LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG VÀ XẾP HẠNG KHÁCH HÀNG - Pdf 69

LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG VÀ XẾP HẠNG
KHÁCH HÀNG
1.1. CƠ SỞ HÌNH THÀNH CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG VÀ XẾP HẠNG
KHÁCH HÀNG
1.1.1. Hoạt động Tín dụng của Ngân hàng Thương mại
1.1.1.1 Khái niệm Tín dụng Ngân hàng
Tín dụng ngân hàng là quan hệ chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ
ngân hàng cho khách hàng trong một thời gian nhất định với một khoản chi phí
nhất định. Có nghĩa ngân hàng là người mô giới giữa những người có vốn nhàn rỗi
với những người có nhu cầu vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường, ngân hàng có
khả năng thu hút hầu hết những nguồn tiền nhàn rỗi trong nền kinh tế để chuyển
giao đúng nơi, đúng lúc, phù hợp với nhu cầu trong sản xuất kinh doanh.
Cũng như quan hệ tín dụng khác, tín dụng ngân hàng chứa đựng ba nội
dụng sau:
- Có sự chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người sở hữu sang cho người
sử dụng.
- Sự chuyển nhượng này có thời hạn hay mang tính tạm thời
- Sự chuyển nhượng này có kèm theo chi phí
1.1.1.2. Vai trò của Tín dụng Ngân hàng
Tín dụng ngân hàng trong thời kì bao cấp được xem là một tổ chức cung
cấp vốn ngân sách, vì vậy thường xảy ra tình trạng nơi cần vốn để sản xuất thì
không có hoặc không kịp thời, nơi thì bị ứ đọng vốn trong một thời gian dài, gây
nên tình trạng lãng phí Vốn. Kể từ khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, thì hầu
như tình trạng đó đã chấm dứt. Với sự cải tổ hệ thống ngân hàng từ một cấp sang
hai cấp, các ngân hàng thương mại lần lượt được thành lập. Theo thời gian hoạt
động ngân hàng ngày càng tích cực và hiệu quả với nội dụng thường xuyên nhận
tiền gửi và sử dụng số tiền này để cấp tín dụng, cung ứng dịch vụ thanh toán.
Vì vậy, ngày nay vai trò của tín dụng không chỉ dừng lại là sự cung cấp
vốn ngân sách, mà nó còn đóng những vai trò quan trọng như sau:
 Thúc đẩy tích tụ và cung cấp vốn cho nền kinh tế.
Hoạt động tín dụng Ngân hàng đáp ứng nhu cầu về vốn cho nền kinh tế

quá trình thực hiện nghiệp vụ tín dụng Ngân hàng đã huy động được nguồn tiết
kiệm trong dân cư và phân phối lại cho các thành phần kinh tế có nhu cầu vốn, tạo
điều kiện cho sự phát triển nền kinh tế. Tất cả mọi quốc gia đều dùng tín dụng
Ngân hàng như là một công cụ hữu hiệu để điều hoà vốn trên phạm vi toàn bộ nền
kinh tế quốc dân
 Công cụ tài trợ cho các thành phần kinh tế kém phát triển và các
ngành mũi nhọn.
Hoạt động chủ yếu của Ngân hàng là huy động nguồn tiền nhàn rỗi trong
nền kinh tế rồi đầu tư trở lại cho các ngành kinh tế cần vốn. Nhưng việc cho vay
Website: Email : Tel : 0918.775.368
2
này không phải trải đều cho các chủ thể có nhu cầu mà viêc đầu tư được thực hiện
qua một quá trình thẩm định kỹ lưỡng. Quá trình này rất quan trọng với các Ngân
hàng, nó mang tính sống còn của Ngân hàng. Vì vậy, Ngân hàng đã đưa ra những
biện pháp chính sách khuyến khích các Ngân hàng thương mại cho vay hỗ trợ các
dự án phát triển Nhà nước thông qua hoạt động tín dụng để từ đó đạt mục tiêu phát
triển kinh tế.
Sự phát triển đa dạng các thành phần kinh tế đã tạo cho nước ta thế và lực
mới, thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế xã hội, bắt đầu sự nghiệp công nghiệp hoá,
hiện đại hoá đất nước. Nhà nước đã tạo ra môi trường thuận lợi để phát huy vai trò
và thế mạnh của từng thành phần kinh tế, song song với các chính sách hỗ trợ các
ngành kinh tế kém phát triển, tập trung phát triển các ngành kinh tế mũi nhọn.
Rủi ro tín dụng phát sinh trong trường hợp ngân hàng không thu được đầy
đủ cả gốc và lãi của khoản vay, hoặc là việc thanh toán nợ gốc và lãi không đúng
kỳ hạn.
1.1.1.3 Rủi ro hoạt động Tín dụng tại các Ngân hàng Thương mại
Theo điều 2/ khoản 1, quyết định số 493/2005/QĐ- NHNN, ngày
22/4/2005 của thống đốc ngân hàng nhà nước: “ Rủi ro tín dụng trong hoạt động
ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân
hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện đủ hoặc không có khả

Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trước đây, rủi ro trong
hoạt động ngân hàng ít được quan tâm nhưng khi chuyển sang nền kinh tế thị
trường với tính chất cạnh tranh khốc liệt thì tình trạng mất khả năng thanh toán,
thất thoát vốn, phát sản luôn luôn là tiềm ẩn. Trong môi trường kinh doanh đầy
biến động, rủi ro đối với các đơn vị, tổ chức vay vốn ngân hàng khó lường trước
được, do đó khiến khả năng xảy ra rủi ro với ngân hàng càng khó dự đoán. Vì thế
nhận biết đầy đủ về rủi ro tín dụng sẽ giúp ngân hàng có biện pháp phòng ngừa kịp
thời, từ đó giảm thiểu tối đa tổn thất cho ngân hàng. Muốn vậy trong quản lý ngân
hàng phải có một phương thức quản lý rủi ro hiệu quả, phải đề ra các biện pháp
theo dỗi và các quy trình nghiệp vụ cụ thể ngăn ngừa phòng chốn rủi ro tín dụng
Website: Email : Tel : 0918.775.368
4
1.2 HỆ THỐNG CHẤM ĐIỂM TÍN DỤNG VÀ XẾP HẠNG KHÁCH
HÀNG
1.2.1 Khái niệm chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng
Chấm điểm tín dụng là quy trình đánh giá khả năng thực hiện nghĩa vụ tài
chính của khách hàng đối với Ngân hàng nhằm xác định rủi ro trong hoạt động cấp
tín dụng của Ngân hàng cho vay thông qua việc phân tích đánh giá, cho điểm và
tổng hợp điểm xếp hạng từ các tiêu thức thuộc hạng mục rủi ro tài chính, và rủi ro
phi tài chính.
Xếp hạng tín dụng về mức độ tín nhiệm đối với trách nhiệm tài chính, hoặc
đánh giá mức độ rủi ro tín dụng phụ thuộc các yếu tố bao gồm năng lực đáp ứng
các cam kết tài chính, khả năng dễ bị vỡ nợ khi các điều kiện kinh doanh thay đổi,
ý thức và thiện chí trả nợ của người đi vay.
1.2.2. Vai trò của Chấm điểm và xếp hạng khách hàng
1.2.2.1. Hệ thống chấm điêm tín dụng và xếp hạng khách hàng giúp các Ngân
hàng giảm thiểu rủi ro tín dụng
Rủi ro trong quá trình phân tích, thẩm định tín dụng và sau khi giải ngân
vốn cho khách hàng là những rủi ro mà ngân hàng dễ gặp phải,và không lường
trước hết những tổn thất mà nó gây ra. Tuy nhiên, từ khi áp dụng hệ thống chấm

hàng dành cho đối lượng khách hàng doanh nghiệp có thể chia thành 5 nhóm như
sau:
Cho vay, Tài khoản, Bảo lãnh, Thanh toán,Dịch vụ khác (như thẻ tín dụng
doanh nghiệp, cho thuê tài chính, bao thanh toán...). Thông qua hệ thống xếp hạng
tín dụng, ngân hàng có thể xây dựng quy trình tín dụng chi tiết, cụ thể cho từng
nhóm khách hàng. Ví dụ: Nhóm khách hàng tốt, có độ rủi ro tín dụng thấp, sẽ
được ưu tiên về lãi suất, phí dịch vụ, hạn mức tín dụng…, trong khi các nhóm
khách hàng có rủi ro tín dụng cao sẽ bị hạn chế tín dụng, cấp tín dụng với lãi suất
cao…với chính sách ưu đãi đối với những khách hàng tốt, giúp ngân hàng cạnh
tranh được với các ngân hàng khác.
1.2.2.3. Hệ thống xếp hạng tín dụng giúp các ngân hàng tiến tới hội nhập quốc tế.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang có những bước chuyển mình rất
lớn để hội nhập và phát triển cùng quốc tế. Đánh dấu bằng sự ra nhập tổ chức
WTO vào năm 2007, đồng nghĩa với việc Việt Nam sẽ có những cơ hội và thách
thức rất lớn, trên tất các các lĩnh vực, các ngành kinh tế. Các thông lệ quốc tế trở
thành các tiêu chuẩn chung để các quốc gia thi hành. Hiệp đinh basel II quy định
các quy tắc giám sát, quản trị và quản lý rủi ro đối với các ngân hàng, mà ngân
hàng nên tuân theo. Hiệp định Basel II đề cập tới vấn đề vốn tự có của tổ chức tín
dụng, các tài sản được điều chỉnh theo mức độ rủi ro trong đó nhấn mạnh tới các
phương pháp để tính mức độ rủi ro tín dụng như phương pháp chuẩn hoá, phương
pháp dựa trên hệ thống đánh giá rủi ro nội bộ. Bằng việc xây dựng hệ thống xếp
hạng tín dụng nội bộ, các ngân hàng có thể ước tính tương đối chính xác mức độ
rủi ro, tổn thất dự kiến, từ đó trích lập dự phòng phù hợp. Như vậy, hệ thống xếp
Website: Email : Tel : 0918.775.368
6
hạng tín dụng giúp các ngân hàng lượng hóa các rủi ro phù hợp với thông lệ, chuẩn
mực quốc tế. Tạo thêm tính cạnh tranh, chuyên nghiệp của ngân hàng trên thị
trường quốc tế.
1.2.3. Nguyên tắc của việc chấm điểm tín dụng và xếp hạng khách hàng
Mục đích chính của hệ thống chấm điểm tín dụng và xếp hạng tín dụng là

hàng. Thông tin đó có thể là tình hình sản xuất kinh doanh, khả năng sử dụng vốn
vào các dự án của khách hàng có đạt hiệu quả hay không…, thứ ba là thông tin từ
điều tra trực tiếp bằng cách ngân hàng có thể trực tiếp xuống thăm quan nhà
xưởng, tiếp xúc với khách hàng, gặp gỡ ban lãnh đạo...đó là những thông tin có độ
chính xác cao. Thứ tư là thông tin từ ngân hàng nhà nước, hay thông tin từ trung
tâm thông tin tín dụng của NHNN (CIC). Thứ năm là thông tin từ các bạn hàng,
đối thủ cạnh tranh của khách hàng…
Website: Email : Tel : 0918.775.368
Bước 1: Thu thập thông tin
Bước 2: Xác định lĩnh vực SXKD của DN
Bước 3: Chấm điểm quy mô tín dụng
Bước 4: Chấm điểm các chỉ số tài chính
Bước 5: Chấm điểm các chỉ số phi tài chính
Bước 6: Tổng hợp và xếp hạng DN
8
Như vậy, khi có nhiều nguồn thông tin khác nhau thì mức độ tin cậy của các
thông tin đó càng cao hơn. Ngân hàng sử dụng nó để phục vụ cho quá trình chấm
điểm tín dụng được hiệu quả.
Bước 2: Xác định ngành nghề lĩnh vực kinh doanh
Nền kinh tế càng phát triển thì các ngành nghề, lĩnh vực kinh doanh càng đa dạng
và phong phú. Phân loại doanh nghiệp dựa và đăng ký của doanh nghiệp trong
giấy phép đăng ký kinh doanh. Mỗi ngành nghề lĩnh vực khác nhau thì có các đặc
điểm khách nhau, điều kiện phát triển khác nhau, chịu sự chi phối khác nhau của
pháp luật, khả năng sinh lời khác nhau. Vì thế cách cho điểm cũng khác nhau.
HIện nay, hệ thống chấm điểm theo ngành nghề, lĩnh vực được phân thành 4 loại
ngành nghề, lĩnh vực sau:
• Nông, lâm và ngư nghiệp
• Thương mại và dịch vụ
• Xây dựng
• Công nghiệp

Chỉ tiêu này là thước đo khả năng thanh toán ngắn hạn của doanh nghiệp, cho biết
mức độ các khoản nợ ngắn hạn có thể được trang trải bằng các tài sản có thể
chuyển được thành tiền trong một khoảng thời gian tương đương với thời hạn của
khoản nợ đó.
Tiền + Khoản tương đương tiền
 Khả năng thanh toán nhanh =
Nợ ngắn hạn
Chỉ tiêu này cho biết, mỗi đồng nợ ngắn hạn phải trả của doanh nghiệp có bao
nhiêu tài sản lưu động có thể huy động ngay để thanh toán.
2, Nhóm chỉ tiêu hoạt động

Doanh thu thuần
 Vòng quay vốn lưu động =
Tài sản lưu động bình quân
Chỉ số này đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp qua việc sử dụng tài
sản lưu động. Tỷ số này được tính bằng cách lấy doanh thu trong một kỳ nhất định
chia cho giá trị bình quân của tài sản lưu động trong cùng kỳ.
Số vòng quay tài sản lưu động còn cho biết mỗi đồng tài sản lưu động đem lại
cho doanh nghiệp bao nhiêu đồng doanh thu.
Doanh thu thuần
Vòng quay các khoản phải thu =
Các khoản phải thu bình quân
Dựa vào vòng quay các khoản phải thu ta xác định được kỳ thu tiền bình quân(lấy
số ngày trong năm chia cho số vòng quay phải thu). Kỳ thu tiền bình quân cho biết
bình quân doanh nghiệp mất bao nhiêu ngày cho một khoản phải thu.
Giá vốn hang bán
 Vòng quay hàng tồn kho =
Website: Email : Tel : 0918.775.368
10


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status