Đo lường kiến thức, thái độ và thực hành tự chăm sóc của người bệnh có hậu môn nhân tạo tại bệnh viện miền Nam Việt Nam - Pdf 69

Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019

ĐO LƯỜNG KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ VÀ THỰC HÀNH TỰ CHĂM SÓC
CỦA NGƯỜI BỆNH CÓ HẬU MÔN NHÂN TẠO
TẠI BỆNH VIỆN MIỀN NAM VIỆT NAM
Võ Thị Thanh Tuyền*

TÓM TẮT
Đặt vấn đề: Hậu môn nhân tạo (HMNT) thường gặp sau mổ ung thư đại - trực tràng giai đoạn muộn.
Việc chăm sóc HMNT đòi hỏi phải có kiến thức, thái độ và thực hành đúng để phòng tránh những biến chứng khi
chăm sóc HMNT.
Mục tiêu: Đo lường kiến thức, thái độ và thực hành của bệnh nhân về chăm sóc HMNT, mối liên quan giữa
kiến thức, thái độ và thực hành chăm sóc HMNT.
Phương pháp: Cắt ngang mô tả với 118 bệnh nhân có HMNT sau phẫu thuật. Tần suất, tỷ lệ phần trăm,
phép kiểm chi bình phương, T-test được sử dụng với phần mềm SPSS16.0 được sử dụng nhằm mô tả, đánh giá
mối liên quan giữa kiến thức, thái độ, thực hành tự chăm sóc HMNT của người bệnh.
Kết quả: Kiến thức đúng về tự chăm sóc HMNT là 26,3% (31/118), thái độ đúng là 28,8% (34/118) và
thực hành đúng là 16,1%. Chưa tìm thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa kiến thức, thái độ và thực hành
chăm sóc HMNT của người bệnh (p>0.05).
Kết luận: Kiến thức, thái độ và thực hành đúng về chăm sóc HMNT của NB còn thấp. Chưa tìm thấy sự
liên quan giữa kiến thức, thái độ và thực hành tự chăm sóc HMNT. Cần thiết phải có một chương trình giáo dục
sức khỏe về chăm sóc HMNT phù hợp cho người bệnh và cộng đồng.
Từ khóa: người bệnh, hậu môn nhân tạo

ABSTRACT
ASSESSMENT THE KNOWLEDGE, ATTITUDE AND PRACTICE OF PATIENT SELF-CARE ON
STOMA AT HOSPITALS IN SOUTHERN VIETNAM
Vo Thi Thanh Tuyen
* Ho Chi Minh City Journal of Medicine * Supplement of Vol. 23 – No. 5 - 2019: 218 – 223

Hậu môn nhân tạo (HMNT) tạo thành nhằm
để bảo vệ thương tổn đoạn đại- trực tràng phía
dưới hoặc bảo vệ đường khâu sau phẫu thuật.
Người bệnh thường lo lắng và có nhiều câu hỏi
cần được nhân viên y tế tư vấn và hướng dẫn.
Điều quan trọng nhất trong chăm sóc hậu môn
nhân tạo là bảo vệ da khỏi phân, nước tiểu và
hóa chất bằng cách xử lý da nhẹ nhàng và sử
dụng các sản phẩm hỗ trợ đúng cách. Điều này
sẽ làm giảm cơ hội cho các vấn đề về da(1).
Việc cung cấp tạm thời hoặc vĩnh viễn hậu
môn nhân tạo có thể gây ra nhiều khó khăn cho
bệnh nhân khi nhập viện và sau khi xuất viện.
Vấn đề là cung cấp kiến thức và thực hành chăm
sóc hậu môn nhân tạo cho bệnh nhân nhằm cải
thiện chất lượng cuộc sống cho bệnh nhân, đặc
biệt là đối với những bệnh nhân phải mang hậu
môn nhân tạo vĩnh viễn(5).
Hiện nay, tại Việt Nam nói chung và nhiều
bệnh viện đã phẫu thuật điều trị bệnh đại trực
tràng nói riêng, chưa quan tâm đúng mức đến
vấn đề giáo dục sức khỏe cho bệnh nhân trước
và sau phẫu thuật có hậu môn nhân tạo. Chưa có
nghiên cứu nào về chăm sóc hậu môn nhân tạo
tại nhà cho bệnh nhân được báo cáo. Năm 2013,
nghiên cứu về kiến thức, thái độ và thực hành
chăm sóc bản thân của bệnh nhân có hậu môn
nhân tạo của tác giả Lê Thị Hoàn cho thấy tỷ lệ
bệnh nhân có kiến thức không chính xác: kiến
thức về hậu môn nhân tạo (34,9%), tự chăm sóc

trực tràng, sau phẫu thuật có hậu môn nhân tạo,
có hậu môn nhân tạo, hậu phẫu ngày thứ 6 trở đi,
có thể đọc, hiểu và đồng ý tham gia nghiên cứu.
Thời gian và địa điểm nghiên cứu
Từ 25/2/2019 đến 30/4/2019 tại bệnh viện Đại
học Y Dược Thành phố Hồ Chí Minh.
Thiết kế nghiên cứu
Nghiên cứu định lượng, mô tả cắt ngang.
Công cụ thu thập dữ liệu
Nhập dữ liệu bằng phần mềm Dữ liệu Epi
3.1. Phân tích dữ liệu bằng phần mềm SPSS 16.0.

KẾT QUẢ
Đặc điểm đối tượng nghiên cứu
Đa số đối tượng trong nghiên cứu là nam
(52,5%), tuổi trung bình là 55,55 tuổi, nhỏ nhất là
25 tuổi và cao nhất là 71. Dân tộc Kinh chiếm
94,9%. Người bệnh không có tôn giáo chiếm 50%.
Người bệnh có trình độ trung học phổ thông
(12/12) là 56,8%, một lượng nhỏ người bệnh có
trình độ từ cao đẳng trở lên (19,5%) và không có
người bệnh nào mù chữ (0%). Về tình trạng hôn

219


Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019

Nghiên cứu Y học


Người chăm
sóc chính

220

Tỉ lệ %

62

52,5

56

47,5

55,55 ± 10,57, 25 – 71

Kinh

112

94,9

Hoa

03

2,50

Khác


0

0,00

Tiểu học

28

23,7

Trung học phổ thông

67

56,8

Cao đẳng, đại học, sau
đại học

23

19,5

Chưa lập gia đình

4

3,4


Nghỉ hưu

30

25,4

Thất nghiệp

3

2,5

Khác

8

6,8

Thân nhân và các bệnh
nhân khác

19

16,1

21

17,8

Nguồn tiếp

Tạm thời

101

85,6

Vĩnh viễn

17

14,4

Bản thân

24

20,3

Vợ/ chồng

44

37,3

Con

47

39,8


118

Tỷ lệ %
73,7
26,3
100,0

Có 73,7% người bệnh có kiến thức chưa
đúng (87/118) (Bảng 2).
Bảng 3. Kết quả thái độ của người bệnh
Thái độ
Thái độ chưa đúng
Thái độ đúng
Tổng

Số lượng (n)
84
34
118

Tỷ lệ %
71,2
28,8
100,0

Có 71,2% NB có thái độ chưa đúng về chăm
sóc hậu môn nhân tạo (Bảng 3).
Bảng 4. Kết quả về thực hành tự chăm sóc hậu môn
nhân tạo
Thực hành


Kiến
thức

Tổng

Sai

Đúng

Không

62

25

87



22

9

31

p

0,975



99

19

118

Tổng

p

0,996

Như vậy, kiến thức liên quan không có ý
nghĩa thống kê đến thực hành của người bệnh có
hậu môn nhân tạo. (p=0,996>0,05) (Bảng 6).
Mối liên quan giữa thái độ và thực hành của
người bệnh tự chăm sóc hậu môn nhân tạo
Bảng 7. Mối liên quan giữa thái độ và thực hành của
người bệnh
Thực hành

Thái độ

Tổng

Không




môn nhân tạo. (p=0,055>0,05). Tuy nhiên,
p=0,055 nằm trong ngưỡng có thể chấp nhận
được, vì vậy tác giả khuyến cáo nên xem xét mối
quan hệ này và có thể chấp nhận rằng thái độ
đúng có thể ảnh hưởng đến thực hành chăm sóc
hậu môn đúng của người bệnh (Bảng 7).

BÀN LUẬN
Đặc điểm của đối tượng nghiên cứu
Kết quả khảo sát về đặc điểm người bệnh
tương tự và một số khác biệt nhỏ so với kết quả
của tác giả Lê Thị Hoan nghiên cứu tại bệnh viện
Chợ Rẫy (2013)(3). Điều này phù hợp với đặc

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học

Nghiên cứu Y học

điểm người bệnh khác nhau của từng bệnh viện.
Kiến thức của người bệnh tự chăm sóc hậu
môn nhân tạo
Khảo sát 118 người bệnh có hậu môn nhân
tạo đang nằm viện qua 29 câu hỏi đánh giá kiến
thức tự chăm sóc hậu môn nhân tạo, chúng tôi
nhận thấy: đa số người bệnh chưa có kiến thức
đúng về hậu môn nhân tạo (73,7%). Phần lớn
người bệnh tham gia nghiên cứu đều biết hậu
môn nhân tạo là lỗ mở chủ động ở ruột già, để
thoát phân, thay thế hậu môn thật. Giải thích về
điều này, tác giả cho rằng người bệnh trước khi

dưỡng cần có kiến thức đúng. Thực tế, một
nghiên cứu được tiến hành tại Đài Loan trên hai

221


Nghiên cứu Y học

Y Học TP. Hồ Chí Minh * Phụ Bản Tập 23 * Số 5 * 2019

trăm năm mươi điều dưỡng làm việc trong một
trung tâm y tế ở miền trung đã được chọn bằng
cách lấy mẫu ngẫu nhiên. 248 câu hỏi đã hình
thành cơ sở phân tích dữ liệu. Những phát hiện
chính của nghiên cứu này là: 258 điều dưỡng
(94,2%) có kinh nghiệm chăm sóc hậu môn nhân
tạo, chỉ có 2,5% điều dưỡng đã tham gia các
khóa học về chăm sóc hậu môn nhân tạo với
tổng số hơn tám giờ(6).
Thái độ của người bệnh về hậu môn nhân tạo
Hậu môn nhân tạo là một phẫu thuật
nhằm giảm triệu chứng tiêu hóa và ngăn ngừa
tiến triển bệnh, nhưng những thay đổi không
thể tránh khỏi về ngoại hình dẫn đến rối loạn
chức năng cơ thể và sự gián đoạn một số khía
cạnh cuộc sống người bệnh. Người bệnh có
hậu môn nhân tạo thường có tâm lý tự ti, mặc
cảm và muốn cách ly khỏi mọi người xung
quan nếu không có thái độ đúng. Nhân viên y
tế cần đưa ra lời khuyên liên quan đến việc giữ

gũi, quan tâm và hướng dẫn giúp đỡ người bệnh
tự tin để hòa nhập xã hội nhằm nâng cao chất
lượng cuộc sống. Vì vậy, tại bệnh viện nghiên
cứu đã thành lập câu lạc bộ những người có hậu
môn nhân tạo nhằm tạo điều kiện cho họ được
tiếp xúc, giao lưu với những bệnh nhân cùng
cảnh ngộ để có thể dễ dàng chia sẻ kinh nghiệm
và từ đó có thái độ đúng hơn, đồng thời cũng
thay đổi thái độ của những người xung quanh
đối với đối tượng bệnh nhân này.
Thực hành tự chăm sóc của người bệnh có hậu
môn nhân tạo
Trong nghiên cứu này, tỷ lệ người bệnh thực
hành đúng chiếm tỷ lệ thấp (16,1%), chỉ có
19/118 bệnh nhân thực hành tự chăm sóc hậu
môn nhân tạo đạt, còn lại 99 người bệnh trong
nhóm nghiên cứu thực hành không đạt (83,9%).
Tỷ lệ người bệnh thực hành đúng trong nghiên
cứu của tác giả tương đối thấp hơn so với nghiên
cứu của tác giả Lê Thị Hoan 3,3 lần. Điều này
được giải thích do người bệnh sau mở hậu môn
nhân tạo mệt mỏi thậm chí một số người bệnh
còn đau nhiều nên khi thực hiện kỹ thuật chưa
tập trung. Đồng thời, người bệnh còn cảm giác lo
lắng sau phẫu thuật nên khi thực hiện kỹ thuật
sẽ quên nhiều bước trong bảng kiểm.
Mối quan hệ giữa kiến thức, thái độ và thực
hành tự chăm sóc hậu môn nhân tạo
Liên quan giữa kiến thức và thái độ của
người bệnh, giả thuyết cho rằng khi người bệnh

Mặc dù trong nghiên cứu của chúng tôi,
chưa tìm thấy mối liên quan giữa kiến thức, thái
độ và thực hành tự chăm sóc hậu môn nhân tạo
của người bệnh, nhưng chúng tôi vẫn luôn
khuyến khích người bệnh cần cập nhập kiến
thức, có thái độ tích cực và tuân thủ thực hành
nhằm giúp cho người bệnh chăm sóc hậu môn
nhân tạo tốt hơn, tự tin hơn, giảm các biến
chứng, giảm khả năng nhập viện và giảm chi phí
điều trị, nâng cao chất lượng cuộc sống và hòa
nhập cộng đồng.

KẾT LUẬN
Đầu tiên, khẳng định rằng nghiên cứu đã
đưa ra những kết quả đánh giá kiến thức, thái độ
và thực hành của người bệnh tương đồng với
các tác giả khác. Tỷ lệ người bệnh có kiến thức,
thái độ và thực hành chăm sóc hậu môn nhân
tạo thấp tương ứng như sau 26,3% (31/118 NB),
28,8% (34/118 NB) và 16,1% (19/118). Nghiên cứu

Chuyên Đề Điều Dưỡng Kỹ Thuật Y Học

Nghiên cứu Y học

cho thấy rằng nhân viên y tế cần cung cấp thông
tin một cách hiệu quả cho người bệnh bằng các
hình thức khác nhau. Mặc dù nghiên cứu chưa
tìm ra mối tương quan giữa nhân khẩu học và
kiến thức, thái độ, thực hành chăm sóc hậu môn

Minh, 4(17):209–216.
Lo SF, Wang YT, Wu LY, Hsu MY, Chang SC, Hayter M (2011).
Multimedia education programme for patients with a stoma:
Effectiveness evaluation. Journal of Advanced Nursing, 67(1):68–
76.
Mansour EA, Alenezi AN (2016). Impact of Stoma Care
Education in Minimizing the Incidence of Stoma Skin
Complications. Bahrain Medical Bulletin, 38(3):151–153.
Martins LM, Sonobe HM, Vieira FDS, De Oliveira MS, Lenza
NDFB, Da Silva Teles AA (2015). Rehabilitation of individuals
with intestinal ostomy. British Journal of Nursing, 24(S22):S4–S11.
Wasserman MA, McGee MF (2017). Preoperative
Considerations for the Ostomate. Clinics in Colon and Rectal
Surgery, 30(3):157–161.

Ngày nhận bài báo:

30/07/2019

Ngày phản biện nhận xét bài báo:

30/08/2019

Ngày bài báo được đăng:

10/10/2019

223



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status