BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA JOHN DEWEY
TRONG TÁC PHẨM “DÂN CHỦ VÀ GIÁO DỤC”
VÀ GIÁ TRỊ VẬN DỤNG TRONG VIỆC ĐỔI MỚI
GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
2
NGHỆ AN, 2015
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH
NGUYỄN THỊ KIM DUNG
TƯ TƯỞNG GIÁO DỤC CỦA JOHN DEWEY
TRONG TÁC PHẨM “DÂN CHỦ VÀ GIÁO DỤC”
VÀ GIÁ TRỊ VẬN DỤNG TRONG VIỆC ĐỔI MỚI
GIÁO DỤC VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành: LL&PPDHBM GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ
Mã số: 601401.11
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Đinh Thế Định
2
3
MỤC LỤC
Trang
Lời cảm ơn.............................................................................................................2
Mục lục..................................................................................................................3
A. MỞ ĐẦU..........................................................................................................4
B. NỘI DUNG....................................................................................................10
Chương 1. John Dewey và những tiền đề hình thành tư tưởng giáo dục của
John Dewey........................................................................................................10
1.1. Khái lược về cuộc đời, sự nghiệp, và tác phẩm “Dân chủ và giáo dục” của J.
Dewey......................................................................................................................
1.2. Những tiền đề hình thành tư tưởng giáo dục của J. Dewey.........................22
Chương 2. Nội dung cơ bản của tư tưởng giáo dục John Dewey trong tác
phẩm “Dân chủ và giáo dục”............................................................................35
2.1. Bản chất, mục tiêu và nội dung của giáo dục trong tác phẩm “Dân chủ và
Giáo Dục” của J. Dewey.....................................................................................35
2.2. Quan niệm của J. Dewey về phương pháp giáo dục trong tác phẩm “Dân
chủ và Giáo dục”.................................................................................................45
2.3. Quan niệm về giáo dục trong xã hội dân chủ trong tác phẩm “Dân chủ và
Giáo dục” của J. Dewey......................................................................................51
Chương 3. Giá trị vận dụng quan điểm của John Dewey trong tác phẩm
“Dân chủ và Giáo dục” trong việc đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay..65
3.1. Sự cần thiết phải đổi mới giáo dục ở Việt nam hiện nay.............................65
3.2. Quan điểm của J. Dewey trong tác phẩm “Dân chủ và Giáo dục” với việc
đổi mới giáo dục ở Việt Nam hiện nay................................................................75
C. KẾT LUẬN...................................................................................................94
D. DANH MỤC CÁC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ.................................96
thách thức.
Nhận thức rõ được yêu cầu, đòi hỏi của tình hình mới, Cương lĩnh xây
dựng đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (Bổ sung, phát triển 2011)
được thông qua tại Đại hội XI của Đảng nhấn mạnh: “Giáo dục và đào tạo,
khoa học và công nghệ có sức mạnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân
4
5
lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền
văn hoá và con người Việt Nam. Phát triển giáo dục và đào tạo cùng với phát
triển khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu; đầu tư cho giáo dục và đào
tạo là đầu tư phát triển”, giáo dục là động lực phát triển, thực hiện công cuộc
công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
Cải cách, đổi mới giáo dục có ý nghĩa vô cùng quan trọng đối với toàn bộ
hệ thống giáo dục quốc dân trong việc trực tiếp giáo dục và đào tạo ra nguồn
nhân lực trẻ - những chủ nhân tương lai của đất nước. Tuy nhiên, cải cách và đổi
mới một nền giáo dục phải dựa trên tính khoa học, phù hợp, không đánh mất bản
sắc dân tộc mà vẫn mang giá trị thời đại, đây thực sự là một yêu cầu không hề dễ
dàng đáp ứng.
Thực tế, cải cách và đổi mới giáo dục nước ta trong nhiều thập kỷ qua đã
có những thành tựu đáng kể. Tuy nhiên, đổi mới giáo dục hiện nay của đất nước
còn gặp nhiều khó khăn, hạn chế, đặc biệt trong xây dựng nền tảng lý luận cho
một triết lý giáo dục, do đó việc tham khảo các nhà triết học giáo dục với triết lý
giáo dục, tiên tiến, đã thành công, được kiểm nghiệm trong thực tiễn, ảnh hưởng
sâu rộng trên thế giới và những giá trị có thể đem vào vận dụng của nó là rất cần
thiết và hữu ích. Đảng và Nhà nước ta cũng đã xác định việc “kế thừa, phát huy
những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu có chọn lọc kinh
Giáo dục luôn là đề tài hấp dẫn và mang tầm chiến lược lâu dài cho việc
nghiên cứu. Ngày nay, khi toàn xã hội bước vào nền kinh tế tri thức, cạnh tranh
bằng chất xám, vấn đề giáo dục lại được quan tâm đặc biệt hơn nữa ở bất cứ
quốc gia nào thì nghiên cứu nó càng quan trọng hơn. Không còn quá mới mẻ với
độc giả, tuy nhiên hiện nay vẫn chưa có một tác phẩm nghiên cứu hệ thống,
thuần túy về tư tưởng giáo dục của J. Dewey mà đặc biệt là tư tưởng giáo dục
trong Dân chủ và giáo dục. Về cơ bản, có những công trình trong nước và nước
ngoài như sau:
Cuốn Mấy trào lưu triết học phương Tây của Phạm Minh Lăng (Nxb. Đại
học và Trung học chuyên nghiệp, Hà Nội, 1984). Trong tác phẩm này, tác giả đã
đề cập đến thực dụng luận như là một trong ba trào lưu triết học phương Tây
hiện đại.
Cuốn Lịch sử triết học phương Tây và Triết học Mỹ do Bùi Đăng Duy và
6
7
Nguyễn Tiến Dũng đồng tác giả (Nxb. Tổng hợp thành phố Hồ Chí Minh, 2006)
nói đến tư tưởng giáo dục của J. Dewey một phương tiện để hình thành giá trị
đạo đức, xây dựng dân chủ trong xã hội nhưng còn chung chung.
Đại cương lịch sử triết học phương Tây hiện đại cuối thế kỷ XIX – nửa
đầu thế kỷ XX (Nxb. Tổng hợp TP Hồ Chí Minh, 2008) của Đỗ Minh Hợp,
Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Thanh. Tác phẩm này giới thiệu khái quát về thực
dụng luận và các đại diện tiêu biểu trong hệ thống lịch sử triết học phương Tây
hiện đại.
Triết lý giáo dục của J. Dewey trong Dân chủ và giáo dục ( Luận văn
Thạc sĩ của Thân Thị Hạnh, mã số 60 22 80), trình bày tương đối bao quát và
đầy đủ về triết lý giáo dục của J. Dewey trong “Dân chủ và giáo dục”.
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu tư tưởng giáo dục của J. Dewey trong Dân
chủ và Giáo dục, trong đó tập trung vào các nội dung cơ bản: bản chất, nội dung
và phương pháp giáo dục, nhấn mạnh đến phương pháp giáo dục vì có liên hệ
đến phần vận dụng cho việc đổi mới giáo dục Việt Nam hiện nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Cơ sở lý luận của nghiên cứu được khai triển trên nền tảng các quan điểm
của Chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và đường lối, quan điểm của
Đảng về vấn đề giáo dục và đào tạo con người.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Về phương pháp nghiên cứu, tác giả sử dụng các phương pháp như
phương pháp nghiên cứu tác phẩm kinh điển, phương pháp logic – lịch sử,
phương pháp phân tích – tổng hợp, phương pháp so sánh.
6. Giả thuyết khoa học
Nếu như tư tưởng giáo dục của J. Dewey trong Dân chủ và Giáo dục có
nhiều giá trị thì sự nắm vững và vận dụng tư tưởng đó vào đổi mới giáo dục Việt
Nam hiện nay sẽ đưa đến kết quả.
7. Những đóng góp mới của luận văn
Ý nghĩa lý luận: Luận văn góp phần giới thiệu một cách có hệ thống
những tư tưởng giáo dục của J. Dewey trong Dân chủ và Giáo dục, từ đó đóng
8
9
góp thêm tri thức vào mảng nghiên cứu về J. Dewey – triết học giáo dục cũng
như triết học chính trị xã hội của ông tại Việt Nam.
Ý nghĩa thực tiễn: Luận văn gợi mở một vài giá trị vận dụng tư tưởng giáo
– 1889), một nhà duy tâm theo chủ nghĩa Hegel mới trong thời gian giảng dạy ở
đây. Hai năm sau (1884), ông đã lấy bằng tiến sĩ năm 1884 với luận văn Tâm lý
học của Kant.
Thời kỳ 1879 – 1884 có thể coi là thời kỳ bắt đầu sự nghiệp triết học của
J. Dewey dưới sự dẫn dắt của G.S.Morris. Sau khi nhận học vị tiến sĩ, ông theo
G.S.Morris đến đại học Michigan để nhận chức Chủ nhiệm khoa Triết học.
Trong thời kỳ này ông không chỉ say mê nghiên cứu triết học mà còn say mê
10
11
nghiên cứu cả tâm lý học. Việc nghiên cứu tâm lý học lại thúc đẩy J. Dewey
nghiên cứu giáo dục học.
Tại Michigan, cuộc hôn nhân với Alice Chipman đã chuyển hướng niềm
hứng thú của J. Dewey sang giáo dục, đặc biệt đã khiến ông soạn thảo bài viết
My pedagogic creed (Cương lĩnh sư phạm của tôi). Từ đây, J. Dewey bắt đầu
quan tâm đến giáo dục công, Ông là thành viên sáng lập của câu lạc bộ
Michigan Schoolmaster trong nỗ lực thúc đẩy sự hợp tác giữa các trường trung
học công lập với các giảng viên đại học.
Năm 1894 - 1904, J. Dewey chuyển đến Đại học Chicago và giảng dạy tại
đây trong 10 năm. Đây là thời gian quan trọng trong sự nghiệp tư tưởng của ông.
Tại đây ông sáng lập phân khoa giáo dục độc lập của Trường Sư phạm Thực
hành thuộc Đại học Chicago (tháng 1 năm 1896), nơi các lý thuyết và thực
nghiệm giáo dục do tâm lý học và triết học đề xuất có thể được áp dụng và thử
thách. Trường Sư phạm Thực hành thu hút sự chú ý rộng rãi và nâng cao danh
tiếng cho Đại học Chicago như trung tâm đầu tiên của tư tưởng giáo dục tiến bộ.
Những tư tưởng và đề xuất của J. Dewey trong thời gian này đã tác động mạnh
mẽ đến lý thuyết và thực hành giáo dục ở Mỹ. Mọi khía cạnh trong những quan
dục, dân chủ, đạo đức học, tôn giáo và nghệ thuật.
Tác phẩm biểu hiện tập trung tư tưởng của J. Dewey là Lôgic học: Lý
thuyết thẩm tra (Logic: The Theory of Inquinry, 1938), tác phẩm được nhiều
người ưa chuộng nhất là Tái cấu trúc triết học (Reconstruction in Philosophy,
1920), tác phẩm gây được ảnh hưởng nhất là Trường học và xã hội (The shool
and society, 1899). Ngoài ra, ông còn viết nhiều tác phẩm quan trọng khác như:
Chúng ta tư duy như thế nào (How we think, 1910), Dân chủ và giáo dục
(Demonracy and Education, 1916), Nhân tính và ứng xử (Human Nature and
Conduct, 1922), Kinh nghiệm và giáo dục (Experience and Education, 1938),…
Trong những tác phẩm này, J. Dewey đều chủ trương xây dựng một nền
giáo dục dân chủ gắn lý luận với thực tiễn, đặc biệt trong tác phẩm Dân chủ và
giáo dục (Demonracy and Education, 1916). Gần một trăm năm đã trôi qua, tư
tưởng giáo dục của Dân chủ và giáo dục vẫn tiếp tục được các nền giáo dục hiện
đại trên thế giới học hỏi.
12
13
Trong các tác phẩm của J. Dewey tư tưởng triết học chính trị - xã hội là
cơ sở để luận giải rõ hơn quá trình hình thành và diễn biến tư tưởng của J.
Dewey về dân chủ nói chung và dân chủ trong giáo dục nói riêng.
Triết học chính trị và triết học xã hội là hai nhánh rất gần gũi nhau của
triết học. Trên thế giới có nhiều những định nghĩa rất khác nhau về hai nhánh
triết học này. Có học giả cho rằng triết học xã hội nghiên cứu sự tương tác và
các mối liên hệ tồn tại giữa con người với xã hội, hoặc triết học xã hội là triết
học về mối quan hệ giữa con người – xã hội trong đó xã hội là tập hợp các cá
nhân cùng chia sẻ quan điểm thống nhất về cùng một vấn đề. Triết học chính trị
được xem như là nền tảng cho khoa học chính trị, nghiên cứu các vấn đề về bản
Mỹ khi đó đều đi theo con đường giáo dục truyền thống không còn phù hợp với
một xã hội đang biến đổi dần dần. Việc tìm kiếm một triết lý giáo dục mới trở
thành mối bận tâm của J. Dewey, kích thích sự suy tư của ông về vấn đề này.
Khi giảng dạy triết học và làm trưởng khoa ở Đại học Chicago ông đã đề xuất
những tư tưởng cơ bản của thuyết công cụ làm nền tảng cho triết lý về giáo dục
và đã bắt đầu hình dung ra mô hình trường học phù hợp. Từ những kinh nghiệm
có được khi giảng dạy và sự nghiên cứu nghiêm túc của bản thân, tác phẩm
Dân chủ và giáo dục (Democracy and Education) ra đời là sản phẩm tư tưởng
của J. Dewey về giáo dục, nó là sự chuẩn bị lâu dài của ông khi tư tưởng về giáo
dục đã ở giai đoạn chín muồi.
Dân chủ và giáo dục là một tác phẩm được J. Dewey trình bày hết sức rõ
ràng và súc tích. Thể hiện tư tưởng của mình về vấn đề giáo dục. Tác phẩm dày
hơn 300 trang, bao gồm: Lời nói đầu và 26 chương, J. Dewey ghi rõ nội dung
tiêu đề của mỗi chương.
Tác phẩm được J. Dewey xuất bản vào năm 1916, những năm tháng thuộc
kỷ nguyên tiến bộ của nước Mỹ, vào lúc nước Mỹ đang trong giai đoạn sôi sục
với cuộc cách mạng sản xuất và công cuộc kiến thiết một đất nước hiện đại hóa.
Nhà trường kiểu cũ đã không thể đáp ứng những đòi hỏi đi liền với công cuộc
phát triển của đất nước. “Dân chủ và giáo dục” là biên bản đánh dấu cuộc chia
tay vĩnh viễn với nhà trường cổ truyền.
Tác phẩm của J. Dewey đã được dịch tại rất nhiều nước. Nhật Bản ngay
từ những năm đầu thế kỷ XX đã dịch gần như toàn bộ các tác phẩm cùa
14
15
J.Dewey. Tại Việt Nam, năm 2008 nhà xuất bản Tri thức mới bắt đầu giới thiệu
J. Dewey qua bản dịch tiếng Việt cuốn Democracy and Education (Dân chủ và
16
triển của phương pháp thực nghiệm trong các môn khoa học, các khái niệm về
tiến hóa của khoa sinh học, và sự tái tổ chức lại nền công nghiệp, đồng thời chỉ
ra những thay đổi trong nội dung và phương pháp của giáo dục do sự đòi hỏi của
những phát triển đó” [5, tr.15].
Với J. Dewey ông đặc biệt nhấn mạnh đến vị trí quan trọng của giáo dục
nhà trường, cho rằng cần phải có một triết lý giáo dục mới trong điều kiện xã hội
đã thay đổi, sao cho nó phù hợp với bước phát triển của xã hội. Không đơn giản
khi J. Dewey đặt tên cho tác phẩm của mình là Dân chủ và giáo dục. Hạt nhân
quan trọng xuyên suốt tác phẩm đó chính là tính dân chủ, một xã hội dân chủ thì
trước hết phải thể hiện ở tính dân chủ trong giáo dục.
Trong tác phẩm J. Dewey đề cập đến việc giáo dục phải gắn với thực tiễn,
chủ trương xây dựng một nền giáo dục học đi đôi với hành, lý thuyết gắn bó
chặt chẽ với thực tiễn. Vậy có cái gì đáng quan tâm đến tác phẩm này vì việc
chủ trương học đi đôi với hành không phải chỉ đến J. Dewey mới có. Ta sẽ thấy
trong Dân chủ và giáo dục, chủ trương này được xây dựng với tinh thần “Giáo
dục chính là bản thân cuộc sống” (Education is life itself).
“Giáo dục chính là bản thân cuộc sống” và do vậy J. Dewey khẳng định
không có giáo dục chung cho tất cả mọi người. Ông đưa ra vai trò, bản chất,
mục tiêu, chức năng của giáo dục cũng như chủ trương xây phương pháp giáo
dục mới. Nhà giáo dục người Mỹ này đã nhấn mạnh đến tính chủ thể và ở đây
người học chính là chủ thể trong hoạt động giáo dục. Hay nói cách khác, giáo
dục phải là một quá trình dân chủ sâu sắc.
Tóm lại, Dân chủ và giáo dục của J. Dewey là một hệ thống quan điểm
khá toàn diện và sâu sắc, nó vẫn còn có những giá trị cho đến ngày nay.
1.2. Những tiền đề hình thành tư tưởng giáo dục của J. Dewey
1.2.1. Điều kiện kinh tế - xã hội
Cuối thế kỷ XIX, các nước tư bản chủ nghĩa chuyển sang giai đoạn đế
quốc chủ nghĩa, đặc biệt nước Mỹ đã trải qua những thay đổi to lớn. Đất nước
thứ tư trên thế giới đã vươn lên hàng đầu về sản xuất công nghiệp” [25].
Tuy nhiên, đó là mặt hiệu quả của nền kinh tế, song song cùng những phát
triển là kéo theo những mâu thuẫn trong nội tại của nó như hiện tượng các ngành
17
18
công nghiệp lần lượt rơi vào tay một số nhà tư bản kếch sù, liên minh với nhau
thành những Tơrớt – một hình thức độc quyền cao và phổ biến ở Mỹ.
Sự phát triển của nên kinh tế trong thời kỳ này cũng đã tác động không
nhỏ tới đời sống chính trị. Đảng Cộng hòa chiếm được lòng tin của dân chúng,
có được sự ủng hộ quan trọng về chính trị trong suốt thời gian cầm quyền. Tuy
nhiên, người dân vẫn tiếp tục mong muốn về một chính quyền dân chủ hơn, hạn
chế các tập đoàn công nghiệp và kiểm soát tư bản độc quyền, giảm tệ nạn ở các
thành phố và thừa nhận các tiêu chuẩn đạo đức của tầng lớp trung lưu, chủ yếu
là đội ngũ lao động “cổ cồn trắng” với số lượng ngày càng đông đảo theo sự
phát triển của các siêu đô thị và mạng lưới công nghiệp dịch vụ đa dạng. Từ
những mong muốn của người dân, mô hình dân chủ ở các tiểu bang dần chuyển
sang hình thức dân chủ trực tiếp. Người dân trực tiếp bầu thượng nghĩ sĩ, thay
cho việc thượng nghị sĩ được cơ quan lập pháp bang lựa chọn. Thời kỳ này,
cũng là thời kỳ phụ nữ được trao quyền bầu cử, là kết quả tích cực cho quá trình
đấu tranh giải phóng phụ nữ kéo dài hàng thập niên ở Mỹ.
Tuy nhiên, nền kinh tế tăng trưởng một cách mạnh mẽ đã bắt đầu có dấu
hiệu sa sút từ những năm 1920. Ngay sau đó, Nước Mỹ phồn vinh và thịnh
vượng trong hơn một thế kỷ từ thời lập quốc đã bị thử thách nghiêm trọng trong
cuộc Đại suy thoái kinh tế (Great Depression) từ 1929 – 1933. Cuộc suy thoái
gần như đã phá hoại hoàn toàn nền kinh tế Mỹ non trẻ. Hàng loạt thế lực tài
chính hùng mạnh sụp đổ, lạm phát tiền tệ, các ngân hàng vỡ nợ, các tập đoàn
Cuba và quần đảo Philippines ( sau khi thắng Tây Ban Nha năm 1898), sáp nhập
quốc đảo Hawaii (1893), xây dựng kênh đào Panama (1914) nhằm đáp ứng
những toan tính về vị trí địa lý…. Đồng thời Mỹ cũng dần từ bỏ thế đứng trung
lập hay còn gọi là chủ nghĩa biệt lập Mỹ trong ngoại giao thời Chiến tranh thế
giới thứ nhất để chính thức bước vào Chiến tranh thế giới thứ hai sau sự kiện
Trân Châu Cảng. Đây cũng là giai đoạn chủ nghĩa tư bản trên toàn thế giới phát
triển như vũ bão dù chịu sự tác động không nhỏ của suy thoái kinh tế, các thế
lực Châu Âu và Nhật Bản cùng cạnh tranh nhằm tranh giành quyền ảnh hưởng
tại Châu Á già cỗi và đầy mệt mỏi trong những ngày tháng cuối cùng của chế độ
phong kiến.
19
20
Văn hóa – xã hội cũng chiu sự tác động không nhỏ do sự biến đổi của nền
kinh tế. Trong trật tự công nghiệp mới, ranh giới thành thị và nông thôn càng trở
nên sâu sắc. Thành phố trở thành trung tâm đầu não quy tụ tất cả các nguồn lực
năng động nhất: doanh nghiệp, tổ chức tài chính, lực lượng lao động….Đại suy
thoái cũng khiến tình trạng phân hóa sâu sắc của nhóm người nghèo và người
giàu nắm giữ phần lớn của cải trong xã hội trở nên nghiêm trọng hơn. Tình trang
bất bình đẳng giới vẫn tiếp diễn khi công nhân nữ chỉ nhận được số lương bằng
¼ công nhân nam và nạn phân biệt chủng tộc cực đoan đối với người Mỹ da đen
vẫn kéo dài dai dẳng cho tới những thập niên 1950 của thế kỷ XX, thời kỳ nở rộ
phong trào đòi quyền công dân cho phụ nữ và người Mỹ gốc Phi ở các bang
miền Nam. Quá trình mở rộng lãnh thổ về phía Tây với những miền đất của
người da đỏ trong những năm cuối thế kỷ XIX và di chứng của quá trình sử
dụng lao động nô lệ da đen ở các bang phía Nam đã gây nên những xung đột
không đáng có giữa cư dân bản địa và những người khai hoang.
của lịch sử nước Mỹ với những biến động nhất định trên nhiều lĩnh vực từ kinh
tế tới chính trị, văn hóa, xã hội. Điều này đã để lại dấu ấn tương đối rõ nét trong
quá trình vận động và biến chuyển triết học J. Dewey nói chung và chính quan
điểm về dân chủ trong giáo dục của ông nói riêng.
Trong sự hình thành tư tưởng giáo dục của mình, bên cạnh điều kiện kinh
tế - xã hội nước Mỹ cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX đặt ra, sự cộng hưởng với
tiền đề tư tưởng giúp cho tư tưởng đó trở thành một hệ thống lý luận. J. Dewey
cũng có những tư tưởng kế thừa từ trong nền triết học và đặc biệt là tư tưởng
triết học của Wilhelm von Humboldt và hai bậc tiền bối trong chủ nghĩa thực
dụng đó là Charles Sander Peirce và William James.
Sự ảnh hưởng của Wilhelm von Humboldt đối với tư tưởng giáo dục của
J.Dewey
Wilhelm von Humboldt (1767 - 1835) là một trong những đại biểu của
thời đại Khai sáng Đức. Ông là người đương thời của các hệ thống triết học lớn
của Đức từ Kant đến Heghel. Là người sáng lập ra Đại học Humboldt (Berlin,
Đức). Wilhelm von Humboldt thường được biết đến với tư cách là một nhà giáo
dục, người khởi xướng tư tưởng cải cách giáo dục dưới thời nước Đức bị quân
đội Napoleon chiếm đóng. Hiện nay, những nghiên cứu về Humboldt đồng thời
21
22
cũng coi ông là người đặt nền móng cho nghiên cứu ngôn ngữ học hiện đại, chú
giải học và triết học ngôn ngữ. Những tác phẩm chính của Humboldt đã được
dịch sang tiếng Anh bao gồm: Học thuyết và giáo dục con người (Theory of
Human Education) (1789), Các bài luận về Mỹ học I (Essays in Aethetiics I: On
Goethe’s Herrmann und Dorothea) (1799), Nhiệm vụ và Phạm vi của Chỉnh thể
(The spheres and Duties of Government) (1854)…..
viên khác trong xã hội. Trong lý luận giáo dục của mình, ngược lại với quan
điểm của Heghel về nhiệm vụ giáo dục công dân của nhà nước, Humboldt phê
phán mọi nỗ lực của nhà nước và xã hội muốn gò ép cá nhân theo những định
hướng và mục đích của riêng mình. Theo Humboldt, nhiệm vụ chính của nhà
nước là đảm bảo an ninh và tích cực hỗ trợ nhưng không can thiệp quá sâu vào
giáo dục. Ông viết: “Giáo dục sẽ có chất lượng và hiệu quả hơn nếu được mở
rộng ra phạm vi và không ảnh hưởng của những thúc bách bên ngoài” [37]. Ông
khẳng định, vai trò của nhà nước là phải làm cho “giáo dục cá nhân được miễn
phí ở khắp mọi nơi có thể, trước hết là cho các công dân” [37]. Theo ông, không
những phải đảm bảo giáo dục miễn phí cho mọi công dân, nhà nước còn phải
bảo vệ quyền lợi được giáo dục của trẻ em, chống lại những ép buộc vô lý nhằm
hạn chế việc học hành của trẻ em từ phụ huynh theo tinh thần khai sáng của triết
học giáo dục do Rousseau khởi xướng.
Yếu tố trung tâm trong triết lý giáo dục của Humboldt là việc đào luyện
nhân cách một cách toàn diện và khuyến khích phát triển cá tính thông qua việc đào
tạo (văn hóa) tổng quát. Lý thuyết giáo dục tân - nhân bản này kiên quyết không
nhượng bộ trước áp lực của mọi thế lực chính trị và kinh tế, khẳng định nhiệm vụ
then chốt của nhà trường là : đào tạo con người còn nhỏ trở thành con người trưởng
thành chứ không phải đào tạo con ông thợ giày thành ông thợ giày. Theo
Humboldt, con người còn là một sinh thể nỗ lực học tập và rèn luyện suốt đời. Vì
thế, tự học – tự giáo dục (self – education) là một tiến trình không thể kết thúc.
Trong những nỗ lực cải cách giáo dục của mình, với mong muốn tạo sức
mạnh tinh thần cho người Đức, Humboldt đã đề xuất thành lập và trao quyền tự
chủ tài chính cho bộ giáo dục và các trường đại học ở Đức. Tuy nhiên, đề xuất
của ông đã không được thực thi. Cống hiến lớn nhất của ông là thành lập Đại
học Berlin sau này mang tên ông. Mô hình trường đại học Humboldt được xây
23