Cơ sở pháp lý đối với hoạt động
đầu t nớc ngoài trên thị tr-
ờng chứng khoán Việt Nam
Luật pháp tại mọi quốc gia và đối với mọi ngành nghề, mọi lĩnh vực hoạt
động là một công cụ quản lý nhà nớc hữu hiệu giúp cho các đối tợng đợc điều
chỉnh có định hớng cho hoạt động của mình trên cơ sở bình đẳng, công bằng,
phù hợp với mức độ u tiên hay hạn chế của ngành nghề, lĩnh vực đó trong các
thời kỳ khác nhau. Đối với lĩnh vực chứng khoán và thị trờng chứng khoán ở
Việt Nam, việc tìm hiểu, soạn thảo và ban hành các văn bản pháp luật đã đợc
Chính phủ, các Bộ ngành, cơ quan chuyên trách đã và đang xúc tiến xây dựng,
trong đó có các văn bản điều chỉnh hoạt động ĐTNN trên thị trờng.
1.1.1 Các văn bản áp dụng cho hoạt động
đầu t nớc ngoài nói chung
1.1.1.1 Luật Doanh nghiệp
Đợc Quốc hội thông qua vào năm 1999, Luật Doanh nghiệp là một trong
số ít các luật của Việt Nam gần đạt đợc tiêu chuẩn quốc tế. Luật này đa ra một
khung pháp lý toàn diện về các vấn đề thành lập, kinh doanh, tổ chức lại và
thanh lý các công ty, doanh nghiệp hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam. Luật có
các quy định liên quan tới lĩnh vực chứng khoán nh việc các doanh nghiệp cổ
phần đợc phát hành cổ phiếu, trái phiếu; loại hình cổ phiếu đợc phát hành, tính
chất, đặc điểm từng loại cổ phiếu phát hành, việc mua bán lại cổ phiếu của tổ
chức phát hành và tỷ lệ đợc phép mua bán lại
1
.
Sự ra đời của Luật Doanh nghiệp tạo ra cơ sở cho việc ban hành các văn
bản dới luật về chứng khoán và TTCK.
1.1.1.2 Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam
Thực hiện đờng lối mở cửa nền kinh tế của Đảng và Nhà nớc, nhằm
khuyến khích các nhà ĐTNN đầu t vào Việt Nam , Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt
Nam đợc ban hành ngày 12/11/1996, đợc sửa đổi, bổ sung ngày 9/6/2000. Luật
1 Chơng IV, Luật Doanh nghiệp ban hành ngày 12 tháng 6 năm 1999.
.
2 Các nhà đầu t nớc ngoài thờng trú lâu dài tại Việt Nam có quyền lựa chọn áp dụng Luật Đầu t nớc
ngoài tại Việt Nam hoặc Luật Khuyến khích đầu t trong nớc cho dự án đầu t của mình nhng chỉ đợc lựa
chọn một trong hai Luật đó.
3 Điều 19a, Điều 34 Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, sửa đổi bổ sung ngày 9/6/2000
4 Điều 8, 33, 43, 44 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam
5 Điều 5, khoản 1 Luật Khuyến khích đầu t trong nớc
Nếu lựa chọn áp dụng Luật khuyến khích đầu t trong nớc trong việc mua
cổ phần, góp vốn vào doanh nghiệp, ngời nớc ngoài chỉ đợc góp vốn không quá
30% vốn điều lệ của doanh nghiệp Việt Nam vào những ngành nghề, lĩnh vực
thuộc Danh mục do Thủ tớng Chính phủ phê duyệt. Điều này thể hiện sự khác
nhau giữa hai Luật có thể đợc áp dụng đối với hoạt động ĐTNN ở Việt Nam.
Đây là sự linh hoạt của luật pháp Việt Nam tạo nhiều sự lựa chọn cho nhà ĐTNN
đa ra quyết định phù hợp tình hình thực tế của mình.
Trong Luật cũng quy định quyền lợi và nghĩa vụ đối với thu nhập có đợc
từ khoản đầu t của ngời nớc ngoài vào Việt Nam nh mức thuế 5% chuyển lợi
nhuận ra nớc ngoài; các khoản tiền đợc quyền chuyển ra nớc ngoài
6
.
Trên cơ sở Luật Doanh nghiệp, Luật Đầu t nớc ngoài tại Việt Nam, Luật
Khuyến khích đầu t trong nớc, Chính phủ, các Bộ, ban ngành đã ban hành các
văn bản dới luật nhằm cụ thể hoá các quy định trong luật.
1.1.1.4 Nghị định 64/2002/NĐ-CP ngày 19
tháng 6 năm 2002
Quá trình cổ phần hoá DNNN đã bắt đầu diễn ra từ đầu những năm 90,
nhng đến năm 2002, văn bản pháp lý có tính thống nhất, chuẩn mực quy định rõ
ràng, hớng dẫn cụ thể mọi vấn đề liên quan tới quá trình cổ phần hoá một DNNN
mới đợc ra đời Nghị định 64/2002/NĐ-CP.
Trong Nghị định nêu rõ quyền tham gia mua cổ phần phát hành lần đầu
của các DNNN cổ phần hoá của nhà ĐTNN, giới hạn về tỷ lệ sở hữu và ngành
hớng dẫn thực hiện các quy định trong Nghị định 38/CP.
Việc ban hành Nghị định 38/2003/NĐ-CP và thông t hớng dẫn 08?
2003/TTLT-BKH-BTC đang đặt ra một số vấn đề cần quan tâm đối với bộ phận
doanh nghiệp có vốn ĐTNN cũng nh đối với các thực thể kinh tế liên quan trên
cả hai mặt có lợi và bất lợi:
Một số thuận lợi đối với doanh nghiệp có vốn đầu t n ớc ngoài chuyển đổi:
Hiện tại, doanh nghiệp có vốn ĐTNN không đợc phép phát hành cổ phiếu
hay trái phiếu để huy động vốn. Sau khi chuyển đổi, các doanh nghiệp sẽ trở
thành công ty cổ phần và có thể phát hành chứng khoán. Hơn nữa, cổ phiếu của
loại hình công ty này có thể đợc niêm yết trên TTCK. Điều đó sẽ tạo một kênh
huy động vốn hữu hiệu và nâng cao vị thế, uy tín của các doanh nghiệp này.
Ngoài ra, thị trờng chứng khoán sẽ đợc cung cấp những nguồn hàng lớn, chất l-
ợng cao, góp phần thúc đẩy sự phát triển lớn mạnh của thị trờng. Nh vậy, việc cổ
phần hoá doanh nghiệp có vốn ĐTNN sẽ tạo ra mối quan hệ qua lại tơng hỗ tích
cực giữa khối kinh tế có vốn ĐTNN với TTCK.
Hiện tại, bất kỳ sự chuyển nhợng vốn sở hữu nào phải đợc sự chấp thuận
của cơ quan cấp phép có thẩm quyền, gây mất thời gian cho nhà đầu t. Sau khi
chuyển đổi, mọi sự chuyển nhợng cổ phần đều diễn ra tự do trừ chuyển nhợng
đối với cổ phần của cổ đông nớc ngoài sáng lập. Đặc điểm nay sẽ giúp tăng tính
thanh khoản cho vốn đầu t của chủ doanh nghiệp nói riêng và tổng vốn đầu t của
toàn xã hội. Từ đó giúp phân bổ vốn có hiệu quả trong nền kinh tế.
Hiện tại, thời gian dự án đầu t bị giới hạn theo giấy phép đầu t. Sau khi
chuyển đổi, các doanh nghiệp có vốn ĐTNN sẽ hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp. Cùng với các quy định hiện nay tại các văn bản dới luật không đề cập
tới thời hạn dự án đầu t của các công ty chuyển đổi. Theo đó thời hạn hoạt động
của công ty sẽ không bị giới hạn. Ưu thế đợc thể hiện ở đây là nhà ĐTNN
không phải lo ngại tới thời gian, chi phí cũng nh các thủ tục hành chính phức tạp
trong việc gia hạn giấy phép đầu t nh hiện nay.
Hiện tại, hoạt động theo Luật Đầu t nớc ngoài, các chủ sở hữu thiểu số
nhận đợc sự bảo hộ rất lớn của Luật: (a) bất kỳ cuộc họp nào của Ban Quản trị
xu hớng tất yếu cho sự phát triển một hệ thống toàn diện các doanh nghiệp của
nền kinh tế thị trờng hiện đại, tạo nền tảng cho TTCK phát triển ổn định và vững
mạnh.
1.1.1.6 Quyết định 36/2003/QĐ-TTg ngày
11 tháng 3 năm 2003
Thay thế cho Quyết định 145/1999/QĐ-TTg, Quyết định 36/2003/QĐ-
TTg trở thành văn bản pháp lý cao nhất quy định quy chế góp vốn, mua cổ phần
của nhà ĐTNN trong các doanh nghiệp Việt Nam. Quyết định 36 quy định cả tr-
ờng hợp góp vốn nớc ngoài vào các công ty TNHH và vốn góp của bên nớc ngoài
trong các DNNN cổ phần hoá và công ty cổ phần. Quyết định này có phạm vi
rộng hơn Quyết định 146 khi chỉ áp dụng cho các công ty đợc niêm yết trên
TTCK.
Theo Quyết định, ĐTNN dới hình thức mua cổ phần là hoạt động đợc
phép nhng phải chịu một số giới hạn. Trớc hết là về loại hình công ty ngời
ĐTNN đợc quyền mua cổ phần. Nhà ĐTNN tuy có thể đợc mua cổ phiếu khi
một DNNN mới cổ phần hoá phát hành cổ phiếu lần đầu nhng không đợc trở
thành cổ đông sáng lập đối với các công ty cổ phần hoạt động theo Luật Doanh
nghiệp. Muốn nắm giữ cổ phiếu của các công ty này, nhà ĐTNN chỉ có thể mua
cổ phiếu trong các đợt phát hành sau hoặc mua cổ phiếu hiện có từ các cổ đông
hoặc từ công ty
8
. Quy định này là phù hợp do luật pháp Việt Nam cha cho phép
thành lập doanh nghiệp cổ phần có vốn ĐTNN. Trong thời gian tới, khi một số
doanh nghiệp có vốn ĐTNN đợc chuyển đổi, các quy định này cần đợc xem xét
chỉnh sửa.
Một quy định quan trọng khác để thống nhất với Luật Đầu t nớc ngoài,
Luật khuyến khích đầu t trong nớc là tổ chức, cá nhân nớc ngoài chỉ đợc nắm giữ
tối đa 30% số cổ phiếu đối với công ty đã niêm yết và 30% vốn điều lệ đối với
công ty cha niêm yết. Trên thực tế, vốn điều lệ và giá trị vốn cổ phần có thể
khác nhau sau quá trình sản xuất kinh doanh có lợi nhuận để lại khác không dẫn
thị trờng chứng khoán.
Nghị định đề cập tới cả hai hình thức ĐTNN đợc phép tại Việt Nam: hình
thức đầu t gián tiếp của cá nhân, tổ chức nớc ngoài mua bán chứng khoán trên
thị trờng chứng khoán Việt Nam theo tỷ lệ do Thủ tớng Chính phủ quy định; và
9 Quyết định 260/2002/QĐ-BKH của Bộ Kế hoạch và Đầu t ngày 10/5/2003
hình thức đầu t trực tiếp thành lập tổ chức kinh doanh chứng khoán gồm có công
ty chứng khoán liên doanh và công ty quản lý Quỹ liên doanh. Việc quản lý và
cấp phép hoạt động cho hoạt động đầu t chứng khoán trực tiếp đều do UBCKNN
đảm nhiệm
10
.
Bên cạnh đó, Nghị định cũng bàn tới việc mở văn phòng đại diện của tổ
chức kinh doanh chứng khoán nớc ngoài tại Việt Nam dới sự quản lý của
UBCKNN.
Với định hớng của Nghị định, Chính phủ, Thủ tớng chính phủ và các Bộ,
Ngành liên quan đã có các quy định cụ thể tại các quyết định, thông t nhằm h-
ớng dẫn hoạt động ĐTNN vào thị trờng chứng khoán Việt Nam.
1.1.2.2 Quyết định 146/2003/QĐ-TTg ngày
17 tháng 7 năm 2003
Nhằm tăng cờng thu hút vốn ĐTNN vào thị trờng chứng khoán, tạo luồng
sinh khí mới cho thị trờng và để tạo tính thống nhất giữa các văn bản pháp luật
liên quan, Thủ tớng Chính phủ đã ký ban hành Quyết định 146/2003/QĐ-Ttg
ngày 17/7/2003 thay thế cho Quyết định 139/1999/QĐ-Ttg với các nội dung quy
định về tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu, trái phiếu, vốn góp của phía nớc ngoài trong các
công ty niêm yết, công ty chứng khoán liên doanh.
Trớc đây, tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu tối đa của nhà ĐTNN là 20% số cổ phiếu
đang lu hành của tổ chức niêm yết. Trong khi đó, nhà ĐTNN mua cổ phiếu của
các doanh nghiệp Việt Nam khác theo Quyết định 36/2003/QĐ-TTg và trớc đó
là Quyết định 145/1999/QĐ-TTg có thể nắm giữ tới 30% số cổ phần hoặc vốn
điều lệ của doanh nghiệp Việt Nam. Sự không thống nhất giữa các văn bản pháp
tháng 12 năm 2003
Thông t 121/BTC hớng dẫn cụ thể các quy định trong Quyết định 146/TTg
về tỷ lệ tham gia của bên nớc ngoài vào thị trờng chứng khoán Việt Nam sau khi
đã bàn bạc, thống nhất với UBCKNN.
Thông t này đã đề cập tới nhiều vấn đề trớc đây cha đợc quy định trong
các văn bản pháp luật khác nh vấn đề giải quyết vớng mắc khi tổ chức, cá nhân
nớc ngoài nắm giữ vợt tỷ lệ 30% tổng số cổ phiếu niêm yết theo quy định. Quy
định này tạo hành lang pháp lý cho công tác chuyển đổi một số doanh nghiệp có
vốn ĐTNN đang hoạt động theo Luật Đầu t nớc ngoài chuyển đổi thành công ty
cổ phần và niêm yết trên thị trờng chứng khoán. Tuy vậy, nh chúng ta đợc biết,
vấn đề quy định tỷ lệ nắm giữ cổ phiếu tối đa đối với các đối tợng khác nhau là
nhằm hạn chế hay khuyến khích khả năng kiểm soát và ảnh hởng của các đối t-
ợng đó tới công ty. Trong Thông t này, việc xử lý tỷ lệ nắm giữ vợt mức quy
định chỉ dừng lại ở yêu cầu nhà ĐTNN không đợc tiếp tục mua cổ phiếu và phải
thực hiện bán cổ phiếu mà không bàn tới quyền biểu quyết, quyền nhận cổ tức
của cổ đông nớc ngoài đang nắm giữ tỷ lệ vợt mức hay khoảng thời gian tối đa l-
ợng cổ phiếu vợt mức phải bán ra nh một số quốc gia vẫn áp dụng. Ngoài ra, các
hớng dẫn về việc khuyến khích đối tợng nhà ĐTNN bán cổ phiếu cũng cha đợc
đề cập tới. Vì thế, hiệu quả điều chỉnh của Thông t trong những trờng hợp này
sẽ không cao, gây khó khăn cho đối tợng thực hiện.
Ngoài quy định về tỷ lệ nắm giữ đối với cổ phiếu và vốn góp liên doanh
của Bên nớc ngoài, Thông t có các quy định liên quan tới chứng khoán nợ có thể
chuyển đổi. Đây là loại chứng khoán tơng đối nhạy cảm do chúng cho phép trái
chủ quyền chuyển đổi quyền hạn từ chủ nợ thành chủ sở hữu công ty. Tuy rằng
Thông t đã đề cập đến việc đảm bảo mức nắm giữ tối đa 30% tổng số cổ phiếu
niêm yết của nhà ĐTNN khi chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu song không có
hớng dẫn cụ thể đối với các tổ chức phát hành khi thực hiện quá trình chuyển
đổi. Liệu rằng nhà ĐTNN có buộc phải bán cổ phiếu của mình ra hay không đợc
chuyển đổi trái phiếu thành cổ phiếu. Vấn đề này cần đợc xem xét và có biện
pháp giải quyết.
Thứ ba, việc chuyển ngoại tệ ra nớc ngoài liên quan tới hoạt động kinh
doanh chứng khoán chỉ đợc thực hiện khi nhà ĐTNN đã hoàn thành mọi nghĩa
vụ thuế theo qui định của pháp luật. Khoản ngoại tệ chuyển ra nớc ngoài nếu là
phần vốn đầu t thì phải sau 1 năm kể từ ngày phần vốn đó đợc chuyển vào tài
11 Điều 1 Quyết định 998/2002/QĐ-NHNN
khoản giao dịch mới đợc chuyển ra nớc ngoài, nếu là lợi nhuận đầu t, tiền thu cổ
tức và lãi trái phiếu thì đợc chuyển ra nớc ngoài không hạn chế thời gian.
Có thể thấy Quyết định của NHNN trong việc quản lý ngoại hối sẽ tạo
một số trở ngại đối với nhà ĐTNN. Trớc hết, nhà ĐTNN buộc phải giao dịch với
Thành viên lu ký nớc ngoài để mở tài khoản giao dịch và lu ký mà không thể lựa
chọn Thành viên lu ký trong nớc, nơi có thể cung cấp nhiều dịch vụ chứng khoán
hơn cho họ. Tiếp nữa, khi nhà ĐTNN muốn thay đổi mục tiêu đầu t của mình
sang thị trờng nớc ngoài khác thì không thể rút vốn ra trong vòng 1 năm kể từ
ngày đa vốn vào. Điều này làm giảm tính thanh khoản của đồng vốn đầu t, họ sẽ
dè dặt hơn khi quyết định đầu t vào thị trờng Việt Nam.
Hiện nay, theo Quyết định 51/2003/QĐ-BTC, không tồn tại hai hình thức
thành viên lu ký trong nớc và nớc ngoài mà gọi chung là thành viên lu ký. Nhà
ĐTNN có thể mở tài khoản giao dịch và tài khoản lu ký tại bất kỳ thành viên lu
ký nào. Vì thế, việc quản lý mua bán, giao dịch ngoại tệ đối với nhà ĐTNN mở
tài khoản tại thành viên lu ký là công ty chứng khoán, ngân hàng trong nớc sẽ
gặp khó khăn nếu không sửa đổi Quyết định 998.
Một vấn đề bất cập nữa là vấn đề xác định đâu là lợi nhuận thu đợc từ đầu
t chứng khoán và đâu là vốn gốc nhà ĐTNN mang vào thị trờng đầu t. Mọi
khoản tiền mua bán chứng khoán lời lỗ, vốn gốc đều đợc nhập vào một tài khoản
giao dịch nói chung. Nhà đầu t có thể sử dụng tiền trong tài khoản mua đi bán
lại chứng khoán tại nhiều thời điểm khác nhau và với khối lợng, giá trị chứng
khoán khác nhau. Vì thế, số d tiền tại tài khoản vào thời điểm nhà ĐTNN muốn
rút vốn ra khỏi Việt Nam không thể phân tách đợc hai phần vốn gốc và lãi lỗ từ
kinh doanh chứng khoán. Vấn đề khó khăn này cha đợc hớng dẫn cụ thể trong
Quyết định 998/NHNN.
đầu t vào TTCK Việt Nam.
12 Điều 4 Thông t 74/2000/TT-BTC ngày 27/3/2000
13 Điều 1 Thông t 26/2004/TT-BTC ngày 31/3/2004