Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Ngô Ngọc Ánh – MT53B
PHẦN I: ĐẶT VẤN ĐỀ
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Rừng là lá phổi xanh của trái đất, là nguồn tài nguyên quý giá của quốc
gia, là thành phần quan trọng của môi trường sống. Sử dụng rừng hợp lý là vấn
đề cơ bản trong lịch sử phát triển của bất kỳ quốc gia nào trên thế giới. Thế
nhưng, theo Quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới (WWF) mỗi năm có đến 13 triệu
ha rừng trên thế giới bị phá hủy.
Đối với nước ta, trong những thập kỷ gần đây, do sự bùng nổ dân số dẫn đến
nhu cầu về nhà ở, lương thực và thực phẩm ngày càng lên cao, gây sức ép đối với
diện tích rừng. Bên cạnh đó, diện tích rừng ngày càng bị thu hẹp lại do bị trưng dụng
sang các mục đích khác trong quá trình phát triển của xã hội. Ở Việt Nam cả nước
có 12,616 triệu ha rừng trong đó rừng tự nhiên là 10,28 triệu ha, còn lại là rừng
trồng (Theo Bộ NN&PTNT. 2005). Cục Kiểm Lâm Việt Nam cho biết chỉ trong
8 tháng đầu năm 2009 diện tích rừng bị thiệt hại là 2.826 ha, trong đó diện tích
bị cháy là hơn 1.500 ha kéo theo sự ảnh hưởng về môi trường sống của nhiều
loại sinh vật sống trong rừng. Nguyên nhân chủ yếu là do cháy rừng, chặt phá
rừng bừa bãi… Với tình trạng diện tích rừng giảm như vậy thì đây là một con số
báo động cho các cơ quan, tổ chức, cá nhân quản lý rừng.
Rừng đặc dụng Hữu Liên được coi là “hàng rào thép” của tỉnh Lạng Sơn,
với tài nguyên sinh vật phong phú và đa dạng là hệ sinh thái rừng trên núi đá vôi
có giá trị cao về đa dạng sinh học với nhiều loài động thực vật quí hiếm: Hoàng
đàn (Cupressus torulosa), nghiến (Buretiondendron tonkinensis), Trai lý
(Garcinia fagraeoides) …; động vật có Hươu xạ (Moschus berezovskii), vọc đen
má trắng (Trachipithecus francoisi), vượn đen tuyền (Hylobates concolor
concolor) … Đặc biệt Hữu Liên là một trong những khu vực phân bố của 2 loài
sinh vật là Hoàng đàn và Hươu xạ. Hai loài này đang bị đe doạ tuyệt chủng
ngoài tự nhiên, rất hiếm gặp ở nơi khác ngoài rừng đặc dụng Hữu Liên.
1
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Ngô Ngọc Ánh – MT53B
Ngoài ra, Hữu Liên có địa hình núi đá vôi hiểm trở, có cảnh quan đẹp đặc
đặc biệt khác.
Rừng đặc dụng là một thành phần của vốn rừng quốc gia được xây dựng
nhằm các mục tiêu sau đây:
+ Bảo tồn các mẫu sinh cảnh rừng khác nhau.
+ Bảo tồn nguồn gen động vật và thực vật rừng.
+ Bảo tồn các khu rừng có giá trị về cảnh quan, về văn hoá, lịch sử và
bảo vệ sức khoẻ.
+ Nghiên cứu khoa học, giáo dục và đào tạo.
Quyết định 186/2006/QĐ-TTg, ngày 14 tháng 8 năm 2006 của Thủ tường Chính
phủ (điều 13) Rừng đặc dụng được phân loại, phân cấp quản lí như sau:
(1) Vườn quốc gia
Vườn quốc gia là khu vực tự nhiên trên đất liền hoặc ở vùng đất ngập
nước, hải đảo, có diện tích đủ lớn được xác lập để bảo tồn một hay nhiều hệ sinh
thái đặc trưng hoặc đại diện không bị tác động hay chỉ bị tác động rất ít từ bên
ngoài; bảo tồn các loài sinh vật đặc hữu hoặc đang nguy cấp. Vườn quốc gia
được quản lý, sử dụng chủ yếu phục vụ cho việc bảo tồn rừng và hệ sinh thái
rừng, nghiên cứu khoa học, giáo dục môi trường và du lịch sinh thái.
(2) Khu bảo tồn thiên nhiên gồm có: khu dự trữ thiên nhiên và khu bảo tồn
loài - sinh cảnh
a) Khu dự trữ thiên nhiên là khu vực có rừng và hệ sinh thái tự nhiên trên đất
liền hoặc ở vùng đất ngập nước, hải đảo, được xác lập để bảo tồn bền vững các
hệ sinh thái chưa hoặc ít bị biến đổi; có các loài sinh vật đặc hữu, quý, hiếm
hoặc đang nguy cấp.
3
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Ngô Ngọc Ánh – MT53B
b) Khu bảo tồn loài - sinh cảnh là khu vực có rừng và hệ sinh thái tự nhiên trên
đất liền hoặc có hợp phần đất ngập nước được xác lập để bảo tồn loài, bảo vệ
môi trường sống nhằm duy trì nơi cư trú và sự tồn tại lâu dài của các loài sinh
vật đặc hữu, quý hiếm hoặc đang nguy cấp.
(3) Khu bảo vệ cảnh quan
2.2.2. Bảo tồn chuyển vị (Ex-situ)
Bảo tồn chuyển vị (bảo tồn ngoại vi) có nghĩa là bảo toàn các bộ phận hợp
thành của đa dạng sinh học ở bên ngoài môi trường sống tự nhiên của chúng
(Công ước đa dạng sinh học).
Bảo tồn chuyển vị là một giải pháp tiếp theo và nó thường được áp dụng
đối với các loài quý hiếm mà giải pháp bảo tồn nguyên vị không khả thi vì sức
ép tuyệt chủng liên tục gia tăng. Bảo tồn chuyển vị có tính bổ sung, hỗ trợ cho
bảo tồn nguyên vị: Những cá thể từ bảo tồn chuyển vị sẽ được chuyển ra môi
trường tự nhiên, tăng cường cho các quần thể được bảo tồn nguyên vị. Quần thể
được bảo tồn chuyển vị có thể cung cấp cá thể phục vụ cho mục đích nghiên
cứu, trưng bày…, giảm sức ép đối với quần thể trong tự nhiên. Hệ thống bảo tồn
nguyên vị bao gồm: Các khu rừng thực nghiệm, nghiên cứu khoa học; vườn cây
thuốc; ngân hàng giống.
Tồn tại đối với công tác bảo tồn ngoại vi ở hiện nay là: Thiếu quy hoạch
tổng thể và quy hoạch chi tiết; công tác sưu tập chưa chú ý đến những loài quý
hiếm; việc đào tạo cán bộ bảo tồn ngoại vi chưa được chú trọng; chưa có chính
sách cụ thể cho công tác bảo tồn ngoại vi.
2.3. Thực trạng xây dựng và quản lý các khu bảo tồn trên thế giới
Năm 1972, Liên hiệp quốc tổ chức Hội nghị bảo vệ Môi trường toàn cầu
lần thứ hai tại Stockhom Thụy Điển. Tại hội nghị này đã thảo luận và thông qua
Công ước Bảo tồn Môi trường tự nhiên. Từ đó thúc đẩy các quốc gia chú ý quan
tâm đến việc thành lập các tổ chức quốc tế và quốc gia, việc quy hoạch và quản
lý bảo tồn thiên nhiên.
5
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Ngô Ngọc Ánh – MT53B
Ngoài ra các tổ chức quốc tế như: IUCN, WWF, MBA và Ủy ban giáo
dục Môi trường và Công viên quốc gia, Ủy ban các VQG đã được thành lập. Từ
đó các hoạt động về bảo tồn thiên nhiên và môi trường đã được xúc tiến mạnh
mẽ hơn. Nhờ đó mà các Khu bảo tồn đã trở thành nơi chủ yếu để bảo tồn những
tài nguyên thiên nhiên hoang dã của quốc gia và trên toàn cầu[5].
Vườn quốc gia 30 1.041.956
Khu bảo tồn thiên nhiên 60 1.184.372
a. Khu dự trữ thiên nhiên 48 1.100.892
b. Khu bảo tồn loài/sinh cảnh 12 83.480
Khu bảo vệ cảnh quan 38 173.764
Tổng cộng: 128 2.400.092
Nguồn: Cục Kiểm lâm và Viện Điều tra quy hoạch rừng, 2006
Điều khó khăn nhất gặp phải trong việc quản lý khu bảo tồn ở Việt Nam
là số dân sinh sống phía ngoài, sát với khu bảo tồn. Nhân dân địa phương đa số
là nghèo, dân số tăng nhanh, dân trí thấp, họ cho rằng việc thành lập khu bảo tồn
không đem lại lợi ích gì cho họ, mà chỉ bị thiệt vì họ không được tự do khai thác
một phần tài nguyên thiên nhiên như trước, họ không hiểu ý nghĩa của vùng đệm
đối với khu bảo tồn; không được cấp trên giao nhiệm vụ và cũng không hướng
dẫn cụ thể về cách quản lý.
Ban quản lý khu bảo tồn gặp nhiều khó khăn trong việc thực hiện nhiệm vụ
bảo vệ vì không đủ cán bộ, đa số cán bộ chưa được đào tạo, luật pháp cũng
không rõ rang, không có hướng dẫn cụ thể, thiếu kinh nghiệm làm việc với dân,
tình hình qua phức tạp, phải liên hệ với nhiều xã, nhiều huyện, nhiều tỉnh và có
khi với cả lâm trường…, thiếu kinh phí, cơ sở hạ tầng kém…
PHẦN III: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.2. Nội dung nghiên cứu
- Tìm hiểu về thực trạng Rừng đặc dụng Hữu Liên.
7
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Ngô Ngọc Ánh – MT53B
- Tìm hiểu về công tác bảo tồn Rừng đặc dụng Hữu Liên hiện nay.
- Đưa ra một số giải pháp khắc phục những hạn chế còn tồn tại trong công tác
bảo tồn Rừng đặc dụng Hữu Liên.
3.4. Phương pháp nghiên cứu.
3.4.1. Nguồn số liệu
- Số liệu thứ cấp: Được thu thập ở các phòng ban chức năng của huyện Hữu
Văn Quan và một phần xã Vạn Linh, huyện Chi Lăng, tỉnh Lạng Sơn
Phía Bắc giáp xã Trấn Yên, huyện Bắc Sơn
Phía Nam giáp phần còn lại của xã Yên Thịnh, Hoà Bình huyện Hữu Lũng.
Phía Đông giáp phần còn lại của xã Hữu Lễ, huyện Văn Quan và Vạn Linh,
huyện Chi Lăng.
Phía Tây giáp xã Nhất Tiến, huyện Bắc Sơn.
4.1.2. Địa hình, địa thế
Khu rừng đặc dụng Hữu Liên - Lạng Sơn thuộc địa hình núi đá vôi, độ cao trung
bình từ 100 -150mm, có nhiều đỉnh cao trên 500m, cao nhất là đỉnh Kheng 639m.
Khu vực có địa hình núi đá vôi hiểm trở, hiện tượng Cacxtơ rất đặc trưng
thể hiện ở các suối ngầm, suối cụt và các hang động.
Địa hình toàn khu vực như hình một lòng chảo, bao bọc xung quanh là các
đỉnh, các dãy núi đá vôi trùng điệp. Khu vực xa đường quốc lộ, xa vùng dân cư,
giao thông đi lại khó khăn, nhưng đây là một thuận lợi cho việc khoanh nuôi bảo
vệ rừng cũng như bảo vệ động vật rừng.
4.1.3. Địa chất, thổ nhưỡng
4.1.3.1. Đá mẹ
Đá mẹ gồm hai loại chính là đá vôi và phiến thạch, trong đó chủ yếu là đá
vôi (chiếm 80%), có hiện tượng Cacxtơ đặc trưng, mức độ phong hoá mạnh.
Vùng núi đất có đá mẹ là phiến thạch sét.
4.1.3.2. Đất
Trong khu vực điều tra gồm có các loại đất chính:
+ Đất Rendeine màu đen, trung tính (pH = 6,5 - 7,5) đến hơi kiềm, tầng đất
mỏng trong các hang hốc, kẽ đá.
+ Đất Feralit màu vàng hay nâu đỏ, tầng đất mỏng, phân bố ở các vùng đồi.
+ Đất phù sa mới: là nhóm đất ven sông suối hay đồng ruộng được phù sa
bồi lấp do lũ lụt, phân bố ven sông suối và trên các cánh đồng.
9
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Ngô Ngọc Ánh – MT53B
4.1.4. Khí hậu
Trong đó, dân tộc Kinh chiếm chủ yếu 54,75%; dân tộc Nùng chiếm 21,0%; dân tộc
Tày chiếm 22,12%; dân tộc Dao chiếm 2,1%,dân tộc Mông chiếm 0,03%.
4.1.6.2. Dân số và lao động (đến tháng 4/2008)
* Dân số, lao động
10
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Ngô Ngọc Ánh – MT53B
Tổng dân số trên địa bàn 5 xã là 3.683 hộ và 18.447 người, sinh sống trong
49 thôn bản, với 10.637 lao động. Mật độ dân số bình quân 70 người/km
2
, cao
nhất là xã Yên Thịnh với 123 người/km
2
, thấp nhất là xã Hữu Liên với 47 người/
km
2
. Và tỷ lệ tăng dân số bình quân hàng năm là 1,05%.
* Phân bố dân cư
Phân bố dân cư trong rừng đặc dụng tập trung chủ yếu ở xã Hữu Liên, hầu
hết các thôn bản đều tập trung ven đường giao thông, nơi bằng phẳng, có điều
kiện canh tác lúa nước. Trong rừng đặc dụng có 12 thôn bản với 648 hộ và 3.131
khẩu, bằng 11,5% tổng dân số ( toàn bộ thuộc xã Hữu Liên). Phân bố dân cư
trong khu vực như sau:
Bảng 4.1 Dân số, lao động, nhân khẩu trong khu vực
TT Tên xã Số thôn Số hộ Nhân khẩu Lao động
Tổng Nam Nữ Tổng Nam Nữ
Tổng 49 3.683 18.447 9.437 9.010 10.637 5.586 5.051
1 Hữu Liên 12 648 3.131 1.549 1.582 2.131 1.165 966
2 Yên Thịnh 8 896 3.934 1.995 1.939 2.243 1.166 1.077
3 Hoà Bình 6 566 2.832 1.472 1.360 1.390 722 668
4 Hữu Lễ 6 504 2.326 1.185 1.141 1.139 592 547
118
507
95
412
744
142
602
Tổng cộng 161 532 776
Nguồn: Ban QLRĐD Hữu Liên(2009), báo cáo tổng kết công tác năm 2009 và kế
hoạch công tác năm 2010
So sánh với một số Vườn Quốc gia và rừng đặc dụng trong vùng núi đá
vôi phía Bắc:
12
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Ngô Ngọc Ánh – MT53B
Bảng 4.3 Thành phần loài thực vật của Khu rừng đặc dụng Hữu Liên với
một số Vườn quốc gia và rừng đặc dụng vùng núi đá vôi phía Bắc
TT Địa điểm Diện tích (ha) Số họ Số chi Số loài
1 Vườn Quốc gia Bạch Mã 22.031 124 351 501
2 Vườn Quốc gia bến En 38.153 134 412 597
3 Khu BTTN Phong Nha- Kẻ Bàng 14.945 140 427 751
4 Khu BTTN Vũ Quang 55.900 11 275 328
5 Khu BTTN Hữu Liên 8.293 161 532 776
Nguồn: Ban QLRĐD Hữu Liên(2009), báo cáo tổng kết công tác năm 2009
và kế hoạch công tác năm 2010
Như vậy, so với các khu bảo tồn và các vườn quốc gia. Thực vật ở khu
rừng đặc dụng Hữu Liên có số lượng khá phong phú về loài cây.
b) Đa dạng loài thực vật
Trong tổng số 776 loài của 161 họ thực vật, chọn ra 10 họ thực vật
có số loài lớn nhất là:
Bảng 4.4 Mười họ thực vật có số loài lớn nhất
Tổng cộng 70
Nguồn: Ban QLRĐD Hữu Liên(2009), báo cáo tổng kết công tác năm 2009
và kế hoạch công tác năm 2010
Từ bảng 4.6 cho thấy: Chi có nhiều loài nhất là chi Ficus 18 loài thuộc họ
Moraceae và chi Ipomoea 8 loài thuộc họ Convolvulaceae. Như vậy, có 10 chi
chiếm gần 1,9% so với tổng số chi của hệ thực vật, nhưng có tới 70 loài chiếm
9,0% tổng số loài của cả hệ thực vật KBT Hữu Liên. Chứng tỏ hệ thực vật rừng
ở đây cũng rất đa dạng về cả chi thực vật.
4.2.2.2. Các kiểu thảm thực vật rừng tại Rừng đặc dụng Hữu Liên
Dựa theo tiêu chuẩn phân loại thảm thực vật của PGS.TS.Thái Văn
Trừng. RĐD Hữu Liên thuộc "Kiểu rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới núi
thấp" miền Bắc Việt Nam.
Hệ thực vật ở đây mang tính chất pha trộn của nhiều luồng thực vật
nhưng đặc trưng cơ bản là luồng thực vật bản địa Bắc Việt Nam - Nam Trung
Hoa, đồng thời cũng chịu nhiều ảnh hưởng của các luồng thực vật khác. Thảm
thực vật trên núi đá vôi RĐD phân bố ở đai thấp < 700m so với mặt nước biển.
Kiểu rừng này có 2 kiểu phụ:
14
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Ngô Ngọc Ánh – MT53B
* Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên đất đá
vôi xương xẩu.
Kiểu rừng này chỉ có một kiểu rừng kín thường xanh trên núi đá vôi
nhưng có nhiều mức độ phát triển khác nhau. Căn cứ vào cấu trúc tầng cây
chính và vị trí phân bố có thể phân chia kiểu rừng này thành các thứ phụ:
+ Thảm thực vật ít bị tác động là rừng kín thường xanh trong các Thung
(Lân), Áng núi đá vôi, rừng kín thường xanh chân, sườn núi đá vôi, rừng kín
thường xanh đỉnh núi đá vôi
+ Thảm thực vật bị tác động:Rừng thứ sinh thường xanh núi đá vôi và
trảng bụi và trảng cỏ thường xanh núi đá vôi
* Kiểu phụ thổ nhưỡng rừng kín thường xanh trên đất phi đá vôi
- Hiện nay, tài nguyên thực vật rừng trong rừng đặc dụng đã có sự thay
đổi nhất định: Số lượng cá thể trong loài đã giảm đi đáng kể (đặc biệt là các loài
quý hiếm)
16
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Ngô Ngọc Ánh – MT53B
4.2.3. Đa dạng động vật tại Rừng đặc dụng Hữu Liên
4.2.3.1. Thành phần loài và tính đa dạng phân loại học
Bảng 4.7 Tổng hợp tài nguyên động vật khu rừng đặc dụng Hữu Liên
Lớp động vật Số bộ Số họ Số loài Số loài quý hiếm
Thú 7 21 61 27
Chim 14 49 239 14
Bò sát 2 13 67 15
Ếch nhái 1 6 42 5
Tổng cộng 24 88 409 61
(Nguồn: Ban QLRĐD Hữu Liên(2009), báo cáo tổng kết công tác năm
2009 và kế hoạch công tác năm 2010)
Tại khu rừng đặc dụng Hữu Liên có 409 loài động vật thuộc 88 họ, 24 bộ,
thuộc các lớp thú, chim, bò sát và ếch nhái, trong đó: Lớp thú có 61 loài thuộc
21 họ, 7 bộ, lớp chim có 239 loài thuộc 49 họ, 14 bộ, lớp bò sát có 67 loài thuộc
12 họ, 1 bộ, lớp ếch nhái có 42 loài thuộc 6 họ, 1 bộ.
Từ kết quả điều tra trên có thể rút ra nhận xét là:
- Tài nguyên Thú: So với tài nguyên thú cả nước có 225 loài , 37 họ, 12
bộ. Tài nguyên thú khu vực có 61 loài chiếm 27,11%, có 21 họ chiếm 56,76%,
có 7 bộ chiếm 58,33% tài nguyên thú cả nước.Như vậy khu vực có tài nguyên
thú đa dạng cao cả về thành phần loài và bộ, họ.
- Tài nguyên Chim: So với tài nguyên chim cả nước có 828 loài, 81 họ,19
bộ, khu vực có 239 loài chiếm 28,86 %, có 49 họ chiếm 60,49%, có 14 bộ chiếm
73,68%. Như vậy khu vực có đa dạng cao về bộ, họ và thành phần loài.
- Tài nguyên Bò sát: So với tài nguyên bò sát cả nước có 296 loài, 23 họ,
3 bộ khu vực có 67 loài chiếm 22,63% có 12 họ chiếm 52,17% có 1 bộ chiếm
sát, ếch nhái.
- Có 203 loài, chiếm 49,6%, có giá trị kinh tế cao, đó là các loài kích
thước lớn có giá trị thực phẩm, dược liệu, da lông làm cảnh và thương mại (Khỉ
vàng; Khỉ mặt đỏ; Vượn đen Đông bắc; Hổ; Gấu ngựa; Gấu chó, Trăn; Tắc kè)
- Có 61 loài có giá trị khoa học, bảo tồn nguồn gen, là những loài có tên
trong Sách Đỏ Việt Nam 2007, Nghị định 32/CP năm 2006, những loài quí hiếm
có giá trị đặc biệt đang bị đe doạ tuyệt chủng cần thiết phải bảo tồn nguồn gen
của chúng.( Danh sách động vật quý hiếm khu RĐD Hữu Liên xem ở phụ biểu 1)
18
Đề tài sinh viên nghiên cứu khoa học Ngô Ngọc Ánh – MT53B
* Giá trị bảo tồn của khu hệ
Từ các kết quả và phân tích trên cho thấy: Khu hệ động vật rừng đặc
dụng Hữu Liên có mức độ đa dạng rất cao về thành phần loài số lượng bộ, họ,
đặc biệt là sự có mặt của một số loài đặc hữu của vùng Đông Bắc, những loài
quý hiếm có giá trị bảo tồn gen, như: Hươu xạ, Voọc đen má trắng, Vượn đen
Đông bắc... Ngoài ra, trong khu vực còn có mặt nhiều loài có giá trị bảo tồn
khác, đó là các loài bị đe doạ tuyệt chủng ở mức độ toàn cầu như: Hổ Đông
Dương, Báo Gấm, Rắn Hổ chúa, Rùa hộp 3 vạch và nhiều loài quý hiếm khác.
* Tình trạng một số loài quý hiếm
+ Hổ (Panthera tigris): là loài rất hiếm trên thế giới cũng như ở Việt
Nam. Nghị định 32/Cp năm 2006 nhóm IB, sách đỏ Việt Nam, 2007 cấp CR,
Danh lục đỏ IUCN, 2007 cấp EN.
Ở nước ta trước đây phân bố khắp các tỉnh có rừng, hiện nay chỉ còn một
vài quần thể nhỏ, phân bố rải rác trong vùng rừng dọc biên giới phía Tây. Tại
Hữu Liên đã ghi nhận nhiều thông tin đáng tin cậy xác nhận còn 1 cá thể tại khu
vực Đồng Lâm và Lân Giếng.
+ Vượn đen Đông Bắc (Nomascus nasutus) là loài vượn rất hiếm, trên thế
giới chỉ có ở Đông Nam Trung Quốc và Đông Bắc Việt Nam, được các nhà
khoa học đặc biệt quan tâm, có tên trong Sách Đỏ Việt Nam, 2007 (cấp EN),
Danh lục Đỏ IUCN, 2007 (cấp CR), ở nước ta hầu như sắp bị tiêu diệt. Theo kết