Chương 5
ĐO LƯỜNG SẢN LƯỢNG QUỐC GIA
I. TỔNG QUAN VỀ ĐO LƯỜNG SẢN LƯỢNG QUỐC GIA
I.1. Định nghĩa sản xuất
Sản xuất là hoạt động căn bản nhất của nền kinh tế vì nó giúp tạo ra của cải vật chất để duy trì đồng
thời nâng cao chất lượng cuộc sống và tạo ra thu nhập cho con người. Song, có nhiều định nghĩa
khác nhau về sản xuất. Các định nghĩa này được hoàn chỉnh theo thời gian để có thể miêu tả hoạt
động thực tế một các chính xác nhất. Theo lịch sử phát triển của kinh tế học vĩ mô, có rất nhiều nhà
kinh tế đóng góp vào việc làm này.
Vào thế kỷ 16, F. Quesnay (1694–1774), người đứng đầu trường phái trọng nông, đưa ra khái
niệm đầu tiên về sản xuất. Ông cho rằng sản xuất là tạo ra sản lượng thuần tăng, đó là lượng sản
phẩm tăng thêm so với số lượng yếu tố đầu vào được đưa vào sản xuất. Thí dụ, nếu gieo một hạt lúa
sau một thời gian thu hoạch được 100 hạt thì sản lượng thuần tăng của sản xuất lúa sẽ là 99 hạt.
Đến thế kỷ 18, Adam Smith (1723–1790) đưa ra khái niệm khác về sản xuất.
1
Theo ông, sản
xuất là sáng tạo ra các sản phẩm vật chất – những sản phẩm hữu hình, có thể nhìn thấy, sờ mó được.
Với quan điểm này thì các ngành được xem là ngành sản xuất bao gồm nông nghiệp, lâm nghiệp,
ngư nghiệp, công nghiệp và xây dựng. Những ngành còn lại như thương nghiệp, giao thông vận tải,
bưu điện, v.v. chỉ tạo ra sản phẩm (dịch vụ) vô hình, không thể nhìn thấy và sờ mó được thì không
phải là sản xuất, cho nên không được tính vào sản lượng quốc gia.
Vào thế kỷ 19, Karl Marx (1818–1883) mở rộng quan điểm về sản xuất của Adam Smith.
Marx cũng cho rằng sản xuất là tạo ra sản phẩm vật chất giống như Smith, nhưng khái niệm sản
phẩm vật chất của Marx bao gồm hai phần:
i. Một là toàn bộ các sản phẩm hữu hình do các ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, ngư nghiệp, công
nghiệp và xây dựng tạo ra.
ii. Hai là một phần các sản phẩm vô hình (dịch vụ) được tạo ra bởi các ngành thương nghiệp, giao
thông vận tải và bưu điện. Đối với các ngành sản xuất sản phẩm vô hình, Marx cho rằng chỉ
được xem là sản xuất khi chi phí hoạt động của chúng nhằm mục đích phục vụ cho tiêu dùng
phải được loại ra. Như vậy, chỉ được tính vào sản lượng quốc gia phần giá trị mà các ngành này
phục vụ cho sản xuất.
NNP = GNP – khấu hao.
Trong hệ thống tài khoản thu nhập quốc dân, khấu hao được gọi là tiêu dùng vốn cố định. Do
khấu hao là chi phí sản xuất sản phẩm của nền kinh tế nên khấu trừ khấu hao sẽ cho biết kết quả
ròng của hoạt động kinh tế. Vì lý do này, nhiều nhà kinh tế tin rằng NNP là chỉ tiêu đo lường
mức độ giàu có của một quốc gia tốt hơn cả GDP và GNP.
iv. Tổng giá trị sản phẩm quốc nội ròng (NDP).
Ngoài bốn chỉ tiêu nêu trên, còn có ba chỉ tiêu khác cũng được sử dụng khá rộng rãi trong các lý
thuyết kinh tế là:
i. Thu nhập quốc dân hay lợi tức quốc gia (NI): Ngoài các chỉ tiêu trên, thu nhập quốc dân còn
được điều chỉnh để loại trừ thuế, như thuế doanh thu. Những loại thuế này, thường chiếm
khoảng 10% NNP, tạo ra khoản chênh lệch giữa giá mà người tiêu dùng phải trả cho hàng hóa và
giá mà người sản xuất nhận được. Do nhà sản xuất không bao giờ nhận được khoản thuế này nên
2
Simon Kuznets sinh ở Nga vào năm 1901 trong một gia đình người Do Thái và chuyển đến sống ở Mỹ năm 1922. Ông hoàn
thành chương trình đại học năm 1923, master năm 1924, và tiến sĩ năm 1926 cùng ở Đại học Columbia. Công trình nghiên cứu
quan trọng nhất của ông tập trung vào các lãnh vực là thu nhập quốc dân, sự hình thành vốn của nền kinh tế, và tăng trưởng kinh
tế của các quốc gia. Ông là giáo sư ở Đại học Pennsylvania (1931–1954), Đại học Johns Hopkins (1954–1960), và Đại học
Harvard (1960–1971). Ông nhận được giải Nobel Kinh tế năm 1971.
2
nó không phải là thu nhập của họ. Sau khi khấu trừ thuế gián tiếp doanh nghiệp ra khỏi NNP, ta
sẽ có chỉ tiêu thu nhập quốc dân (NI):
NI = NNP – Thuế gián tiếp doanh nghiệp.
Thu nhập quốc dân đo lường thu nhập của mọi người dân trong nền kinh tế. Hệ thống tài khoản
thu nhập quốc dân phân chia thu nhập quốc dân thành năm thành phần tùy thuộc vào nguồn gốc phát
sinh của chúng. Năm thành phần này là: (i) tiền lương trả cho lao động: lương và các khoản thu nhập
phụ khác của người lao động; (ii) thu nhập từ sở hữu: thu nhập các loại hình kinh doanh như trang
trại quy mô nhỏ, tiệm tạp hóa gia đình, liên danh tư vấn luật, v.v.; (iii) thu nhập từ cho thuê: thu nhập
mà người sở hữu đất nhận được từ tiền cho thuê; (iv) lợi nhuận doanh nghiệp; (v) lãi suất ròng.
3
ii. Thu nhập cá nhân (PI): Một số điều chỉnh khác nữa sẽ đưa chúng ta từ khái niệm thu nhập quốc
,,,
,,,
////
=
,
trong đó: GDP
P/C
, GNP
P/C
, NNP
P/C
, và NI
P/C
lần lượt là GDP, GNP, NNP, NI tính bình quân đầu
người và N là tổng dân số.
II. TÍNH GDP DANH NGHĨA THÔNG QUA GIÁ THỊ TRƯỜNG
GDP là giá trị bằng tiền của toàn bộ sản phẩm cuối cùng được sản xuất ra trên lãnh thổ một
nước trong khoảng thời gian nhất định, thường là một năm. Sản phẩm cuối cùng là sản phẩm dùng
để đáp ứng nhu cầu sử dụng cuối cùng của nền kinh tế như tiêu dùng (cá nhân hay chánh phủ), đầu
tư hay xuất khẩu. Sản phẩm trung gian – sản phẩm hình thành nên chi phí trung gian và không phải
là sản phẩm cuối cùng – là những loại sản phẩm được dùng như là yếu tố đầu vào để sản xuất ra sản
phẩm khác và chỉ được sử dụng một lần trong quá trình đó, nghĩa là giá trị của nó được chuyển hết
vào giá trị sản phẩm mới. Thí dụ, đá vôi khai thác từ tự nhiên là sản phẩm trung gian của sản phẩm
cuối cùng là xi măng; gỗ xẻ là sản phẩm trung gian của sản phẩm cuối cùng là bàn, ghế, tủ; quặng
sắt là sản phẩm trung gian của sắt thép xây dựng, v.v.
Mặc dù có nhiều quan điểm khác nhau nhưng hiện nay GDP được xem là chỉ tiêu đo lường tốt
nhất kết quả hoạt động của nền kinh tế. Chỉ tiêu này tổng hợp giá trị tính bằng tiền của toàn bộ hoạt
động kinh tế của nền kinh tế. Chính xác hơn, GDP bằng với tổng thu nhập của mọi người dân sống
trong nền kinh tế hay bằng với tổng chi tiêu cho hàng hóa của nền kinh tế.
Dù nhìn từ quan điểm của thu nhập hay chi tiêu, rõ ràng GDP là chỉ tiêu đo lường kết quả hoạt
sang hộ gia đình.
GDP đo lường quy mô của dòng lưu chuyển tiền trong nền kinh tế. Ta có thể tính GDP bằng
hai cách. Một, GDP đo lường tổng thu nhập từ sản xuất bánh mì. Khoản thu nhập này bằng với tổng
tiền lương và lợi nhuận ở phần nửa trên của dòng lưu chuyển tiền trong Sơ đồ 2.1. Hai, GDP là số
chi tiêu cho bánh mì ở nửa phần dưới của dòng lưu chuyển tiền tiền tệ trong Sơ đồ 2.1. Như vậy, ta
có thể tính GDP bằng cách tiếp cận từ lưu chuyển tiền tệ từ doanh nghiệp đến hộ gia đình (đó là thu
nhập) hay từ hộ gia đình đến doanh nghiệp (đó là chi tiêu).
Sơ đồ 5.1. Dòng lưu chuyển của nền kinh tế
Tổng chi tiêu của nền kinh tế và tổng thu nhập phải bằng nhau vì mỗi giao dịch của nền kinh tế
luôn có hai phía, đó là người mua và người bán. Chi tiêu của người mua đối với hàng hóa, theo
nguyên tắc kế toán, chính là thu nhập của người bán. Vì vậy, bất kỳ giao dịch nào có ảnh hưởng đến
chi tiêu thì cũng sẽ có ảnh hưởng đến thu nhập. Thí dụ, một doanh nghiệp sản xuất và bán một ổ
bánh mì cho hộ gia đình. Rõ ràng là giao dịch này làm tăng chi tiêu và cũng làm tăng thu nhập. Nếu
doanh nghiệp sản xuất thêm bánh mì mà không thuê thêm lao động (do quá trình sản xuất được quản
Hộ gia đình
Doanh nghiệp
Thu nhập (tiền lương và lợi nhuận)
Lao động
Chi tiêu
Bánh mì
5
lý một cách hiệu quả hơn, chẳng hạn) thì lợi nhuận sẽ tăng. Lợi nhuận tăng thì sẽ làm tăng thu nhập
của hộ gia đình vì thu nhập của hộ gia đình bao gồm cả lợi nhuận, như đề cập trước đây. Nếu doanh
nghiệp sản xuất thêm bánh mì và thuê thêm lao động thì tiền lương sẽ tăng. Tiền lương tăng sẽ làm
tăng thu nhập của hộ gia đình.
Sơ đồ 2.1 được đơn giản hóa để giúp ta hiểu được bản chất của mối quan hệ giữa GDP, chi
tiêu và thu nhập của một nền kinh tế. Tuy nhiên, trong thực tế hộ gia đình không chỉ cung ứng lao
động mà cung ứng yếu tố sản xuất nói chung cho doanh nghiệp thông qua thị trường yếu tố sản
xuất. Các yếu tố sản xuất này được doanh nghiệp sử dụng để sản xuất ra hàng hóa để bán cho doanh
nghiệp khác hay hộ gia đình thông qua thị trường hàng hóa. Hàng hóa bán cho doanh nghiệp khác
hóa khác nhau ta phải sử dụng giá thị trường làm thước đo. Giá thị trường được sử dụng vì nó cho
biết người ta sẵn lòng trả bao nhiêu cho hàng hóa đó. Nếu giá bánh mì là 0,5 đvt/ổ và giá ô tô là
1.000 đvt/chiếc thì GDP của nền kinh tế trên sẽ là:
GDP = Giá bánh mì
×
Số bánh mì + Giá xe ô tô
×
Số xe ô tô
= 0,5 đvt
×
4 + 1.000 đvt
×
3 = 3.002 đvt.
Như vậy, GDP của nền kinh tế là 3.002 đvt, bao gồm giá trị của bánh mì là 2 đvt và của xe ô tô
là 3.000 đvt. Tuy nhiên, có quan sát cho rằng sản phẩm của nền kinh tế không phải luôn được bán
ngay ra thị trường mà có thể nhập vào kho của doanh nghiệp. Việc nhập kho này có ảnh hưởng như
thế nào đến cách tính toán GDP của một quốc gia. Đó là vấn đề mà ta phải nghiên cứu trong phần
tiếp theo.
Đối với dự trữ (hay tồn kho)
Giả sử một doanh nghiệp trong mô hình nền kinh tế một hàng hóa (bánh mì) ở trên thuê lao động để
làm ra bánh mì, trả lương cho lao động nhưng sau đó lại không bán được bánh mì mà phải nhập kho.
Hiện tượng này có ảnh hưởng như thế nào đến GDP của nền kinh tế?
Câu trả lời phụ thuộc vào điều xảy ra đối với số bánh mì không bán được. Nếu số bánh mì đó
bị hỏng thì lợi nhuận bị giảm đi một khoản bằng với số tiền lương phải trả cho lao động để làm ra số
bánh mì này – nghĩa là doanh nghiệp trả lương cho người lao động nhưng không nhận được gì từ đó
– nên thu nhập của nền kinh tế không thay đổi. Vì hoạt động này không ảnh hưởng đến chi tiêu (do
số bánh mì này bị hỏng nên không được bán ra thị trường) hay thu nhập (do tiền lương tăng lên
nhưng lợi nhuận lại giảm đi một khoản bằng đúng với số tiền lương này) nên nó không làm thay đổi
GDP. Ngược lại, nếu số bánh mì làm ra được nhập kho (dự trữ) để bán sau đó thì tình huống này sẽ
được ghi nhận khác đi. Khi đó, lợi nhuận không bị giảm và người chủ doanh nghiệp được quy ước là
Dịch vụ nhà ở và giá trị thay thế
Mặc dù hàng hóa được đánh giá theo giá thị trường khi tính GDP nhưng có nhiều loại hàng hóa lại
không được bán ra thị trường nên không có giá thị trường. Vì GDP phải bao gồm giá trị của các loại
hàng hóa này nên ta phải tìm cách ước lượng giá trị của chúng. Uớc lượng này được gọi là giá trị
thay thế.
Giá trị thay thế là đặc biệt quan trọng trong việc xác định giá trị của các dịch vụ nhà ở. Một
người thuê một ngôi nhà nghĩa là đang mua một dịch vụ nhà ở và tạo ra thu nhập cho người chủ nhà
cho thuê. Thu nhập này phải được tính vào GDP. Tuy nhiên, nhiều người lại sống trong nhà riêng
của mình. Mặc dù họ không phải trả tiền thuê nhà nhưng lại hưởng các dịch vụ tương tự như những
người thuê nhà. Để tính giá trị dịch vụ nhà ở của những người sở hữu nhà, GDP bao gồm tiền thuê
của những người có nhà riêng, coi như là trả cho chính bản thân họ. Dĩ nhiên, những người chủ nhà
không phải trả tiền cho chính họ. Chính phủ sẽ ước lượng tiền thuê cho một căn nhà riêng với giả
định là nó được cho thuê và tính tiền thuê này vào GDP. Tiền thuê này được bao gồm vào cả chi tiêu
và thu nhập của người chủ nhà.
Giá trị thay thế cũng xuất hiện trong việc đánh giá các dịch vụ của chánh phủ. Thí dụ, các viên
chức cảnh sát, nhân viên cứu hỏa và các nghị sĩ cung ứng dịch vụ công. Định giá các dịch vụ này rất
khó vì chúng không được bán ra trên thị trường và vì vậy không có giá thị trường. Thu nhập quốc
dân tính giá trị các dịch vụ này bằng cách sử dụng chi phí của chúng. Nói cách khác, tiền lương của
những người này được sử dụng như giá trị của các dịch vụ mà họ cung ứng.
Trong nhiều trường hợp, giá trị thay thế được sử dụng trên nguyên tắc nhưng lại không được
sử dụng trong thực tế. Do giá trị thay thế được sử dụng để tính tiền thuê nhà đối với những người
chủ nhà nên nó cũng được kỳ vọng sử dụng cho các loại dịch vụ khác như tiền thuê đối với xe ô tô,
8