Khảo sát lỗi phát âm tiếng anh của sinh viên năm thứ nhất đại học thương mại - Pdf 69

TRƯỜNG ĐẠI HỌC THƯƠNG MẠI
KHOA TIẾNG ANH
---



---

ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU KHOA HỌC CẤP TRƯỜNG

Khảo sát lỗi phát âm tiếng Anh của sinh viên
năm thứ nhất Đại học Thương mại

Người thực hiện : Nguyễn Thị Thanh Huyền
Đơn vị công tác : Bộ môn Lý thuyết tiếng Anh, Khoa tiếng Anh

HÀ NỘI – 3/2017

1


TÓM LƯỢC
Trong qua trình dạy và học ngoại ngữ nói chung và học tiếng Anh nói riêng, phát âm
chuẩn luôn đóng vai trò quan trọng. Nó có ảnh hưởng trực tiếp đến việc học các kỹ năng cơ
bản để nắm bắt một ngoại ngữ đặc biệt là kỹ năng nghe nói. Tuy nhiên, đa số người học ngoại
ngữ chưa thực sự chú trọng đến việc phát âm chính xác và nâng cao khả năng phát âm. Xuất
phát từ thực tế đó kết hợp với những đánh giá về khả năng phát âm của sinh viên trường Đại
học Thương mại (ĐHTM) nói chung và sinh viên năm thứ nhất không chuyên của trường nói
riêng đúc rút từ kinh nghiệm giảng dạy của bản thân, tác giả đã tiến hành nghiên cứu đề tài
“Khảo sát lỗi phát âm tiếng Anh của sinh viên năm thứ nhất Đại học Thương mại” nhằm
tìm hiểu những lỗi phát âm của sinh viên năm thứ nhất không chuyên, trường ĐHTM, nguyên

phát âm của sinh viên năm thứ nhất, nâng cao khả năng phát âm của họ, đồng thời đề xuất
một số hoạt động để giáo viên có thể linh hoạt áp dụng vào quá trình giảng dạy nhằm nâng
cao chất lượng giảng dạy các học phần tiếng Anh trong nhà trường.

3


LỜI CẢM ƠN
Trước tiên tác giả muốn gửi lời cảm ơn tới Nhà trường, Phòng Quản lý Khoa học, các
giáo viên dạy tiếng Anh của Khoa Tiếng Anh đặc biệt là Bộ môn Lý thuyết tiếng đã tạo điều
kiện cho tác giả hoàn thành dự án đúng thời hạn và đạt kết quả khả quan.
Tác giả cũng xin gửi lời cảm ơn chân thành tới các em sinh viên năm thứ nhất K52và
sinh viên năm thứ nhất khoa Đào tạo Quốc tế và giáo viên Bộ môn Lý thuyết tiếng đã nhiệt
tình tham gia trả lời phiếu khảo sát, ghi âm và tham gia phỏng vấn, giúp nhóm tác giả thu thập
được những tài liệu, số liệu quý giá phục vụ cho nghiên cứu.

4


MỤC LỤC
Trang
TÓM LƯỢC................................................................................................................................1
LỜI CẢM ƠN.............................................................................................................................4
MỤC LỤC.................................................................................................................................. 5
DANH MỤC BẢNG BIỂU........................................................................................................7
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT......................................................................................................8
Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI................................................................... 9
1.1. Tính cấp thiết của đề tài...................................................................................................9
1.2. Đối tượng nghiên cứu.................................................................................................... 10
1.3. Mục tiêu nghiên cứu...................................................................................................... 10



3.5.7. Phát âm sai các cụm phụ âm...................................................................................27
3.5.8. Phát âm sai trọng âm...............................................................................................27
3.5.9. Sử dụng sai ngữ điệu...............................................................................................28
Chương 4. ĐỀ XUẤT CÁC GIẢI PHÁP................................................................................. 32
4.1 Về phía sinh viên............................................................................................................ 32
4.2. Về phía Nhà trường và giáo viên...................................................................................33
4.2.1Về phía Nhà trường...................................................................................................33
4.2.2Về phía giáo viên......................................................................................................34
KẾT LUẬN...............................................................................................................................35
Một số phần mềm học tiếng Anh tham khảo............................................................................ 36
PHIẾU ĐIỀU TRA DÀNH CHO SINH VIÊN.........................................................................39
BẢNG CÂU HỎI PHỎNG VẤN DÀNH CHO GIÁO VIÊN..................................................41
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................ 42

6


DANH MỤC BẢNG BIỂU
-

Biểu đồ 1: Sở thích của sinh viên đối với tiếng Anh

-

Biểu đồ 2: Nhận thức của sinh viên về tầm quan trọng của việc học phát âm

-


-

Biểu đồ 11: Nhận thức của sinh viên về ngữ điệu

-

Biểu đồ 12: Nguyên nhân dẫn tới các lỗi phát âm của sinh viên.

-

Bảng 1: Hệ thống âm nguyên âm tiếng Việt

-

Bảng 2: Hệ thống âm phụ âm tiếng Anh

-

Bảng 3: Hệ thống âm phụ âm tiếng Việt

-

Bảng 4: Số lượng sinh viên phát âm sai nguyên âm trong các từ cho trước

-

Bảng 5: Số lượng sinh viên phát âm sai phụ âm trong các từ cho trước

-


8


Chương 1. TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Với xu thế hội nhập, toàn cầu hoá hiện nay, việc học và sử dụng tiếng Anh để giao tiếp
là nhu cầu thiết yếu, đặc biệt là đối với sinh viên. Làm thế nào để giao tiếp có hiệu quả phụ
thuộc rất lớn vào việc phát âm chuẩn xác của người tham gia giao tiếp và mục đích cuối cùng
và cốt lõi của việc dạy và học tiếng Anh là người học có thể sử dụng nó như một phương tiện
giao tiếp hiệu quả. Việc sử dụng tiếng Anh khẩu ngữ có hiệu quả hay không phần lớn phụ
thuộc vào độ chính xác trong phát âm của người tham gia giao tiếp bởi vì “ngữ âm đóng vai
trò quan trọng giúp người khác hiểu ta muốn nói gì và ngược lại” (Brazil (1994)). Phát âm là
một trong ba thành tố ngôn ngữ giữ vai trò vô cùng quan trọng trong việc hỗ trợ người học
tiếp cận khả năng phát và nhận của người bản ngữ, đồng thời cũng giúp phát triển các kĩ năng
ngôn ngữ của mình. Tench (1981) đã chỉ ra rằng thiếu chuẩn xác trong hình thức từ hay cấu
trúc câu và mệnh đề, việc lựa chọn sai từ trong văn cảnh hay sai văn phong, tất cả đều tạo ra
những cản trở trong giao tiếp nhưng không có thành tố ngôn ngữ nào làm méo mó nội dung
như sự thiếu chính xác trong phát âm. Điều này có nghĩa là phát âm sai có thể gây ra những
hiểu nhầm trong giao tiếp hằng ngày. Do đó việc phát âm chuẩn và nắm được các cách phát
âm chính xác đã ngày càng được chú trọng trong việc học tiếng Anh hiện nay..
Phát âm luôn là một trở ngại đáng kể đối với người Việt học tiếng Anh ở tất cả các cấp
độ. Học sinh ở các trường phổ thông ở Việt Nam vẫn chủ yếu chú trọng nhiều về kỹ năng đọc
và viết nên kỹ năng nghe và nói của các em còn yếu, đặc biệt các em vẫn chưa coi trọng và
chưa có phương pháp để phát âm chuẩn. Chính vì vậy lên Đại học các em gặp rất nhiều khó
khăn trong các giờ học có các phần nghe nói. Hầu hết sinh viên không nắm kỹ về đặc điểm
cấu âm, sự khác nhau giữa tiếng Anh và tiếng Việt nên các em thường bị tiếng mẹ đẻ ảnh
hưởng tiêu cực đến việc phát âm và nói tiếng Anh.
Hiên nay, sinh viên ra trường đi xin việc hầu hết phải tham dự phỏng vấn bằng tiếng
Anh nếu thi tuyển có tiếng Anh. Có rất ít nơi chỉ tổ chức thi viết. Hơn nữa các vị trí việc làm
có mức lương cao đặc biệt các công ty có giao dịch bằng tiếng Anh luôn đòi hỏi nhân viên

sau đây:
Tìm ra các lỗi phát âm mà sinh viên năm thứ nhất không chuyên Trường Đại học
Thương
mại hay mắc phải
-

Xác định nguyên nhân gây ra những lỗi đó.

Tìm ra những giải pháp nhằm giúp giáo viên cũng như bản thân sinh viên hạn chế
những
lỗi phát âm này và nâng cao khả năng phát âm chuẩn, chính xác cho sinh viên năm thứ nhất
Đại học Thương mại và giúp nâng cao hiệu quả giảng dạy và học tập trong các giờ học tiếng
Anh trong trường.

10


Chương 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN
Thực tế cho thấy phát âm tiếng Anh luôn là một trở ngại đối với người Việt học tiếng
Anh. Trong quá trình dạy và học ngoại ngữ đặc biệt là phát âm, tiếng mẹ đẻ luôn là một yếu tố
có ảnh hưởng lớn đến việc tiếp nhận mgoại ngữ khác. Và việc tiếp nhận một hệ thống âm
tiếng nước ngoài luôn là một vấn đề khó khăn lớn đối với người học. Theo Nunan (1991), các
vấn đề trong việc tiếp nhận ngữ âm của ngôn ngữ thứ hai là một thách thức lớn đối với bất cứ
một học thuyết nào về việc tiếp nhận ngôn ngữ thứ hai.
Trong quá trình học ngoại ngữ, tiếng mẹ để có thể có ảnh hưởng tích cực hoặc tiêu cực
đối với người học. Ảnh hưởng tích cực gọi là chuyển di tích cực. Hiện tượng này xảy ra khi
có sự giống nhau giữa các hệ thống ngữ âm và âm vị của tiếng mẹ đẻ và ngoại ngữ, tạo thuận
lợi cho việc tiếp nhận phát âm. Còn ảnh hưởng tiêu cực gọi là chuyển di tiêu cực. Hiện tượng
chuyển di tiêu cực thường gây cản trở và làm chậm quá trình học tập. Chuyển di tiêu cực là
hiện tượng xảy ra khi có sự nhầm lẫn của người học cho rằng cấu trúc của ngoại ngữ cũng

bậc
cao độ, có thể miêu tả như những điểm. Ví dụ: tiếng Yoruba được nói ở Nigeria.
+ Thanh điệu hình tuyến là loại thanh điệu phân biệt nhau bằng sự di chuyển cao độ từ thấp
lên cao hoặc từ cao xuống thấp, không được miêu tả đơn giản như những điểm mà bằng
những đường cong lên xuống. Ví dụ: thanh điệu tiếng Việt, tiếng Hán, tiếng Thái.
* Trọng âm: là một biện pháp âm thanh làm nổi bật một đơn vị ngôn ngữ học lớn hơn âm
tố
(âm tiết, từ, ngữ đoạn, câu) để phân biệt với những đơn vị ngôn ngữ học khác cùng cấp độ.
Ví dụ :
* Ngữ điệu: là sự biến đổi cao độ của giọng nói diễn ra trong một chuỗi âm thanh lớn hơn
âm
tiết hay một từ.
2.2 Những đặc điểm của hệ thống âm tiếng Anh:
Peter Roach (1998) cho rằng tiếng Anh là một ngôn ngữ có những đặc trưng cơ bản
sau:
-

Tiếng Anh có trọng âm từ và trọng âm câu.

-

Là ngôn ngữ có ngữ điệu, lên xuống giọng tùy thuộc vào chức năng giao tiếp của câu.

-

Có dạng yếu và dạng mạnh trong phát âm một số từ chức năng.

-

Có hiện tượng nối âm trong chuỗi lời nói.

Người Việt quen với ngôn ngữ đơn âm tiết nên rất khó cho họ để nhớ một từ dài có
nhiều hơn một âm tiết. Do đặc điểm đơn âm tiết nên các từ tiếng Việt không có trọng âm. Vì
vậy, càng khó khăn cho học viên Việt Nam hơn khi họ phải đọc đúng trọng âm của từ. Ngoài
ra, trọng âm từ trong tiếng Anh không có một dấu hiệu chính tả cụ thể nào nên rất khó cho
người học học thuộc lòng. Đó là lý do tại sao phát âm sai trọng âm hoặc không có trọng âm là
một lỗi phổ biến đối với người Việt học tiếng Anh. Vì vậy, nguwoif Việt cần phải quen với
khái niệm trọng âm từ, khái niệm này khác với khái niệm thanh điệu trong tiếng Việt. Trong
tiếng Việt, thanh điệu luôn luôn thuộc về âm vị, trong khi trong tiếng Anh, trọng âm không
phải lúc nào cũng thuộc âm vị. Sự khác biệt này gây khó khăn cho người học khi học phát âm
tiếng Anh. Hơn nữa, trọng âm tiếng Anh có thể thay đổi khi thêm tiền tố, hậu tố hoặc các yếu
tố từ vựng khác, nên trọng âm dường như là một thách thức lớn đối với người Việt nói chung
và sinh viên năm thứ nhất không chuyên trường đại học Thương mại nói riêng.
2.3.2. Về ngữ điệu
Ngữ điệu (Intonation) được hiểu đơn giản là sự lên và xuống của giọng nói. Trong
tiếng Anh có hai loại ngữ điệu đó là ngữ điệu lên (the rising tune) và ngữ điệu xuống (the
falling tune). Ngoài ra có thể kết hợp cả hai và gọi là ngữ điệu kết hợp lên xuống (the rising
– falling / the falling – rising tune).
Trên thực tế, tiếng Việt cũng có ngữ điệu nhưng vai trò của ngữ điệu rất mờ nhạt
không rõ như tiếng Anh và một số ngôn ngữ khác. Vì vậy, người Việt Nam thường ít khi chú
ý đến ngữ điệu. Đoàn Thiện Thuật, nhà Việt ngữ học giải thích rằng họ không chú ý nhiều
đến ngữ điệu vì ngôn ngữ sử dụng thanh điệu như tiếng Việt thường có giới hạn về ngữ điệu.
Thay vào đó, người Việt thường thêm một số thành tố nhằm làm thay đổi ý nghĩa của câu, ví
dụ họ có thể thêm các từ: hả, hử, á, ạ,... để tạo thành câu hỏi, hoặc một số từ như: ôi, ối, á,
quá, thật, làm sao,... để có được câu cảm thán. Điều này có nghĩa là người Việt Nam thay đổi
tình thái các loại câu khác nhau bằng các yếu tố từ vựng chứ không phải bằng ngữ điệu. Tuy
nhiên, những yếu tố này thường được phát âm với giọng mạnh hơn và cao hơn, điều này có
nghĩa là ngữ điệu cũng đóng một vai trò nhỏ trong việc tạo lập các loại câu khác nhau. Mặt
khác, trong tiếng Anh, ngữ điệu đóng vai trò rất quan trọng trong việc thay đổi nghĩa của câu.
Với ngữ điệu khác nhau, nghĩa của cùng một phát ngôn có thể thay đổi khác nhau.


Như vậy, trong tiếng Anh, các âm tiết cũng như các từ được kết nối chặt chẽ. Sự cấu
âm trong các giới hạn cuối cùng của từ và âm tiết thường mạnh hơn. Do đó, người nói tiếng
Anh phải sử dụng hơi mạnh hơn so với khi nói tiếng Việt. Ngược lại, những từ tiếng Việt
thường được nói với luồng hơi nhẹ hơn ở cuối từ và có sự tách rời rõ ràng giữa các từ. Do sự
khác biệt này, sinh viên Việt Nam thường hay mắc lỗi khi phát âm tiếng Anh. Họ thường có
khó khăn khi đọc nối các âm tiết trong một từ đa âm tiết cùng nhau và thường nói các từ và
các âm tiết tiếng Anh một cách rời rạc. Vì vậy, rất khó để họ hiểu khi họ nghe người bản xứ
14


nói vì những người bản xứ thường nối phụ âm cuối cùng của từ với từ sau đó bắt đầu bằng
một nguyên âm. Trong cùng một từ việc nối từ là một vấn đề lớn đối với sinh viên Việt Nam
vì tiếng mẹ đẻ của họ không có đặc điểm này.
2.3.4. Về cách phát âm các cụm phụ âm
So với tiếng Anh thì tiếng Việt có cấu trúc âm tiết đơn giản hơn. Đoàn Thiện Thuật kết
luận rằng một từ trong tiếng Việt thường có ba hoặc ít hơn 3 âm vị. Do đặc điểm này, các cụm
phụ âm không tồn tại trong tiếng Việt, trong khi trong tiếng Anh hiện tượng này là phổ biến.
Trong tiếng Anh, các cụm phụ âm có thể xuất hiện ở đầu hoặc cuối từ, một từ có thể bắt đầu
bằng một phụ âm (ví dụ: go), hai phụ âm (ví dụ: glitter), hay ba phụ âm (ví dụ: stream) và kết
thúc với một phụ âm (ví dụ: then), hai phụ âm (ví dụ: last), ba phụ âm (ví dụ: attempt) hay
bốn phụ âm (ví dụ: attempts). Đặc điểm này gây khó khăn không nhỏ đối với các học viên
Việt Nam. Tuy nhiên, các người Việt thường có khó khăn hơn khi phát âm các cụm phụ âm
cuối từ và họ thường bỏ một hoặc hai phụ âm cuối.
2.3.5. Về phát âm dạng mạnh (strong form) và dạng yếu (weak form)
Một số từ chức năng (function words) trong tiếng Anh như trợ động từ, giới từ, liên từ,
có thể có hai cách phát âm-dạng mạnh và dạng yếu. Dạng phát âm yếu (weak form) là dạng
phát âm thông thường của loại từ này, chúng chỉ được phát âm dưới dạng mạnh(strong form)
trong các trường hợp sau:
- Khi từ đó xuất hiện ở cuối câu nói.
I’m looking for a book. Which book are you looking for?

Theo Trung tâm từ điển học, Tiếng Việt có 16 âm vị là nguyên âm (trong đó có 13
nguyên âm đơn, 3 nguyên âm đôi) và 2 âm vị là bán nguyên âm*. Trong 16 âm vị nguyên âm
và 2 âm vị bán nguyên âm thì có 17 cách đọc (phát âm), và được ghi lại bằng 20 chữ viết. 20
chữ viết này được hình thành từ 12 chữ cái (con chữ).

Bảng 1: Hệ thống âm nguyên âm tiếng Việt
(Nguồn: Trung tâm từ điển học)
16


Trong tiếng Anh, số lượng này lớn hơn nhiều. Tiếng Anh có 20 âm nguyên âm bao
gồm 7 nguyên âm ngắn, 5 nguyên âm dài và 8 nguyên âm kép. Sự khác biệt rõ ràng nhất giữa
hai hệ thống nguyên âm là ở chỗ tiếng Việt không có nguyên âm dài. Đó là lý do tại sao nhiều
sinh viên Việt Nam không quen với khái niệm nguyên âm dài trong tiếng Anh và họ thường
phát âm nguyên âm ngắn thay vì nguyên âm dài. Hơn nữa, trong tiếng Việt, nguyên âm kép
hiếm khi theo sau bởi một phụ âm cuối, nhưng trong tiếng Anh, hiện tượng này là phổ biến
nên khi sinh viên Việt Nam gặp phải một cụm gồm một nguyên âm kép và kết thúc bởi một
phụ âm, rất khó cho họ để phát âm cả từ trọn vẹn, họ thường không phát âm phụ âm cuối. Ví
dụ, họ có thể phát âm từ “five” /faiv/ mà không phát âm phụ âm cuối /v/
Vấn đề thứ hai là sự khác nhau giữa hệ thống phụ âm trong hai ngôn ngữ. Theo Roach,
P. (1983), tiếng Anh có 24 phụ âm.
/p/

pen /pen/

/b/

bad / bæd/

/t/

/n/
van /væn/

fat /fæt/
/v/

/f/
thin / θIn/

/ð/

/θ/

zoo /zu:/

sap /sæp/
/z/

/s/
she /ʃi:/

vision /vIən/

/ə/

/ʃ/

leg /leg/

hat /hæt/

(Nguồn: Trung tâm từ điển học)

Việc phân loại các phụ âm tiếng Việt cũng dựa trên hai tiêu chí trên nhưng đặc biệt
hơn. So sánh hai hệ thống âm của hai ngôn ngữ, chúng ta có thể thấy rằng, trước hết, có một
vài phụ âm chỉ tồn tại trong hệ thống âm tiếng Anh mà không có trong hệ thống âm tiếng Việt
như: tʃ, də, ʃ, f, θ, ð, w, z, ə, ŋ. Vì vậy sinh viên có khó khăn lớn trong việc nắm bắt các âm
này. Do không quen thuộc với những âm này nên rất khó cho sinh viên để phát âm một cách
chuẩn xác những âm phụ âm này. Nhiều em không biết cách phát âm những phụ âm khó trong
18


tiếng Anh. Ngoài ra, các học viên còn lẫn lộn các âm giống nhau như: /b/ và /p/, / də / và / ð/
hay / ə/... và có khó khăn trong việc phát âm các cụm phụ âm như /desks/, /fIfθ/.
Hơn thế nữa trong tiếng Việt, một âm chỉ thể hiện qua một chữ cái, trong khi trong
tiếng Anh, một chữ cái có thể được thể hiện bằng nhiều âm khác nhau. Ví dụ, trong tiếng Anh,
chữ cái “a” có thể được phát âm là: /a:/ (car /ka:/), /æ/ (hat /hæt/), /eI/ (say /seI/, /ə/
(intimate /’IntImət/), hay /ɔ:/ (all /ɔ:l/). Vì vậy, nhìn vào một từ tiếng Anh, sinh viên không
thể biết cách đọc đúng nếu không tra từ điển. Việc dựa vào chữ cái để phát âm làm cho sinh
viên Việt Nam mắc phải rất nhiều lỗi khi phát âm vì không có một quy tắc cụ thể nào đối với
việc phát âm từng chữ cái.
2.3.7. Về ngữ pháp
Một trong những nguyên nhân dẫn tới các lỗi phát âm liên quan tới hiện tượng ngữ
pháp là có hiện tượng ngữ pháp tồn tại trong tiếng Anh mà không tồn tại trong tiếng Việt. Đó
là đuôi ‘s’ trong số nhiều và động từ ở ngôi thứ ba số ít (trong thời hiện tại đơn) và đuôi ‘ed’
trong các động từ và phân từ quá khứ có quy tắc. Các học viên Việt Nam thường bỏ không
phát âm hoặc phát âm đuôi ‘s’ là /s/ và đuôi ‘ed’ là / Id/ nhưng không phải lúc nào các đuôi này
trong tiếng Anh cũng được phát âm như vậy. Nguyên do của vấn đề này là trong tiếng Việt
không có khái niệm phụ âm vô thanh và hữu thanh.
Ngoài ra, trong tiếng Anh có rất nhiều quy tắc phức tạp về âm vị như hiện tượng biến
đổi âm vị (hiện tượng đồng hoá, ngạc hoá,...). Các hiện tượng này không tồn tại trong tiếng

thuộc Bộ môn Lý Thuyết Tiếng Anh, Khoa tiếng Anh, trường Đại học Thương mại.
c) Thu âm bằng điện thoại cách phát âm một số từ và câu và phần thuyết trình trong giờ thảo
luận của 20 sinh viên năm thứ nhất.
3.4. Phân tích đối tượng nghiên cứu
Tác giả đã tiến hành phát phiếu điều tra cho 100 sinh viên năm thứ nhất, trường Đại học
Thương mại, trong đó có 50 sinh viên năm thứ nhất k52, và 50 sinh viên năm thứ nhất khoa
Đào Tạo Quốc tế. ( cả sinh viên nam và sinh viên nữ). Những sinh viên này thuộc độ tuổi từ
19-21. 27 % sinh viên học tiếng Anh dưới 10 năm, số còn lại 73% học tiếng Anh từ 10 năm
trở lên. Đặc biệt có những sinh viên học tiếng Anh được trên 12 năm. Một số em thi đại học
môn tiếng Anh như khối D, A1 vào đại học nên các em có tinh thần và nhận thức đúng đắn
đối với việc học tiếng Anh. Điều này vô cùng quan trọng vì khi có sự thích thú và thái độ học
tập rõ ràng, sinh viên sẽ có động cơ đúng đắn để học môn học này. Theo biểu đồ 1, 56% sinh
viên thích học tiếng Anh, 24% sinh viên rất thích tiếng Anh, trong khi số sinh viên có thái độ
bình thường với ngôn ngữ này chỉ chiếm 20%. Các số liệu trong biểu đồ 2 cho thấy tất cả sinh
viên năm thứ nhất đều cho rằng tiếng Anh quan trọng hoặc rất quan trọng 72% sinh viên thấy
rằng việc học phát âm rất quan trọng, số sinh viên có lựa chọn “quan trọng” chiếm 28%. Khi
đưa ra các lý do về tầm quan trọng của việc học phát âm, các sinh viên này cho biết việc học
phát âm quan trọng vì học phát âm “giúp nói và nghe tiếng Anh được chuẩn hơn”, “giúp
người học tự tin hơn trong giao tiếp”. Khi được yêu cầu tự đánh giá về khả năng phát âm của
20


bản thân, các sinh viên này đưa ra các con số không mấy khả quan. Không sinh viên nào nhận
thấy mình có khả năng phát âm rất tốt. 12% sinh viên cho rằng mình có thể phát âm tốt. Một
số lượng lớn sinh viên (76%) đánh giá khả năng phát âm của bản thân là “bình thường”. Số
sinh viên còn lại (12%) tự nhận bản thân còn phát âm kém. Biểu đồ 5 thể hiện sự đánh giá của
sinh viên về độ khó của việc học phát âm. Quá bán số sinh viên (58%) thấy khó khăn trong
việc học phát âm, 30% sinh viên nhận thấy việc học phát âm vừa tầm với khả năng của họ,
10% sinh viên cho rằng học phát âm rất khó, chỉ một số lượng nhỏ sinh viên (2%) chọn
phương án “không khó chút nào”. Kết quả là, khả năng phát âm của sinh viên không cao,

âm sai nguyên âm, phát âm sai phụ âm, phát âm sai trọng âm và sai ngữ điệu.
21


3.5.1. Phát âm sai nguyên âm
Tác giả đã phát phiếu điều tra cho 100 sinh viên cho sinh viên năm thứ nhất không
chuyên hệ chính quy và sinh viên năm thứ nhất khoa Đào tạo quốc tế có thi đại học môn tiếng
Anh và không thi môn tiếng Anh. Kết quả điều tra về lỗi sai nguyên âm dài, nguyên âm ngắn
được thể hiện ở bảng dưới:
6.c. Phát âm sai nguyên âm dài, nguyên âm ngắn
50%
45%
40%
35%
30%
25%
20%
15%
10%
5%
0%
SV có thi TA

SV không thi TA

Trung bình

Biểu đồ 5: Tỷ lệ mắc lỗi phát âm nguyên âm
Số liệu trên cho thấy khoảng gần 1/3 (30%) sinh viên năm thứ nhất không chuyên Anh
gặp khó khăn với các nguyên âm tiếng Anh. Tuy nhiên là có sự khác biệt theo chiều hướng lỗi


Appropriate
Deposit
Effort
Emergency
Guarantee

Purchase
Service
Bảng 4: Số lượng sinh viên phát âm sai nguyên âm trong các từ cho trước
Có thể thấy tỉ lệ phát âm sai các từ liệt kê ở trên rất cao. Việc đọc sai nguyên âm trong
các từ này không hẳn là do các từ này chứa các âm khó không phát âm được mà do nhiều yếu
tố khác như xác định sai trọng âm (deposit, purchase), ảnh hưởng của tiếng mẹ đẻ (effort,
emergency, guarantee), khái quát hoá quy tắc phát âm (appropriate) hay do thói quen phát âm
cũ (service). Các nguyên nhân này xin được phân tích kỹ hơn ở phần sau.
3.5.2. Phát âm sai phụ âm
Các nhà nghiên cứu đã chỉ ra rằng phát âm sai phụ âm sẽ khiến cho người nghe khó hiểu
được ý người nói diễn đạt hơn so với phát âm sai nguyên âm. Nói cách khác, phát âm sai phụ
âm sẽ nghiêm trọng hơn so với sai nguyên âm. Trong khi nguyên âm chỉ có 20 thì phụ âm lại
nhiều gấp gần 1,5 lần với số lượng là 28. Đồng thời, lỗi về phụ âm lại diễn biến đa dạng hơn



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status