(Luận văn thạc sĩ) Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và tưới nước đến năng suất và chất lượng chè trong vụ Đông Xuân tại huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên - Pdf 68

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------------

NGUYỄN VIỆT DUY

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG
BÓN ĐẠM VÀ TƯỚI NƯỚC ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ
CHẤT LƯỢNG CHÈ TRONG VỤ ĐÔNG - XUÂN
TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

LUẬN VĂN THẠC SĨ
KHOA HỌC NÔNG NGHIỆP

Thái Nguyên - 2016


ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
----------------------------------

NGUYỄN VIỆT DUY

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA LIỀU LƯỢNG
BÓN ĐẠM VÀ TƯỚI NƯỚC ĐẾN NĂNG SUẤT VÀ
CHẤT LƯỢNG CHÈ TRONG VỤ ĐÔNG - XUÂN
TẠI HUYỆN ĐỒNG HỶ, TỈNH THÁI NGUYÊN

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng
Mã số ngành: 60.62.01.10


Nguyên - Viện khoa học kỹ thuật Nông Lâm nghiệp miền núi phía Bắc - Trạm
khí tượng thủy văn tỉnh Thái Nguyên - Phòng nông nghiệp và phát triển nông
thôn huyện Đồng Hỷ - Đảng ủy, UBND xã Hòa Bình đã tạo điều kiện và giúp
đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Nhân dịp này, tôi cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới những người thân trong
gia đình, bạn bè đã giúp đỡ động viên và khuyến khích tôi trong suốt thời gian
học tập và hoàn thành luận văn.
Thái Nguyên, tháng năm 2016
Tác giả luận văn

Nguyễn Việt Duy


iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN .................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ....................................................................................................... ii
MỤC LỤC ............................................................................................................ iii
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU .................................................... v
DANH MỤC CÁC BẢNG................................................................................... vi
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ ................................................................................ vii
MỞ ĐẦU .............................................................................................................. 1
1.1. Tính cấp thiết .................................................................................................. 1
1.2. Mục tiêu nghiên cứu ....................................................................................... 3
1.2.1. Mục tiêu....................................................................................................... 3
1.2.2 Các yêu cầu cụ thể........................................................................................ 3
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn........................................................... 3
1.3.1. Ý nghĩa khoa học......................................................................................... 3
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn. ........................................................................................ 3
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU ................................................................ 4

Tài liệu tiếng việt................................................................................................. 60
Tài liệu tiến nước ngoài....................................................................................... 62


v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU

Từ viết tắt

Viết đầy đủ

Đ/c

: Đối chứng

FAO

: Tổ chức Nông nghiệp và lương thực Thế giới

PTNT

: Phát triển nông thôn

QCVN

: Quy chuẩn Việt Nam

WTO

: Tổ chức Thương mại Thế giới

Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến mật độ búp chè LDP1 ....... 42

Bảng 3.7.

Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến khối lượng búp chè LDP1 ..... 44

Bảng 3.8.

Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến khối lượng tươi của chè LDP1. 46

Bảng 3.9.

Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến năng suất thực thu của chè
LDP1 ............................................................................................... 47

Bảng 3.10. Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến độ dày tán chè LDP1 ........ 49
Bảng 3.11. Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến độ dày tầng lá chè LDP1 .. 50
Bảng 3.12. Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến tỷ lệ búp có tôm LDP1...... 51
Bảng 3.13. Ảnh hưởng của nước tưới và đạm đến tỷ lệ búp mù xòe LDP1..... 52
Bảng 3.14. Ảnh hưởng của đạm và nước tưới đến thành phần cơ giới búp ..... 54
Bảng 3.15. Ảnh hưởng của đạm và nước tưới đến một số chỉ tiêu chất lượng
nguyên liệu chè. .............................................................................. 55
Bảng 3.16. Ảnh hưởng của đạm và nước tưới đến diễn biến sâu bệnh hại chè ..... 56
Bảng 3.17. Hiệu quả kinh tế của mô hình thí nghiệm ...................................... 57


vii
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Trang
Hình 3.1.


Hình 3.9.

Tỷ lệ búp có tôm theo lứa. .............................................................. 52

Hình 3.10. Tỷ lệ búp mù xòe theo lứa hái. ....................................................... 53


1
MỞ ĐẦU
1.1. Tính cấp thiết
Cây chè có tên khoa học là Camellia sinensis O.Kuntze. Cây chè và các sản
phẩm của chè đã được các dân tộc trên thế giới biết đến và sử dụng từ lâu đời.
Chè là một thức uống lý tưởng và có nhiều giá trị về dược liệu. Uống chè đã trở
thành tập tục và là nhu cầu văn hoá mang đậm bản sắc của các dân tộc. Trong
dân gian người dân sử dụng chè làm vị thuốc chữa tả lị, sỏi thận, đau dạ dày và
trở thành thức uống giải khát phổ thông cho mọi tầng lớp nhân dân. Ngày nay
con người đã sản xuất nhiều loại chè có tác dụng giải nhiệt, an thần, chè lợi mật,
chè chữa thận… Khoa học hiện đại đã đi sâu nghiên cứu bản chất cây chè và đã
phát hiện ra hàng trăm hoạt chất quý trong chè. Thành phần hoá học chủ yếu của
lá chè là Tanin chiếm 20 - 35%, cafein chiếm 2,5%. Trong lá chè còn chứa nhiều
loại vitamin A, B, K, PP, đặc biệt có rất nhiềuvitamin C. Chính vì vậy chè có tác
dụng tốt trong phòng và chữa bệnh đường ruột, chống nhiễm khuẩn (nhờ Tanin),
có tác dụng lợi tiểu (do Teofilin, Teobromin), kích thích tiêu hoá mỡ, chống béo
phì, chống sâu răng, hôi miệng. Chất Catechin trong chè còn có chức năng
phòng ngừa phóng xạ, ung thư, phòng bệnh huyết áp cao, chống lão hoá.
Thái Nguyên là tỉnh trung du và miền núi phía Bắc có diện tích đồi lớn,
điều kiện đất đai khí hậu phù hợp cho sự sinh trưởng và phát triển của cây chè.
Xưa nay, nói đến trà Việt, người ta nghĩ ngay đến trà Thái Nguyên. Với diện
tích trồng chè khoảng 18.500 ha, đứng thứ 2 cả nước (sau Lâm Đồng), Thái

mất cân đối giữa cung và cầu trên thị trường.
Xuất phát từ những thực trạng nêu trên, chúng tôi nhận thấy rằng việc áp
dụng các biện pháp kỹ thuật để sản xuất chè qua đông tại huyện Đồng Hỷ là có
cơ sở khoa học và thực tiễn. Vì vậy chúng tôi tiến hành đề tài: “Nghiên cứu
ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và tưới nước đến năng suất và chất
lượng chè trong vụ Đông - Xuân tại huyện Đồng Hỷ, Tỉnh Thái Nguyên ”


3
1.2. Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1. Mục tiêu
Xác định liều lượng đạm và tưới nước hợp lý để nâng cao năng suất và chất
lượng chè vụ đông xuân tại huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên .
1.2.2 Các yêu cầu cụ thể
Theo dõi đánh giá ảnh hưởng của liều lượng bón đạm và tưới nước cho cây
chè vụ đông xuân đến các yếu tố cấu thành năng suất và chất lượng cây chè vụ
đông - xuân.
1.3. Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn.
1.3.1. Ý nghĩa khoa học.
Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu khoa học cho công tác nghiên cứu khoa
học, giảng dạy tập huấn ở địa phương. Kết quả nghiên cứu của đề tài là cơ sở xây
dựng quy trình kỹ thuật thâm canh mới trong sản xuất chè vụ Đông - Xuân.
1.3.2. Ý nghĩa thực tiễn.
Thông qua việc nghiên cứu liều lượng bón đạm và tưới nước dến năng
suất và chất lượng chè đông, đề tài sẽ góp phần giải quyết sự mất cân đối giữa
nhu cầu tiêu dùng cao về chè và sự giảm nhanh sản lượng chè trong vụ đông –
xuân, tạo công ăn việc làm, nâng cao hiệu quả kinh tế cho người làm chè...
Đồng thời bước đầu xây dựng quy trình kỹ thuật bón phân cho chè qua đông.



thu hoạch chè, rải vụ chế biến chè, tạo việc làm cho người làm chè vào các
tháng vụ đông – xuân.
Khi tiến hành sản xuất chè vụ đông, cần thay đổi thời gian đốn chè, chuyển
từ đốn theo truyền thống cũ là vào tháng 11, 12 trong năm sang đốn vào thời gian
tháng 4 năm sau (vào chu kỳ nghỉ sinh lý ngắn của cây chè) để tăng thu nhập, rải
vụ chè, giải quyết việc làm cho người dân trong những tháng nông nhàn. Tuy
nhiên, vấn đề sản xuất chè qua đông chỉ áp dụng ở những nương chè có độ dốc
vừa phải, gần nguồn nước tưới hoặc phải xây bể để dự trữ nước tưới cho chè.
Thái Nguyên là một tỉnh trung du miền núi phía Bắc, sản xuất nông nghiệp
chiếm tỷ trọng cao trong nền kinh tế, trong đó cây chè vẫn là cây trồng mũi
nhọn của tỉnh. Hiện nay, vấn đề tăng thu nhập cho người nông dân được Tỉnh
uỷ, Uỷ ban nhân dân tỉnh và các cấp, các ngành đặc biệt quan tâm. Bên cạnh đó
việc ứng dụng các tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất chè còn gặp nhiều khó
khăn do trình độ của người dân chưa đồng đều, ngại thay đổi phương thức canh
tác theo truyền thống cũ.
* Điều kiện sinh thái của cây chè.
- Điều kiện khí hậu:
+ Lượng mưa: Lượng mưa trung bình trong năm thích hợp cho sinh trưởng
của cây chè trên thế giới là 1500- 2000 mm. Ở nước ta lượng mưa trung bình các
vùng trồng chè là 1750- 2500 mm/năm, phù hợp với sinh trưởng cây chè.
Số ngày mưa ảnh hưởng rất lớn đến lao động hái chè, cũng như chế biến
chè. Mưa còn ảnh hưởng đến chất lượng chè, vụ đông- xuân chè có chất lượng
cao, vụ hè thu chè có chất lượng thấp. Mưa phùn, mưa xuân có lợi cho sinh
trưởng của cây chè vì tăng độ ẩm không khí. Mưa ít phân phối đều, xen kẽ vài
ngày nắng thúc đẩy sinh trưởng của cây chè. Độ ẩm không khí tương đối cần
thiết cho cây chè là 80- 85%.


6
+ Nhiệt độ: Nhiệt độ không khí có lợi cho sinh trưởng chè là: 22- 280 c, búp

biện pháp tưới, làm đất giữ ẩm cho chè nhằm khắc phục yếu tố hạn chế lớn nhất
đến cây chè vụ Đông là mưa ít, nhờ vậy mà cây chè sinh trưởng búp thuận lợi
và cho thu hoạch sản lượng.
* Sản xuất chè vụ đông- xuân.
- Đốn chè: Đốn từ 15 đến 30 tháng 4 (đốn vào giai đoạn cây chè có chu kỳ
nghỉ sinh lý ngắn).
- Tưới nước: Là biện pháp quyết định đối với sản xuất chè vụ đông - xuân.
Thời kỳ tưới: Bắt đầu tưới có hiệu quả khi lượng mưa giảm. Ở Thái
Nguyên có thể tưới vào cuối tháng 9 đầu tháng 10 trở đi, kết thúc tưới khi có
mưa rào (tháng 4, tháng 5).
Lượng nước tưới: 600 - 700 m3/ha/tháng, chia làm 3- 4 lần/tháng tương
đương 7- 8 m3/sào/tháng/lần, tháng tưới 3- 4 lần). Lượng nước tưới, số lần tưới
phụ thuộc vào lượng mưa, mưa nhiều thì tưới ít và ngược lại. Tháng 2, tháng 3
hàng năm khi ẩm độ không khí lớn cần tăng lượng nước tưới trong một lần và
giảm số lần tưới/tháng nhằm hạn chế bệnh phồng lá.
- Các biện pháp giữ ẩm: Dùng cuốc lật đất rộng 50- 60 cm giữa hai hàng
chè vào tháng 9, tháng 10 khi bắt đầu tưới và tháng 4, tháng 5 sau đốn.
Tủ giữ ẩm: Vật liệu tủ là rơm, rạ, guột, cỏ dại, cỏ lạc và các sản phẩm phụ
của nông nghiệp như thân ngô, đỗ, cành lá già.
Lượng tủ: 30 tấn/ha (1- 1,1 tấn/sào). Thời gian tủ vào tháng 9, tháng 10 khi
đất còn ẩm, sau khi cuốc lật đất hoặc vào tháng 4, tháng 5 sau đốn.
- Bón phân: Phân hữu cơ bón 20- 30 tấn/ha (0,72- 1,08 tấn/sào). Tùy thuộc
vào khả năng sinh trưởng của nương chè, khả năng cho năng suất của nương
chè mà tính lượng phân vô cơ cho thích hợp.


8
- Phòng trừ sâu bệnh: Sản xuất chè vụ đông- xuân có lợi thế là nhiệt độ
thấp, sâu hại, bệnh phát sinh phát triển chậm. Vì vậy chỉ sử dụng thuốc khi xuất
hiện sâu bệnh hại nặng.

1.2.2. Vai trò của các yếu tố dinh dưỡng
*Dinh dưỡng đạm đối với chè:
Cây chè là cây trồng thu hoạch lá nên đạm là chất dinh dưỡng quan trọng
nhất. Năng suất búp phụ thuộc chặt chẽ vào lượng bón N (Grice, 1982;
Marwaha và Sharma, 1977; Sandanam và Rajasingham, 1987) [25, 26, 27].
Các thí nghiệm tại Trại thí nghiệm chè Phú Hộ cho thấy: Bón đạm làm
tăng năng suất từ 2 – 2,5 lần so với đối chứng không bón [8].
Về phẩm chất: Các tài liệu Ấn Độ, Nhật Bản và Việt Nam đều cho rằng
bón N không hợp lý (bón quá nhiều hoặc bón đơn độc) làm giảm phẩm chất
chè, đặc biệt là sản xuất chè đen. Bón quá nhiều N làm cho hàm lượng tanin,
cafein giảm, protein tăng, hàm lượng ancaloit tăng, chè có vị đắng [8].
Theo dõi của Assam thấy rằng hiệu lực của đạm tăng đều đặn theo thời
gian, hiệu suất 1 kg đạm của lần 1,2, 3, 4 lần lượt là 2, 4, 6, 8 kg chè khô. Ở
Đông Phi cho thấy: Hiệu suất của 1 kg đạm là 4 – 8 kg chè khô, nếu hiệu suất
là < 4 kg chè khô/1 kg đạm thì đã xuất hiện một yếu tố nào khác là lân hay kali.
Theo M.L.Bziava (1973) liều lượng bón đạm tăng, sản lượng búp sẽ tăng,
song để đạt được năng suất 10 tấn/ha thì bón 200 kg N là hiệu quả nhất [8].
* Dinh dưỡng kali đối với cây chè
Kali có trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân, cành và các
bộ phận đang sinh trưởng. Nó tham gia vào quá trình trao đổi chất trong cây
làm tăng khả năng hoạt động của các men, tăng sự tích lũy gluxit, các axitamin
và khả năng giữ nước của tế bào, nâng cao năng suất, chất lượng búp chè, làm


10
tăng khả năng chống bệnh, chịu rét cho chè.
Thiếu kali rìa lá có vết nâu, búp nhỏ, lá nhỏ, rụng lá nhiều. Ở những
nương chè mới trồng, phân bón kali thường có hiệu quả thấp vì trong đất hàm
lượng kali còn cao (khoảng 20 – 25 mg K2O/100g đất) còn đủ nhu cầu dinh
dưỡng cho cây[8].

ở Liên Xô đã khẳng định bón phân lân trên nền N, K làm tăng Catechin trong
búp chè có lợi cho chất lượng chè.
Trong đất nếu hàm lượng P2O5 là 30 – 32 mg/100g đất thì cây chè
sinh trưởng bình thường, nếu là 10 – 12 mg/100g đất thì thiếu lân.
Quy trình bón P2O5 của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt Nam 1988 quy
định 5 năm bón P2O5 1 lần với liều lượng 100 kg/ha bón kết hợp với phân
chuồng sau khi đốn, bón sâu khoảng 20 – 30 cm [8].
* Phân bón hữu cơ cho chè
Đối với chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, nó không những cung
cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho chè mà còn cải thiện lý tính đất như làm cho
đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, làm
tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật học trong đất, làm tăng các thành phần
dinh dưỡng N, P, K và các nguyên tố vi lượng khác trong đất.
Tuy vậy việc sử dụng phân hữu cơ cho chè ít được quan tâm, nhất là đối
với vùng miền núi do địa hình khó vận chuyển, nguồn phân hữu cơ còn hạn chế,
người dân không biết kỹ thuật chế biến phân xanh ủ phân hữu cơ tại chỗ. Bón
phân hữu cơ cho chè có hiệu quả và cần thiết nhất là khi cây chè còn nhỏ và khi
gieo trồng. Do đó khi gieo trồng chè nhất thiết phải bón đầy đủ lượng phân hữu
cơ hoặc trồng xen với các loại cây họ đậu làm tăng lượng chất hữu cơ cho đất.
Theo kết quả nghiên cứu của Viện chè Phú Hộ cho thấy việc bón phân
hữu cơ kết hợp với vô cơ thì năng suất chè sẽ tăng 30 – 32% so với sử dụng
riêng rẽ phân vô cơ [2].


12
Theo quy trình bón phân hữu cơ cho chè của Liên hiệp xí nghiệp chè Việt
Nam quy định: Đối với chè kinh doanh 3 năm bón một lần với lượng 20 – 30
tấn/ha kết hợp với phân lân [8].
Bón phân trả lại cho đất các chất dinh dưỡng mà cây đã lấy đi là rất quan
trọng và cần thiết. Muốn bón phân hiệu quả thì phải bón phân đúng nguyên tắc

- Giai đoạn 5: Giai đoạn chè già, giai đoạn này cây chè đã trải qua thời kỳ
kinh doanh sản xuất, cây chè có biểu hiện già cỗi, năng xuất giảm nhanh chóng.
Căn cứ vào đặc điểm của từng giai đoạn người ta xây dựng các biện pháp
kỹ thuật khác nhau nhằm tạo điều kiện cho cây chè sinh trưởng phát triển tốt, có
khả năng cho năng suất cao, chất lượng tốt, phát huy hết tiềm năng của giống.
Do đó việc đánh giá đặc điểm sinh trưởng phát triển của các giống chè trong
vùng sản xuất có ý nghĩa rất quan trọng.
- Nghiên cứu về sự hình thành các đợt sinh trưởng của cây chè
M.A.Alidatde (1964) cho rằng: Khi trên búp chè có 5 lá thì ở nách các lá thứ
nhất, thứ hai đã có những mầm nách; khi lá thứ 6 xuất hiện thì trên búp chè có
mầm nách thứ ba, khi lá thứ 7 xuất hiện thì trên búp chè có mầm nách thứ tư…,
ông cho rằng khi mầm chè qua đông hai lá đầu tiên bao bọc mầm chè là lá vảy
ốc, tiếp theo là lá cá. Các mầm nách của lá thứ tư và lá thứ năm của đợt sinh
trưởng thứ nhất sẽ phát triển thành búp của đợt sinh trưởng thứ hai (theo
Djemukhatde- 1976) [2].
- Nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè của các tác giả K.E.Bakhơtatde
(1971), KMDjemukhatde (1976) cho rằng: Sự sinh trưởng của búp chè phụ thuộc
vào điều kiện khí hậu. Ở những nước có mùa đông rõ rệt, búp chè sẽ ngừng sinh
trưởng vào mùa đông và nó được phục hồi vào thời kỳ ấm lên. Ngược lại ở những
nước nhiệt đới (quần đảo Giava, Srilanca hay nam Ấn Độ) búp chè sinh trưởng
liên tục, thời vụ thu hoạch búp chè kéo dài quanh năm [2].


14
- Nghiên cứu về sự sinh trưởng của búp chè trong điều kiện có đốn và
không đốn Djemukhatde (1976) đã chỉ ra rằng: Trong điều kiện để giống không
đốn thì các mầm chè phân hóa trong vụ thu, vụ đông sẽ hình thành búp trong vụ
xuân. Trong khi đó ở nương chè có đốn thì sự phân hóa mầm chè chủ yếu được
tiến hành trong vụ xuân.
Tác giả Djemukhatde còn cho thấy: Ở những nương chè hái búp, có đốn sự

đốn thì cây chè sẽ cho búp kém.
- Các kết quả nghiên cứu về loại hình đốn cho thấy: Ở Liên Xô cũ, Trung
Quốc trong điều kiện lạnh thường đốn dạng mâm xôi; ở các nước sứ nóng như
Ấn Độ, Srilanca, Châu Phi thường sử dụng dạng đốn xiên. Ở Zaia khi đốn
người ta thường để lại một cành vượt giữ cho cây chè không bị chết [15].
1.3.1.3. Những kết quả nghiên cứu về giống chè.
Chè là cây lâu năm, giống chè tốt có ý nghĩa cực kỳ quan trọng đối với sản
xuất. Do đó việc nghiên cứu chọn, tạo và sử dụng giống tốt phù hợp cho từng
vùng sản xuất đã được các nhà khoa học quan tâm từ rất sớm.
Năm 1905, Trạm nghiên cứu chè đầu tiên trên thế giới được thành lập trên
đảo Java. Đến năm 1913 Cohen Stuart đã phân loại các nhóm chè dựa theo hình
thái và chọn theo 7 bước gồm: Nghiên cứu vật liệu cơ bản; chọn hạt; lựa chọn
trong vườn ươm; nhân giống hữu tính và vô tính; chọn dòng; lựa chọn tiếp tục
khi thu hái búp ở các dòng chọn lọc; thử nghiệm thế hệ sau như thân, cành, lá,
búp, hoa và quả.
Các nước phát triển chè mạnh đầu tư rất lớn cho việc chọn tạo giống mới:
Ấn Độ từ những năm 50 của thế kỷ trước đã thành công trong việc chọn tạo
ra 110 giống chè tốt trong đó có 102 giống nhân vô tính.
Trung Quốc, từ những năm 50- 60 của thế kỷ trước các tác giả đã đi sâu
nghiên cứu và đánh giá mối tương quan giữa các yếu tố hình thái của cây đối
với sản lượng, chất lượng và tương quan giữa các chỉ tiêu đó đối với nhau, ngày


16
nay đã xác định được 52 giống chè tốt, diện tích giống chè tốt chiếm 25% diện
tích chè của cả nước.
Nhật Bản, Ấn Độ, Srilanca và Trung Quốc đã lần lượt vận dụng kỹ thuật
công nghệ sinh học cho chọn giống chè tốt, đồng thời triển khai dùng phôi non,
là cành non, phấn hoa của cây chè bồi dưỡng thành một cây chè hoàn chỉnh.
Hiện nay cả thế giới có trên 1000 giống chè mới, trong đó các nước sản


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status