẽ giúp ta phát hiện
được những tiềm năng về vốn, cũng từ đó có biện pháp khai thác và sử dụng đem
lại hậu quả với mục tiêu của chúng ta là chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng
công nghiệp hoá, hiện đại hoá thì vốn nước ngoài sẽ tạo ra cú "huých" mạnh mẽ để
nền kinh tế mau chóng cất cánh, nếu xét về vấn đề vốn nước ngoài, trong quan hệ
cung cầu thì cung vốn cho các nước đang phát triển thấp hơn nhiều so với cầu về
vốn của nước đo. Điều này cho thấy chúng ta sẽ gặp phải những đối thủ cạnh tranh
rất lớn mạnh trên lĩnh vực này nếu xem xét về vốn trong quan hệ giữa vốn trong
nước và vốn nước ngoài. Thì qua thực tiễn những năm thực hiện công việc đổi mới
vừa qua cho thấy mức độ "hấp thụ", vốn nước ngoài tuỳ thuộc chủ yếu vào khả
năng nguồn vốn bên trong của nền kinh tế. Sự thật trên cảnh báo sẽ sai lầm nếu kỳ
vọng quá lớn và nguồn vốn bên ngoài trong khi không tận lực khai thác nguồn vốn
sẵn có bên trong...
Tín dụng Ngân hàng đóng vai trò rất lớn trong sự nghiệp phát triển kinh tế -
xã hội chúng ta đều biết rằng muốn phát triển kinh tế thì điều trước hết là phải có
vốn (vốn = tiền) mà để có vốn bằng tiền thì phải có tổ chức có đủ thẩm quyền và
chức năng huy động và tập trung đó trước khi đem sử dụng. Ở bất kỳ quốc gia nào
thì công việc này do hai tổ chức thực hiện:
Tổ chức Tài chính (quỹ tài chính) và tổ chức tín dụng.
Song chủ yếu vẫn là các tổ chức tín dụng. Vì rằng dưới đây Các Mác đã viết
"Một mặt Ngân hàng là sự tập trung tư bản tiền tệ của những người có tiền cho
vay, mặt khác đó là sự tập trung các người đi vay" vậy tín dụng Ngân hàng đã
đóng vai trò quan trọng từ buổi sơ khai đến mô hình Ngân hàng hiện đại ngày nay
với khái niệm ấy đối với riêng trong lĩnh vực tín dụng đã là một vấn đề vô cùng

thể nào đó. Vật thế chấp có thể gồm nhiều loại tài sản như bất động sản, biên nhận
ký gửi hàng hoá, các loại chứng khoán, vật đơn hàng hoá, sổ tiết kiệm...
Yêu cầu cơ bản của vật thế chấp là dễ bảo quản, có chứng từ bảo hiểm cần
thiết và phải bán được.
Yêu cầu món vay phải được bảo đảm chỉ nhằm tạo điều kiện để người cho
vay giảm bớt mất mát trong trường hợp người vay không muốn hay không trả nợ
được. Nó tạo tâm lý yên tâm cho người đi vay.
Tuy vậy bảo đảm không nghĩa là món nợ sẽ đưa hoàn trả bởi lẽ trong trường
hợp thanh lý tài sản thế chấp, tài sản thế chấp có thể bị giảm giá hoặc ép giá, điều
này sẽ khiến nó không đủ vốn trả hết nợ.
* Cho vay không bảo đảm
Khác với cho vay có bảo đảm, cho vay không có bảo đảm được dựa trên tính
liêm khiết và từ tình hình tài chính của người vay, lợi tức có thể có được trong
tương lai và tình hình trả nợ trước đây. Hình thức này thường được Ngân hàng áp
dụng cho các khách hàng lớn và quen thuộc của Ngân hàng trong nhiều trường hợp
còn được hưởng lãi suất ưu đãi. Đó thường là các công ty có cách quản lí hiệu quả,
có các sản phẩm và dịch vụ được thị trường chấp nhận, lợi nhuận ổn định và tình
hình tài chính vững mạnh. Trên thực tế nhiều khoản vay lớn nhất lại được thực
hiện theo hình thức này.
c. Cho vay theo kỳ hạn
Các khoản cho vay của Ngân hàng được phân theo kỳ hạn trường hợp hợp
đồng cho vay: ngắn hạn, trung hạn, dài hạn
Cho vay ngắn hạn: thời hạn tối đa là 12 tháng
Cho vay trung hạn: thời hạn từ 1-3 năm
Cho vay dài hạn: dưới 3 năm
Các khoản vay có thì hạn ngắn thường đáp ứng nhu cầu vốn lưu động của
khách.
Các khoản vay trung và dài hạn thường được áp dụng vào mục đích đầu tư
mua sắm máy móc, mở rộng phạm vi hoạt động.
d. Cho vay theo phương pháp hoàn trả:


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status