THỰC TRẠNG XÃ HỘI HOÁ DỊCH VỤ ĐĂNG KIỂM
PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG CƠ GIỚI ĐƯỜNG BỘ.
2.1. CỤC ĐĂNG KIỂM VIỆT NAM – HƠN 4O NĂM HÌNH THÀNH VÀ
PHÁT TRIỂN.
2.1.1. Giới thiệu chung về Cục Đăng kiểm Việt Nam.
Cục Ðăng kiểm Việt Nam (VR) là cơ quan quản lý Nhà nước trực thuộc
Bộ Giao thông Vận tải có chức năng tổ chức và thực hiện giám sát kỹ thuật,
chứng nhận chất lượng, an toàn cho các phương tiện và trang thiết bị giao thông
vận tải bao gồm: tàu thuỷ, ô tô, phương tiện đường sắt, các sản phẩm công
nghiệp và công trình biển. Ðồng thời VR là một Tổ chức Phân cấp tàu thủy.
Hoạt động của Ðăng kiểm Việt Nam vì mục đích đảm bảo an toàn sinh mạng
con người, tài sản và ngăn ngừa ô nhiễm môi trường, không vì lợi nhuận.
Ðăng kiểm Việt Nam có trụ sở Văn phòng Trung ương đặt tại số 18 Phạm Hùng,
Mỹ Đình, Từ Liêm, Hà Nội.
Ðăng kiểm Việt Nam có 25 chi cục, chi nhánh đăng kiểm tàu thuỷ, công trình
biển và sản phẩm công nghiệp; có 18 trung tâm đăng kiểm phương tiện cơ giới
đường bộ; quản lý và chỉ đạo nghiệp vụ cho 77 trung tâm đăng kiểm phương
tiện cơ giới đường bộ của các sở giao thông vận tải.
Ðăng kiểm Việt Nam có khoảng 1018 cán bộ, công nhân viên, trong đó có hơn
869 cán bộ kỹ thuật có trình độ cao đẳng và đại học, khoảng 45 cán bộ có trình
độ trên đại học.
Mục tiêu
Mục tiêu Chất lượng của Ðăng kiểm Việt Nam là phục vụ lợi ích công
cộng và nhu cầu của khách hàng, góp phần bảo đảm an toàn sinh mạng con
người, tài sản và môi trường, thông qua công tác xây dựng tiêu chuẩn và giám
sát kỹ thuật khi thiết kế, đóng mới, cũng như trong suốt quá trình khai thác các
phương tiện sắt, thủy, bộ và công trình biển.
Chính sách chất lượng
Chính sách chất lượng của Ðăng kiểm Việt Nam (VR) là cung cấp các
dịch vụ có chất lượng để thực hiện những mục tiêu đề ra.
Các hoạt động giám sát kỹ thuật, chứng nhận chất lượng và an toàn của VR luôn
Khi miền Bắc hoàn toàn giải phóng, ở Hà nội, Sở Giao thông Công chính thành
phố thành lập "Ban Kiểm soát hàng giang" theo dõi đăng ký phương tiện vận tải
thuỷ thay cho "Ban Giang ngạn" của Sở "Hàng Giang thương thuyền" do Pháp
lập lên trước đây.
Cuối 4/1955, ngành Giao thông thuỷ được thành lập, công tác kiểm tra phương
tiện do "Phòng hàng vận" phụ trách.
Tháng 5/1955, sau khi tiếp quản Hải Phòng, các phương tiện vận tải thuỷ của
Hải Phòng, Kiến An, Hồng Quảng, Hải Ninh do Sở Giao thông Vận tải Hải
Phòng đảm nhận việc kiểm tra, đăng ký. Các phương tiện của Hà nội, Nam
Định, Ninh Bình, Hải Dương và các tỉnh khác do ngành Giao thông trực tiếp
đăng ký.
Ngày 11/8/1956 Chính phủ ký quyết định thành lập Cục Vận tải thuỷ. Cục vận
tải thuỷ bắt đầu xây dựng cơ sở pháp lý hình thành nên những nguyên tắc,
những quy định áp dụng cho toàn ngành Vận tải thuỷ, bao gồm cả công tác
Đăng kiểm:
Nghị định 47-NĐ ngày 12/8/1958 của Bộ Giao thông và Bưu điện về
đăng ký quản lý các phương tiện đi sông và thuyền buồm đi biển.
Nghị định 307-NĐ ngày 18/8/1959 của Thủ tướng Chính Phủ quy định
những nguyên tắc cơ bản về GTVT đường sông.
Thông tư số 3-TT ngày 3/2/1960 của Bộ Giao thông và Bưu điện về việc
đăng ký các thuyền đánh cá.
Năm 1960, Cục Vận tải Đường thuỷ thành lập "Phòng Đăng ký Hải sự" để kiểm
tra, đăng ký các loại tàu sông loại lớn và các loại tàu đi biển. Năm 1962, phòng
Đăng ký Hải sự được đổi tên thành " Phòng Đăng ký giám sát an toàn" bổ sung
thêm nhiệm vụ kiểm tra giám sát an toàn, tổ chức sát hạch thuyền viên đường
sông, đường biển. Đến ngày 15/03/1963, Phòng đăng kiểm được thành lập trực
thuộc vào Cục Đường Thuỷ, hoạt động theo chế độ hạch toán kinh tế, con dấu
riêng. Đây là bước chuẩn bị quan trọng cho việc hình thành Ty Đăng kiểm VN
sau này.
Giai đoạn thành lập Ty Đăng kiểm.
Đăng kiểm đã hình thành 4 chi nhánh: Hải phòng, Hà nội, Nam định, Nghệ An.
Giai đoạn 1964 – 1974 hoạt động Đăng kiểm vươn rộng ra các tỉnh miền
Tây bắc bộ và miền Trung. Ty Đăng kiểm Việt Nam hoàn thành những nhiệm
vụ của ngành trong việc quản lý và giám sát điều kiện an toàn kỹ thuật của
những phương tiện vận tải đường biển, đường sông, của những tàu đánh cá, một
số loại xe lu lăn đường, giám sát chế tạo nồi hơi của ngành đường thuỷ và của
các ngành công nghiệp trong nước.
Giai đoạn thống nhất hoạt động Đăng kiểm trong cả nước ( 1975-1979).
Sau khi thống nhất đất nước năm 1975 mạng lưới Đăng kiểm Việt Nam
được mở rộng trên toàn quốc. Ngay sau khi giải phóng miền Nam đã hình thành
Ty Đăng kiểm miền Nam trực thuộc Tổng cục Giao thông vận tải Việt Nam. Sau
một thời gian ngắn tồn tại, Ty Đăng kiểm miền Nam sát nhập vào Ty Đăng kiểm
Việt Nam, tổ chức Đăng kiểm được thống nhất trong cả nước. Năm 1977 đã
hình thành được 6 chi nhánh trực thuộc:
Chi nhánh Đăng kiểm số 1 ở Hà nội.
Chi nhánh Đăng kiểm số 2 ở Nam Định.
Chi nhánh Đăng kiểm số 3 ở Vinh.
Chi nhánh Đăng kiểm số 4 ở Đà nẵng.
Chi nhánh Đăng kiểm số 6 ở TP.Hồ Chí Minh.
Chi nhánh Đăng kiểm số 8 ở Cần Thơ.
Giai đoạn củng cố, xây dựng và phát triển Đăng kiểm phương tiện thuỷ (1979
– 1995).
Sau quyết định của Chính phủ chuyển Ty Đăng kiểm thành Cục Đăng
kiểm Việt Nam, ngày 11/01/1980 Bộ Giao thông Vận tải có Quyết định số 84/
QĐ/TC về nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức của Cục Đăng kiểm Việt Nam. Cục
Đăng kiểm là cơ quan chịu trách nhiệm đăng ký và kiểm tra về kỹ thuật an toàn
tàu sông, tàu biển, nồi hơi và bình chịu áp lực sử dụng trong ngành giao thông
vận tải.
Năm 1980, lần đầu tiên Đăng kiểm Việt Nam đã ký hiệp định hợp tác với
Đăng kiểm Cộng hòa Dân chủ Đức về uỷ quyền thay thế nhau giám sát kỹ thuật
an toàn giao thông đường bộ, đã ban hành Nghị định 36/CP ngày 29/5/1995,
trong đó có quy định chuyển công tác Đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ
từ Bộ Nội Vụ sang Bộ Giao thông Vận tải. Nhìn thấy vai trò và hoạt động có
hiệu quả của Đăng kiểm Việt Nam trong các lĩnh vực được giao, Bộ Giao thông
Vận tải giao cho Cục Đăng kiểm Việt Nam quản lý và tổ chức thực hiện công
tác Đăng kiểm phương tiện cơ giới đường bộ.
Ngày 7/4/1998, Cục Đăng kiểm Việt Nam chuyển trụ sở từ Hải phòng về
126 Kim Ngưu, Hà nội.
Ngày1/9/2003 Đăng kiểm Việt Nam chuyển trụ sở về số 18 Phạm Hùng,
Hà nội.
Sau bốn mươi năm xây dựng và trưởng thành, Đăng kiểm Việt Nam đã
khẳng định được sự tồn tại và vai trò với những lĩnh vực hoạt động quan trọng
của xã hội. Ban đầu chỉ là giám sát kỹ thuật tàu thuỷ, nồi hơi đến nay Đăng
kiểm Việt Nam đã thực thi chức năng, nhiệm vụ trên tất cả 6 lĩnh vực: phương
tiện cơ giới đường bộ, đường sắt, tàu thuỷ, công trình biển, sản phẩm công
nghiệp, hàng không dân dụng. Mạng lưới hoạt động Đăng kiểm bao trùm khắp
trên toàn quốc. Biểu tượng của Đăng kiểm Việt Nam “VR” được biết đến không
nh ở trong nước mà còn ở nước ngoài.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức.
Sơ đồ cơ cấu tổ chức của Cục đăng kiểm Việt Nam
Nguồn: trang web Cục Đăng kiểm Việt Nam- www.vr.org.vn
2.1.3.1. Lãnh đạo Cục.
Cục Đăng kiểm Việt Nam do Cục trưởng lãnh đạo, và có các Phó Cục
trưởng lãnh đạo.
Cục trưởng chịu trách nhiệm trước Bộ trưởng và pháp luật trong việc thực
hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý về đăng kiểm và các vụ việc tiêu cực xảy ra
trong Cục.
Cục trưởng do Bộ trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm có thời hạn 5 năm. Phó
cục trưởng do Bộ trưởng bổ nhiệm, miễn nhiệm, có thời hạn 5 năm theo đề nghị
lý thực hiện các hoạt động tin học, hệ thống thông tin của Cục.
2.1.3.9. Trung tâm đào tạo.
Trung tâm đào tạo có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng quản lý, tổ
chức thực hiện công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, nhân viên, đăng kiểm viên
trong tất cả lĩnh vực hoạt động của Cục.
2.1.3.10. Văn phòng Cục.
Văn phòng Cục là một tổ chức giúp Cục trưởng tổng hợp, điều phối hoạt
động tất cả các đơn vị của Cục theo chương trình kế hoạch làm việc và thực
hiện công tác hành chính quản trị đối với mọi lĩnh vực hoạt động của Cục.
2.1.3.11. Phòng tài chính - kế toán.
Phòng tài chính - kế toán có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng quản
lý nguồn vốn, tài sản của Cục, tổ chức chỉ đạo công tác kế toán , xây dựng và tổ
chức thực hiện chính sách tài chính - kế toán theo quy định của Nhà nước.
2.1.3.12. Phòng công nghiệp .
Phòng công nghiệp có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng tổ chức thực
hiện và kiểm tra, chứng nhận vật liệu máy móc, trang thiết bị sử dụng trên các
phương tiện thuỷ, thiết bị xếp dỡ, container, nồi hơi, bình chịu áp lực sử dụng
trong giao thông vận tải.
2.1.3.13. Phòng tàu sông.
Phòng tàu sông có chức năng tham mưu giúp Cục trưởng xây dựng quy
phạm, tiêu chuẩn kỹ thuật, quản lý công tác thẩm định thiết kế và giám sát kỹ
thuật, phân cấp và đăng ký kỹ thuật tàu sông, tổ chức thẩm định thiết kế tàu
sông theo quy định.
2.1.3.14. Phòng công trình biển.