Tư tưởng giáo dục của edgar morin trong tác phẩm bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai - Pdf 69

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ MINH HÒA

TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA EDGAR MORIN
TRONG TÁC PHẨM “BẢY TRI THỨC TẤT YẾU
CHO NỀN GIÁO DỤC TƢƠNG LAI”

LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Triết học

Hà Nội - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-----------------------------------------------------

NGUYỄN THỊ MINH HÒA

TƢ TƢỞNG GIÁO DỤC CỦA EDGAR MORIN
TRONG TÁC PHẨM “BẢY TRI THỨC TẤT YẾU
CHO NỀN GIÁO DỤC TƢƠNG LAI”

Luận văn Thạc sĩ chuyên ngành Triết học
Mã số: 60 22 03 01

Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Quang Hƣng


EDGAR MORIN TRONG TÁC PHẨM “BẢY TRI THỨC TẤT YẾU
CHO NỀN GIÁO DỤC TƢƠNG LAI”........................................................................ 33
2.1. Tính cấp thiết cải cách giáo dục................................................................................. 33
2.1.1. Thách thức mang tính toàn cầu.................................................................................. 33
2.1.2. Thách thức về phương pháp giáo dục..................................................................... 37
2.2. Mục tiêu của giáo dục....................................................................................................... 42
2. 3. Phƣơng pháp giáo dục................................................................................................... 45
2.4. Nội dung của giáo dục...................................................................................................... 54
2.5. Đánh giá về tƣ tƣởng giáo dục của Edgar Morin......................................... 61
2.5.1. Một vài đánh giá về tư tưởng giáo dục của Edgar Morin...........................61
2.5.2. Vận dụng giá trị của nó cho việc đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay
63
KẾT LUẬN....................................................................................................................................... 71
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................... 74


MỞ ĐẦU
1.

Lý do chọn đề tài

Nhân loại đang bước vào thế kỷ XXI – thế kỷ của nền kinh tế tri thức,
giáo dục - đào tạo được khẳng định là nhân tố, là động lực thúc đẩy sự phát
triển của xã hội. Ở hầu hết các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam,
các chính phủ đều rất coi trọng giáo dục. Sở dĩ như vậy, bởi vì giáo dục là
điều kiện tiên quyết góp phần phát triển kinh tế, góp phần ổn định chính trị xã
hội và hơn hết giáo dục - đào tạo góp phần nâng cao chỉ số phát triển con
người. Giáo dục - đào tạo không chỉ có vai trò quan trọng trên lĩnh vực sản
xuất vật chất mà còn là cơ sở để hình thành nền văn hóa tinh thần. Giáo dục
có tác động vô cùng to lớn trong việc xây dựng ý thức đạo đức, xây dựng nền

chất lượng cao. Tất nhiên nếu thiếu nhân lực tốt thì Việt Nam sẽ tụt hậu,
không thể phát triển được trong một thế giới đang biến đổi từng ngày, đặc biệt
là khi khoa học – công nghệ đang có những bước phát triển vượt bậc. Vì thế,
để có một nền giáo dục tốt, với chương trình sách giáo khoa tối ưu hay một kỳ
thi đánh giá đúng chất lượng học sinh, nhằm khuyến khích cả thầy và trò dạy
tốt, học tốt… trong bối cảnh hiện nay, giáo dục Việt Nam rất cần phải học hỏi,
tiếp thu những kinh nghiệm của những nền giáo dục tiên tiến trên thế giới.
Giáo dục Việt Nam buộc phải tìm cho được giải pháp để đổi mới giáo dục
thành công. Vấn đề cốt lõi là cần đổi mới căn bản triết lý về giáo dục để từ đó
có thể xây dựng chương trình giáo dục đúng đắn, khoa học từ mục tiêu đến
nội dung và phương pháp giáo dục cũng như cơ chế quản lý và điều hành giáo
dục.
Edgar Morin (1921 - ) nhà triết học, nhân học Pháp có tư tưởng giáo
dục được thể hiện hoàn bị thông qua bộ ba tác phẩm sư phạm. Trong đó đặc
biệt phải kể đến “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai” là tác phẩm
viết về những vấn đề chủ yếu của giáo dục với tư duy mới mẻ, độc đáo. Trong
tác phẩm này ông đã đặt nền giáo dục trong một bối cảnh mới đầy biến động,
đưa ra quan niệm về giáo dục: không dạy lý luận, tri thức đơn thuần, nhồi
2


nhét kiến thức mà cần phải dạy cho người học những kỹ năng, khả năng tư
duy. Nội dung của giáo dục không thể xa lạ với con người mà là những gì cơ
bản, thiết thực nhất. Chú trọng việc người học tự tìm tới kiến thức. Triết lý
giáo dục của Edgar Morin đầy tính nhân văn: tất cả vì con người, cho con
người, người học được tôn trọng. Tác phẩm của ông đã thể hiện một chủ
nghĩa nhân văn cao cả, một chủ trương giáo dục đầy tinh thần dân chủ, yêu
thương, tôn trọng nhân phẩm của người học.
Việc nghiên cứu tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương
lai” sẽ góp phần làm sáng tỏ quan niệm cơ bản về giáo dục của Edgar Morin.

Tác phẩm này đã tạo cho tác giả sự nổi tiếng trên thế giới và đã gây sự
chú ý của rất nhiều người. Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu một cách
hệ thống về tác phẩm này là chưa có.
Còn ở Việt Nam, khi nói đến Edgar Morin, người ta dường như chỉ
thường bàn tới tư tưởng triết học về “tư duy phức hợp” của ông chứ chưa thấy
một công trình nghiên cứu khoa học chính thức bàn đến quan niệm của ông về
giáo dục qua tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai”.
Kể từ năm 2008, tác phẩm sau khi dịch ra tiếng Việt và được nhà xuất
bản Tri thức phát hành thì đã có những bài báo giới thiệu về tác giả và tác
phẩm có thể kể đến: Hội thảo về giáo dục với chủ đề “Edgar Morin và triết
học giáo dục” giới thiệu chân dung nhà triết học, nhân học Pháp E.Morin. Có
những phân tích về quan điểm giáo dục của ông.
Bài giới thiệu của Phạm Khiêm Ích về cuốn sách “Liên kết tri thức” do
Edgar Morin chủ biên (Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, 2005) với tiêu đề “Cải
cách giáo dục trước thách đố của thế kỷ XXI” đã nêu lên quan điểm giáo dục
của Edgar Morin thể hiện trong tác phẩm Liên kết tri thức. Bài giới thiệu khá
ngắn gọn về E. Morin trên báo điện tử Đảng Cộng sản Việt Nam ngày
22/5/2008.
Bài viết của Phạm Khiêm Ích “Edgar Morin và triết học giáo dục”
đăng trên tạp chí Thông tin Khoa học Xã hội số 8/2008 trình bày quan điểm
về giáo dục của Edgar Morin một cách khái quát nhưng rất sâu sắc.

4


Tóm lại, về đề tài tư tưởng giáo dục của Edgar Morin trong tác phẩm
“Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai”, hiện nay chưa có công trình
nào nghiên cứu đầy đủ và có hệ thống. Tất cả các công trình đã biết mới dừng
lại ở đánh giá nói chung về tư tưởng giáo dục của ông hoặc giới thiệu cơ bản
về tác phẩm.


Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu tư tưởng giáo dục của Edgar Morin
trong tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục tương lai”. Trong đó


5


tập trung vào các nội dung sau: Sự cần thiết phải cải cách giáo dục, mục tiêu,
phương pháp, nội dung của giáo dục.
5.

Cơ sở lý luận và phƣơng pháp nghiên cứu

Cơ sở lý luận của nghiên cứu được khai triển trên nền tảng các quan
điểm của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan
điểm của Đảng về vấn đề giáo dục và đào tạo con người.
Về phương pháp nghiên cứu: Sử dụng các phương pháp văn bản học,
phương pháp logic – lịch sử, phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp
so sánh, phương pháp thu thập thông tin…
6.

Đóng góp của luận văn

Đây là một tác phẩm khá mới đối với chúng ta. Do vậy, đóng góp lớn
nhất của luận văn là: Nghiên cứu hệ thống hóa những tư tưởng cơ bản về giáo
dục của Edgar Morin trong tác phẩm “Bảy tri thức tất yếu cho nền giáo dục
tương lai”. Góp một phần nhỏ vào việc đi sâu nghiên cứu tư tưởng giáo dục
của Edgar Morin.
Có thể làm tài liệu mang tính tham khảo cho việc học tập và nghiên cứu

triển, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đã xác lập hoàn toàn, cách mạng công
nghiệp hoàn thành đã thúc đẩy nền kinh tế Pháp phát triển. Máy móc được sử
dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp. Ở Pháp diễn ra quá trình tập trung
sản xuất với quy mô lớn, hoạt động tài chính diễn ra mạnh mẽ.
Cuối thế kỷ XIX, công nghiệp Pháp tuy phát triển chậm lại nhưng vẫn
đứng thứ 4 thế giới. Sang đầu thế kỷ XX, các công ty độc quyền ra đời đặc
biệt trong lĩnh vực ngân hàng. Pháp chuyển sang giai đoạn đế quốc. Các
ngành công nghiệp phát triển như chế tạo cơ khí, thiết bị giao thông vận tải.
Pháp là một nước công nghiệp, có số lượng doanh nghiệp lớn, lĩnh vực dịch
7


vụ cũng rất phát triển. Có truyền thống lâu đời trong phát minh công nghiệp,
đội ngũ nghiên cứu có trình độ, đầu tư nhiều cho công tác nghiên cứu phát
triển, năng suất lao động thuộc loại hàng đầu thế giới.
Bên cạnh sự phát triển của công nghiệp, nông nghiệp Pháp vẫn giữ địa
vị quan trọng trong nền kinh tế. Với 2/3 diện tích là đồng bằng và cao nguyên
phì nhiêu thuận lợi cho canh tác, chăn nuôi. Tuy lao động làm việc trong nông
nghiệp rất ít nhưng hàng năm sản lượng hàng nông sản của Pháp là rất cao.
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế trở thành một xu thế phổ biến. Nó đặt
các nước trong bức tranh chung của thế giới, buộc mỗi một quốc gia, dân tộc
không thể khép kín, tự hài lòng với chính mình.
Dưới sự lan tỏa của toàn cầu hóa, mọi lĩnh vực của xã hội đều bị tác
động. Nhìn chung, những tác động này theo chiều hướng tích cực đã làm cho
thế giới “phẳng” và gần nhau hơn. Trong thế giới đó sự phát triển và thành
công của một quốc gia đều ít nhiều có tác động đến các quốc gia khác và
ngược lại. Vì mục tiêu hòa bình và phát triển,các quốc gia không ngừng phấn
đấu vượt qua các vấn đề của khu vực và toàn cầu như biến đổi khí hậu, ô
nhiễm môi trường, xóa đói giảm nghèo, an ninh lương thực, tình trạng thất
nghiệp... Nước Pháp với vị thế cao trên thế giới đã thể hiện được tầm ảnh

giải phóng phong tục, văn hóa, ngôn ngữ, cải tổ đại học, giải phóng nữ quyền,
tình dục, cải thiện điều kiện làm việc và quyền lợi của người lao động… Hay
nói cách khác những đòi hỏi thay đổi cải cách, canh tân đã đánh dấu một giai
đoạn, đánh dấu một sự thay đổi lớn về mặt văn hóa, chính trị và xã hội của thế
kỷ XX ở Pháp.
Về mặt xã hội, nhà nước thực hiện dân chủ hóa mọi hoạt động giáo
dục, văn hóa để mọi công dân Pháp có cùng điều kiện phát triển về thể chất
và tinh thần, vấn đề dân chủ và nhân quyền rất được đề cao tại Pháp.
Nước Pháp rất coi trọng tính cộng đồng và quyền bình đẳng. Mọi người
đều được tự do tôn giáo và mọi hình thức phân biệt đối xử dựa trên tín
ngưỡng hay việc thực hành tôn giáo đều bị cấm. Những tín ngưỡng chủ yếu
9


có mặt ở Pháp là Cơ đốc giáo (Thiên chúa và Tin lành), Hồi giáo và Do thái
giáo. Nhà thờ, đền thờ Hồi giáo, nhà thờ Do thái cùng tồn tại trong hòa bình,
trên tinh thần hòa hợp và tôn trọng lẫn nhau.
Là một trong những cái nôi văn hóa của châu Âu, nền văn hóa Pháp
được xây dựng và phát triển cùng với dòng phát triển lịch sử đất nước. Văn
hóa Pháp đã tồn tại song song với các thời kỳ phát triển rực rỡ nhất, mang tính
cột mốc của nền văn hóa nhân loại: thời kỳ La Mã cổ đại, thời kỳ phong kiến
trung đại và thời kỳ phục hưng, cho đến cuộc cách mạng tư sản vào thời kỳ
hiện đại. Nền văn hóa đồ sộ, độc đáo này vẫn được người Pháp tiếp tục bảo
tồn và gìn giữ cẩn thận.
Pháp được coi là trung tâm văn học – nghệ thuật của châu Âu:
Thừa hưởng nhiều tinh hoa từ nền văn minh Hy Lạp – La Mã cổ đại,
nền văn học, nghệ thuật Pháp thật sự phát triển mang dấu ấn riêng từ khoảng
thế kỷ XIX và phát triển rực rỡ nhất vào đầu thế kỷ XIX. Những tác phẩm văn
học Pháp phản ánh tâm tư, hiện thực xã hội của đất nước này trong từng giai
đoạn, từ đó vẽ nên bức tranh toàn cảnh của xã hội châu Âu. Ngoài ra, nghệ

và khuynh hướng triết học liên tục xuất hiện qua các thời kỳ khác nhau. Một
nền văn hóa như vậy đã có ảnh hưởng sâu sắc đến sự hình thành tư tưởng giáo
dục của Edgar Morin.
Với điều kiện kinh tế - xã hội như vậy đã đặt ra yêu cầu cần phải xây
dựng nền giáo dục tiến bộ tạo điều kiện cho đất nước phát triển. Và việc hình
thành tư tưởng giáo dục của Edgar Morin chính là bắt nguồn từ những yêu
cầu thực tiễn ấy.
Edgar Morin cho rằng cần phải xác định đúng vấn đề và tìm ra giải
pháp để không ngừng đổi mới giáo dục nhằm đáp ứng các yêu cầu của thời
đại. Cần phải khơi dậy ý thức công dân toàn cầu, trân trọng sự đa dạng hóa
trong thế giới đa chiều.
Edgar Morin nhận ra trong một bối cảnh như vậy giáo dục sẽ có sự kết
nối giữa các nước trên thế giới, mở rộng tầm nhìn và bậc thang giá trị vượt ra
11


biên giới quốc gia, dân tộc, hướng tới những chuẩn mực chung, có tính chất
toàn nhân loại, những con người sẽ không bị bó hẹp trong lối suy nghĩ cục bộ
mà cần có tư duy mang tính chất toàn cầu, có tinh thần dân chủ, có khả năng
hợp tác, có thể làm việc trong môi trường quốc tế. Và cần phải xem công cuộc
đổi mới giáo dục và đào tạo trở thành một nhiệm vụ trọng tâm, nhằm tìm ra
hướng đi đúng đắn.
1.2. Tiền đề tƣ tƣởng
Rất nhiều trào lưu tư tưởng lớn ở châu Âu, kể từ thời Hy Lạp cổ đại cho
đến ngày nay đều ít nhiều đề cập đến giáo dục, thậm chí coi nó là đối tượng
hướng tới của mình. Những ưu việt của giáo dục ở các nước châu Âu ngày
nay có thể nói được đóng góp bởi những giá trị được vun xới và chắt chiu bởi
rất nhiều các dòng tư tưởng, được trải nghiệm qua thực tiễn và kinh qua nhiều
thách thức lịch sử. Edgar Morin cũng nằm trong dòng chảy lịch sử ấy, ông
chịu ảnh hưởng của những nhà tư tưởng trước đó. Edgar Morin đã kế thừa,

để mang lại tính cách, cung cách cho con người. Đó là những ý tưởng và lý
tưởng sẽ đào luyện tâm hồn của đứa trẻ, mang lại cấu trúc và dung lượng cho
thế giới tinh thần của nó về sau. Sở dĩ như thế, vì người Hy Lạp biết thoát ly
khỏi mọi mối quan tâm đối với chất liệu để luôn nhìn thấy cái mô thức ở trước
mắt mình, tức, biết đi từ cái vụn vặt đến cái lý tưởng, từ cái đơn giản nhất đến
cái cao cả nhất, từ cái cá lẻ đến toàn bộ vũ trụ, nghĩa là, từ muôn vàn những
văn bản, hãy biết lắng nghe giai điệu của sự tự do. Luôn có trước mắt một
hình dung lý tưởng chứ không chịu để thực tế trước mắt trói chân, tâm hồn Hy
Lạp “bao giờ cũng đi tìm sự tất yếu và cái ý niệm, vứt bỏ hết vô vàn những
cái ngẫu nhiên, bất tất của hiện thực”. Nhìn mọi việc bằng con mắt khinh
khoái như thế, nên mới có thể mỉm cười trong cảnh ngộ đau đớn tột cùng, và
không dễ dàng buông thả trong khoái lạc: “Biến tất cả mọi sự thành
trò chơi, nhưng chỉ theo nghĩa là biết gạt bỏ sự khắc nghiệt của trần gian,
đồng thời giữ vững sự nghiêm chỉnh của lý tưởng”.

13


Đối với Humboldt, dạy tinh thần Hy Lạp không phải là ru trẻ vào giấc
ngủ viễn mơ, hoài cổ, lý tưởng hóa quá khứ, ngoảnh lưng với thực tại. Trái
lại, tinh thần ấy gần gũi hơn hết đối với lý tưởng của ông trong việc đào luyện
con người. Vì tinh thần ấy tránh được cả ba cực đoan: tinh thần của văn hóa
La Mã hướng đến nhà nước và sự cai trị, với xu hướng áp bức cá nhân; tinh
thần khắc nghị của tín ngưỡng Kitô giáo với xu hướng đè nén nhục cảm, và
tinh thần của thời hiện đại hướng đến những công nghệ máy móc và những lợi
ích bề ngoài. Humboldt đồng cảm và chia sẻ với lý tưởng nhân bản của thế hệ
ông: lý tưởng về con người toàn diện như sự thống nhất giữa thể xác và tâm
hồn, giữa nghĩa vụ và xu hướng, giữa lý trí và nhục cảm, giữa thế giới và cá
nhân. Humboldt tập trung vào việc huy động sức mạnh tinh thần và đạo đức
như là giải pháp duy nhất để cứu vãn tình thế.

càng tốt. Nhà nước phải luôn ý thức rằng “họ thực sự không tạo ra hay không
thể tạo ra được các hoạt động trí thức, mà chỉ càng gây cản trở mỗi khi họ
muốn can thiệp vào. Họ nên ý thức rằng sự việc sẽ diễn ra vô cùng tốt đẹp nếu
không có sự can thiệp của họ”.
Tư tưởng cốt lõi của Humboldt về sự tự do giảng dạy và học tập thể
hiện qua câu nói: “Điều gì người ta không tự mình lựa chọn mà bị ép buộc và
điều khiển thì không nhập tâm được, mãi mãi là cái gì xa lạ, và, trong trường
hợp ấy, con người không hành động bằng sức mạnh của con người, trái lại, chỉ
bằng kỹ năng máy móc”.
Humboldt đã xóa bỏ hệ thống trường học có tính đẳng cấp (phong kiến,
quý tộc, và các loại trường dạy nghề quá sớm), tạo điều kiện cho mọi trẻ em
thuộc mọi tầng lớp có cơ hội và điều kiện học tập ngang nhau. Quan trọng
hơn là việc thiết kế nội dung cho hệ thống giảng dạy: chia làm ba cấp học
gồm tiểu học, trung học và đại học, với sự phân biệt rõ rệt ranh giới và tính
chất của mỗi cấp, trong đó đại học có chức năng nghiên cứu và đào tạo trí
thức và dứt khoát không được phép là trường phổ thông cấp bốn. Ông nhấn
mạnh Đại học phải trở lại với nghĩa nguyên thủy của nó là universitas (theo
15


Hiến chương thành lập Đại học Vienna năm 1365) gồm hai bộ phận là nghiên
cứu và giảng dạy tri thức trong tính phổ quát của nó (universitas litterarum) và
hình thành một cộng đồng khoa học giữa thầy và trò (universitas magistorum
cum studentorum). Vì tri thức chỉ có thể có thông qua đối thoại, trao đổi.
Yếu tố trung tâm trong triết lý giáo dục của Humboldt là việc đào luyện
(Bildung) nhân cách một cách toàn diện và khuyến khích phát triển cá tính
thông qua việc đào tạo (văn hóa) tổng quát. Lý thuyết giáo dục tân-nhân bản
này kiên quyết không nhượng bộ trước áp lực của mọi thế lực chính trị và
kinh tế, khẳng định nhiệm vụ then chốt của nhà trường là “đào tạo con người
còn nhỏ trở thành con người trưởng thành. Yêu cầu này rõ ràng bị thực tế thử

Triết học giáo dục của John Dewey ra đời trong bối cảnh lịch sử của
nước Mỹ đầu thế kỷ XX. Dewey đã dành rất nhiều tâm huyết của mình cho sự
nghiệp xây dựng một nền giáo dục dân chủ, vì lợi ích to lớn của con người, vì
sự tiến bộ của người học, vì sự phát huy trí tuệ, đạo đức nơi mỗi cá nhân con
người, nhằm xây dựng một xã hội thực sự tốt đẹp.
J.Dewey đã đối lập tư tưởng giáo dục của ông với giáo dục của nhà
trường truyền thống với nhiều điểm lạc hậu của nó. Từ đó J.Dewey bắt đầu đi
vào đặt vấn đề: Triết học giáo dục là một nỗ lực nhằm tìm ra giáo dục là gì?
Giáo dục diễn ra như thế nào? Để trả lời câu hỏi ấy Dewey đã xuất phát từ căn
cứ khoa học với sinh vật học và tâm lý học chức năng. Ông cho rằng trước khi
chúng ta có thể phát biểu một triết lý giáo dục, chúng ta buộc phải hiểu được
bản tính con người được cấu tạo như thế nào trong cụ thể, chúng ta buộc phải
hiểu được những hoạt động của những ảnh hưởng xã hội có thực. Rõ ràng, J.
Dewey đã chú ý đến hai yếu tố tương tác với nhau để cho những kết quả giáo
dục. Đó là yếu tố cá nhân và yếu tố môi trường xã hội. Trong hoạt động tương
tác ấy, những nguyên liệu cơ bản được biến thành điều gì đó mang ý nghĩa to
lớn hơn. Và trong tiểu luận “Nhu cầu về một triết học giáo
17


dục”: ông cho rằng giáo dục là một quá trình của phát triển, của tăng trưởng,
tăng trưởng xã hội trên cơ sở cá nhân. Mục tiêu của giáo dục là phát triển tối
đa những tiềm năng cá nhân. Quá trình giáo dục là quá trình hoạt động của
con người trong một xã hội. Đó là một xã hội của những cá nhân tự do trong
đó tất cả bằng lao động của riêng mình đóng góp cho sự khai phóng và làm
phong phú cuộc sống của người khác, chính là môi trường duy nhất để mọi cá
nhân có thể thực sự phát triển bình thường xứng với tầm của mình.
Trong triết lý giáo dục của John Dewey, tư tưởng khoa học đã làm cơ sở
thật vững chắc để ông tiến tới tư tưởng dân chủ trong giáo dục - một triết lý
gắn với thực tiễn của thời đại, đồng thời là một triết lý tiến bộ nói lên được

đồng dân chủ, trong đó mọi hoạt động được tập trung nhằm tạo ra hiệu quả
cao nhất trong việc chia sẻ cho người học di sản tri thức nhân loại và làm cho
họ có thể sử dụng tài năng của mình vào mục đích xã hội. Vì thế giáo dục là
một hoạt động của đời sống, là bản thân quá trình sống của trẻ em chứ không
phải là một sự chuẩn bị cho một cuộc sống tương lai đầy mơ hồ nào đấy.
Nhà trường có nhiệm vụ tạo ra những điều kiện tốt nhất để cá nhân
người học phát huy hết năng lực của mình, tạo dựng kiến thức cho mình bằng
toàn bộ công cụ của chính mình như: đôi mắt, đôi tai, đôi tay, đặc biệt là tư
duy. Tóm lại, người học có thể phát triển toàn vẹn mọi khả năng của mình để
tham gia vào đời sống xã hội.
Không có nội dung hay giá trị tự thân tuyệt đối nào từ bên ngoài được
mang áp đặt cho người học. Nhà trường và giáo viên phải tạo ra một môi
trường trong đó những hoạt động của trẻ chứa đựng cả những tình huống khó
khăn. Từ đó, người học tự tìm tòi và xây dựng kiến thức thông qua kinh
nghiệm và tư duy, thông qua trải nghiệm của chính bản thân.
Người học là mục đích tồn tại của hoạt động giáo dục. Người học phải
liên tục được khuyến khích tham gia vào các hoạt động của nhà trường, họ
phải thực sự là người cộng tác để lên kế hoạch cho chương trình học và do đó
lên kế hoạch cho toàn bộ môi trường học. Qua hoạt động của nhà trường, học
19


sinh tham gia vào những phương pháp khoa học và thủ tục dân chủ. Học sinh
thực sự tham gia vào việc sáng tạo, duy trì một đời sống xã hội trong cộng
đồng lớp học ở trong nhà trường.
Người giáo viên đóng vai trò là tác nhân quan trọng bậc nhất cho sự
khai phóng của người học. Giáo viên không phải là người có “quyền uy ban
phát” kiến thức, không phải là một vị quan tòa, mà chính là một thành viên
trong cộng đồng lớp học. Giáo viên có nhiệm vụ là môt tác nhân kích thích.
Bằng việc cung cấp vật liệu, tổ chức, gợi ý, hướng dẫn giáo viên có thể tạo ra


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status