Một số biện pháp nâng cao chất lượng Giải toán có lời văn cho học sinh lớp 1 dân tộc thiểu số - Pdf 69

MỤC LỤC

TT

Nội dung

I

PHẦN MỞ ĐẦU

Trang
2

1 Lý do chọn đề tài
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài

2

3 Đối tượng nghiên cứu
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu

3

5 Phương pháp nghiên cứu

3

II

3



7
9

3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp biện pháp

9

3.3 Điêu kiên th
̀
̣
ực hiên giai phap, biên phap
̣
̉
́
̣
́

23

3.4 Môi quan hê gi
́
̣ ưa cac giai phap, biên phap
̃ ́
̉
́
̣
́



9

24
25

1 Kết luận

25

2 Kiến nghị

26

         1. Lý do chọn đề tài

I.  PHẦN MỞ ĐẦU

1


         Môn toán ở tiểu học có một tầm quan trọng đặc biệt. Thông qua môn 
toán trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về toán học, rèn cho học 
sinh kỹ năng tính, giải toán. Đồng thời qua dạy toán giáo viên hình thành cho 
học sinh phương pháp học tập; khả năng phân tích tổng hợp, óc quan sát, trí 
tưởng tượng tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo, tư duy độc lập.
          Đối với mạch kiến thức: “Giải toán có lời văn” là một trong 5 mạch 
kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấp tiểu học. Thông qua giải 
toán có lời văn, các em phát huy được trí tuệ, rèn luyện kỹ  năng tổng hợp: 
đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán. Toán có lời văn là mạch kiến thức  

2


        2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
        ­ Mục tiêu: 
        + Áp dụng một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn.
         + Góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán nói chung và dạy giải  
toán có lời văn nói riêng.
         ­ Nhiệm vụ: Nghiên cứu dạy giải toán có lời văn nhằm giúp học sinh:
        + Nhận biết thế nào là một bài toán có lời văn.
         + Biết giải và trình bày bài giải các bài toán đơn bằng một phép tính 
cộng hoặc một phép tính trừ.
        + Bước đầu phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp giải toán và  khả 
năng diễn đạt đúng.
        3. Đối tượng nghiên cứu, 
        Biện pháp nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” trong chương trình  
lớp 1 ở Tiểu học.
       4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
             Một số  biện pháp nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” trong 
chương trình toán 1. 
        5 . Phương pháp nghiên cứu.
        Để thực hiện nội dung của đề tài, tôi đã sử  dụng một số phương pháp  
cơ bản sau:
        ­ Tổng hợp lý luận thông qua các tài liệu, sách giáo khoa và thực tiễn dạy  
học của lớp 1C ­ khối I­ Trường Tiểu học Ea Bông.
        ­ Đánh giá quá trình dạy toán. Loại bài giải toán có lời văn từ những năm  
gần đây.
        ­ Tiến hành khảo sát chất lượng học sinh.
        ­ Đúc rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu. 
 

thực hiện phương pháp dạy học sẽ  làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm  
của các thế hệ học trò ­ chủ nhân tương lai của đất nước. Như vậy, đổi mới 
phương pháp dạy học sẽ tác động vào mọi thành tố của quá trình giáo dục và 
đào tạo. Nó tạo ra sự  hiện đại hoá của quá trình này. Đổi mới phương pháp 
dạy học thực chất không phải là sự  thay thế  các phương pháp dạy học cũ 
bằng một loạt các phương pháp dạy học mới. Về  mặt bản chất, đổi mới 
phương pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới  
phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để 
ưu điểm các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới 
nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ  động, sáng tạo của người học. Mục  
đích của đổi mới phương pháp dạy học chính là làm thế nào để học sinh phải 
thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo  
trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách thức để có được tri thức ấy 
nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình. Mặt khác môn toán thiết 
thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học theo đặc trưng và khả 
năng của môn Toán, cụ thể là chuẩn bị cho học sinh những tri thức, kỹ năng 
toán học cơ  bản cần thiết cho việc học tập hoặc bước vào cuộc sống lao 
động. Đối với môn Toán lớp Một, môn học có vị  trí nền tảng, là cái gốc, là 
điểm xuất phát của cả  một bộ  môn khoa học. Môn Toán mở  đường cho các  
em đi vào thế  giới kỳ diệu của toán học. Rồi mai đây, các em lớn lên, nhiều 
em trở  thành vĩ nhân, trở  thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ…  
trở  thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực sản xuất và đời 
sống, trên tay có máy tính xách tay, trong túi có máy tính bỏ túi… nhưng không  
bao giờ  các em quên được những ngày đầu tiên đến trường học đếm và tập 
viết 1, 2, 3 … học các phép tính cộng, trừ… Các em không quên được vì đó là  
kỷ  niệm đẹp đẽ  nhất của đời người và hơn thế  nữa, những con số, những  
4


phép tính ấy cần thiết cho suốt cả cuộc đời. Đối với mạch kiến thức : “Giải  

học sinh biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số. Số còn lại là rất mơ 
hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khi viết các 
em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại không 
biết để  trả  lời. Chứng tỏ  các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách  
giải bài toán có lời văn. Giáo viên phải mất rất nhiều công sức khi dạy đến 
phần này. 
         2.2. Những thành công và hạn chế 
a. Những thành công
5


Trong những năm học qua, đã có một vài đồng nghiệp cũng trăn trở về 
các biện pháp “giải toán có lời văn” và bên cạnh đó nhà trường đã tổ chức các 
cuộc thi và giao lưu giữa các lớp trong tổ khối nhằm phát hiện học sinh năng  
khiếu môn Toán và đạt kết quả như sau.
          Kết quả điều tra  năm học 2013 – 2014 

TT

Lớ
p

sĩ 
số

1
2
3

1A

13 49,9% 19 73,1% 10
38,5%

            Kết quả điều tra  năm học 2014 ­ 2015

TT

Lớ
p

sĩ 
số

HS  viết 
đúng câu 
lời giải
10 71.4%
15 75%
14 70%

HS viết 
HS viết 
HS giải đúng 
đúng phép 
đúng đáp số
cả 3 bước
tính
12 85,7% 12 85,7% 10
71,4%
17

         Về học sinh: Trong các tuyến kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu  
học thì tuyến kiến thức “Giải toán có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn 
nhất đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một  dân tộc 
thiểu số. Bởi vì đối với lớp Một vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu,  
khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế. Một nét nổi bật hiện nay  
nói chung là học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực. 
Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính 
6


của bài   nhưng không thể  trả  lời hoặc lí giải là tại sao các em lại có được 
phép tính đúng như vậy. Thực tế hiện nay cho thấy các em thực sự lúng túng 
khi giải bài toán có lời văn. Một số  em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết  
phân tích đề toán để tìm ra lối giải, chưa biết tổng hợp để  trình bày bài giải,  
diễn đạt vụng về, thiếu lôgic. Ngôn ngữ  toán học còn rất hạn chế, kỹ  năng 
trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học, chưa có biện pháp, phương pháp  
học toán và giải toán một cách máy móc rập khuôn, bắt chước.
         Trình bày bài làm còn chưa sạch đẹp, một số  học sinh chưa biết cách 
đặt câu lời giải  phù hợp hoặc  không hiểu nội dung bài toán có lời văn dẫn 
đến không làm được bài.
         Về  giáo viên: Một số giáo viên ngại sử dụng đồ  dùng minh hoạ, ngại 
tóm tắt bằng sơ  đồ  hình vẽ  hoặc đoạn thẳng, sử  dụng phương pháp phân 
tích, tổng hợp trong việc giúp học sinh tìm đường lối giải và giải toán còn  
khó hiểu.
          Về đồ dùng dạy học: Tư duy của học sinh lớp Một là tư duy cụ thể, để 
học sinh học tốt “giải toán có lời văn” trong quá trình giảng dạy rất cần đồ 
dùng thiết bị  dạy học để  minh họa. Trong những năm qua, các trường Tiểu  
học đã được cung cấp khá nhiều trang thiết  bị về đồ dùng dạy học đồng bộ 
để dạy cho cả cấp học để dạy theo lớp nhưng thống kê theo danh mục thì số 
lượng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu dạy “giải toán có lời văn”.

một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng 
không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy.  
Thực tế hiện nay cho thấy, các em thực sự  lúng túng khi giải bài toán có lời 
văn, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic. Ngôn ngữ  toán học còn rất hạn chế, kỹ 
năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học. 
         + Nguyên nhân từ phía giáo viên:
         Về giáo viên: Vẫn còn một số giáo viên chuyển đổi phương pháp giảng 
dạy còn  lúng túng,  chưa phát  huy  được tích  cực chủ   động của  học  sinh,  
phương pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào tư  duy vào lề  lối dạy học  
hàng ngày. Một số  giáo viên dạy theo cách thông báo kiến thức sẵn có, dạy 
theo phương pháp thuyết trình có kết hợp với đàm thoại, thực chất vẫn là 
“thầy truyền thụ, trò tiếp nhận ghi nhớ”.  
         + Những sai lầm và khó khăn thường gặp của giáo viên và học sinh khi  
dạy và học tuyến kiến thức : “Giải toán có lời văn” ở lớp Một: Về mặt nhận 
thức giáo viên còn coi việc dạy  “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp Một  
là đơn giản, dễ  dàng nên chưa tìm tòi nghiên cứu để  có phương pháp giảng  
dạy hiệu quả, đôi khi giáo viên giảng  cho học sinh lớp Một đã diễn đạt như 
với các lớp trên làm học sinh khó hiểu và không thể tiếp thu được kiến thức  
trong việc giải các bài toán có lời văn. Khả năng phối hợp, kết hợp với nhiều  
phương pháp để  dạy tuyến kiến thức: “Giải toán có lời văn” ở  lớp Một còn 
thiếu linh hoạt. Giáo viên còn lúng túng khi tạo các tình huống sư  phạm để 
nêu vấn đề. Chưa khuyến khích động viên và giúp đỡ  một cách hợp lý các  
nhóm cũng như các đối tượng học sinh trong quá trình học. Khả năng kiên trì  
của học sinh lớp Một trong quá trình học nói chung cũng như học “Giải toán 
có lời văn” nói riêng còn chưa cao.   
         2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt  
ra
         Vấn đề nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” ở lớp Một hiện nay  
là một vấn đề nan giải mà đa số  giáo viên và nhà trường quan tâm. Để  nâng  
cao chất lượng giải toán có lời văn phải có kế hoạch cụ thể cho đội ngũ giáo  

          ­ Nắm bắt nội dung chương trình Để  dạy tốt môn Toán lớp  Một nói 
chung, “Giải bài toán có lời văn” nói riêng, điều đầu tiên mỗi giáo viên phải 
nắm thật chắc nội dung chương trình, sách giáo khoa. Nhiều người nghĩ rằng  
Toán tiểu học, và đặc biệt là toán lớp Một thì ai mà chả  dạy được. Đôi khi 
chính giáo viên đang trực tiếp dạy cũng rất chủ  quan và cũng có những suy  
nghĩ tương tự như vậy. Qua dự giờ một số đồng chí giáo viên tôi nhận thấy 
giáo viên dạy bài nào chỉ cốt khai thác kiến thức của bài ấy, còn các kiến thức  
cũ có liên quan giáo viên nắm không thật chắc. Người ta thường nói “Biết 10 
dạy 1” chứ không thể  “Biết 1 dạy 1” vì kết quả thu được sẽ không còn là 1  
nữa. 
         ­ Dạy “Giải toán có lời văn” ở lớp Một theo từng mức độ.
        Mức độ 1: Ngay từ đầu học kỳ I các bài toán được giới thiệu ở mức độ 
nhìn hình vẽ  ­ viết phép tính. Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình 
vẽ, suy nghĩ chọn phép tính thích hợp.

9


        Thông thường sau mỗi phép tính ở phần luyện tập có một hình vẽ gồm 5 
ô vuông cho học sinh chọn ghi phép tính và kết quả phù hợp với hình vẽ. Ban 
đầu để giúp học sinh dễ thực hiện sách giáo khoa ghi sẵn các số và kết quả :
Ví dụ: Bài 5 trang 46                                                
        a)
1

  

2

=

=

9

Cách 2: Có 1 hộp đưa vào chỗ 8 hộp, tất cả là 9 hộp. 
10


   
1

+

8

=

9

Tương tự câu b : Có 7 bạn và 2 bạn đang đi tới. Tất cả là 9 bạn. 
 
 Cách 1:
   
7
+
2
=
9
Cách 2:
2

viên các em viết được nhiều phép tính để  tăng cường khả  năng diễn đạt cho 
học sinh. 
11


         Mức độ 2:   Đến cuối học kì I học sinh đã được làm quen với tóm tắt 
bằng lời:
Bài 3 trang 87 
  B, Có      : 10 quả bóng 
       Cho   : 3 quả bóng
       Còn   :.... quả bóng? 
10

­

3

=

7

       
         Học sinh từng bước làm quen với lời thay cho hình vẽ, học sinh dần dần 
thoát ly khỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề bài toán. Yêu cầu học 
sinh phải đọc và hiểu được tóm tắt, biết diễn đạt đề  bài và lời giải bài toán  
bằng lời, chọn phép tính thích hợp nhưng chưa cần viết lời giải.
         Tuy không yêu cầu cao, tránh tình trạng quá tải với học sinh, nhưng có 
thể  động viên học sinh khá giỏi làm nhiều cách, có nhiều cách diễn đạt từ 
một hình vẽ hay một tình huống sách giáo khoa. 
          Mức độ 3:  Giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho học sinh tiếp  

          + Đọc và tìm hiểu đề bài.
         +Tìm đườ ng lối giải bài toán.
         + Trình bày bài giải
         + Ki ểm tra l ại bài giải.
                ­ Mu ốn h ọc sinh hi ểu và có thể  giải đượ c bài toán thì điều quan  
trọng đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu đượ c nội dung bài toán. 
Giáo viên cần tổ  chức cho các em đọc kỹ  đề  toán, hiểu rõ mộ t số  từ  khoá  
quan  tr ọng  nh ư   "   thêm,  và,   tất  cả,   ...  "   ho ặc  "b ớt,   bay  đi,   ăn  mất,  còn  
lại, ..." (có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để  hỗ  trợ). Để  họ c sinh dễ hiểu  
đề  bài, giáo viên cần gạch chân các từ  ngữ  chính trong đề  bài. Một số 
giáo viên còn gạch chân quá nhiều các từ ngữ, hoặc g ạch chân các từ chưa 
sát với nội dung c ần tóm tắt. Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho  
dễ nhìn.
                 Trong giai đoạn đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề  toán 
bằng cách đàm thoại " Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?" và dựa vào 
câu trả  lời của học sinh để  viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm 
tắt để nêu lại đề  toán. Đây là cách rất tốt để  giúp học sinh ngầm phân tích 
đề toán.
         N ếu h ọc sinh g ặp khó khăn trong khi đọc đề  toán thì giáo viên nên 
cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi. 
            Ví dụ   : Bài 3 trang 118, giáo viên có thể hỏi:

13


        + Em thấy d ưới ao có mấy con vịt?  (Dướ i ao có 5 con vịt)
        + Trên bờ có mấy con v ịt? (Trên bờ có 4 con vịt)
        + Trên bờ và dướ i ao có tất cả mấy con v ịt? (Có tất cả 9 con vịt)
         Trong tr ườ ng h ợp không có tranh  ở  sách giáo khoa thì giáo viên có  
thể gắn mẫu vật (gà, vịt, ...) lên bảng từ để  thay cho tranh; ho ặc dùng tóm 

          Ki ểu tóm tắt như  thế này khá gần gũi với cách đặt tính dọc nên có 
tác dụng gợi ý cho học sinh lựa ch ọn phép tính giải.
         Giai đoạn đầu nói chung bài toán nào cũng nên tóm tắt rồi cho học  
sinh dựa vào tóm tắt nêu đề toán. Cần lưu ý dạy giải toán là mộ t quá trình  
không nên  vội  vàng  yêu cầu  các  em phải  đọc  thông thạo  đề  toán,  viết 
đượ c các câu lời giải, phép tính và đáp số  để  có một bài chuẩn mực ngay 
từ  tuần 23, 24. Chúng ta cần bình tĩnh rèn cho học sinh từng b ước, mi ễn  
sao đến cuối năm (tuần 33, 34, 35) h ọc sinh đọc và giải đượ c bài toán là  
đạt yêu cầu. 
        Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề  toán để  xác định rõ cái đã cho và  
cái phải tìm.
        Chẳng h ạn:  Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà. Hỏi nhà An 
có tất cả mấy con gà?
        ­ Bài toán cho bi ết gì? (Nhà An có 5 con gà)
        ­ M ẹ mua thêm bao nhiêu con gà nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà)
        ­ Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)
       Giáo viên nêu tiếp: "Muốn bi ết nhà An có tất cả  mấy con gà em làm 
phép tính gì? (tính cộng) Bao nhiêu cộng bao nhiêu? (5 + 4); 5 + 4 b ằng 
bao nhiêu? (5 + 4 = 9); ho ặc: " Muốn biết nhà An có tất cả  mấy con gà em 
tính thế  nào? (5 + 4  = 9); ho ặc: "Nhà An có tất cả  mấy con gà ?" (9) Em  
tính thế nào để đượ c 9 ? (5 + 4 = 9).
         Tới đây giáo viên gợi ý để  học sinh nêu tiếp "9 này là 9 con gà", nên  
ta viết "con gà" vào trong d ấu ngo ặc đơn: 5 + 4 = 9 (con gà).      
   Sau khi h ọc sinh đã xác định đượ c phép tính, nhiều khi vi ệc h ướ ng d ẫn  
học sinh đặt câu lời giải còn khó hơn việc chọn phép tính và tính ra đáp  
số. Với học sinh lớp 1, l ần đầu tiên đượ c làm quen với cách giải loại toán 
này nên các em rất lúng túng. Có thể dùng một trong các cách sau:
           Cách 1  :  Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ  bớt từ  đầ u  (Hỏi)  và 
cuối (mấy con gà ?) để  có câu lời giải:"Nhà An có tất cả:" hoặc thêm từ 
"là" để có câu lời giải:  Nhà An có tất cả... là: 

  5   +   4   =   9 (con gà)
    Đáp số : 9 con gà 
         N ếu l ời gi ải ghi: "S ố gà nhà An là:" thì phép tính có thể ghi: “5 + 4 = 
9 (con)”. (L ời gi ải đã có sẵn danh t ừ "gà").
          Giáo viên cần hiểu rõ lý do tại sao t ừ  "con gà" lại đượ c đặt trong  
dấu ngoặc đơn?  “Con gà” là giá trị  của đơn vị  chung cho cả  ba ch ữ  s ố 
trong một phép tính. Đúng ra thì 5 + 4 chỉ  bằng 9 thôi (5 + 4 = 9) ch ứ 5 + 4 
không thể  bằng 9 con gà đượ c. Do đó, nếu viết:"5 + 4 = 9 con gà" là sai. 
Nói cách khác, nếu vẫn mu ốn đượ c kết quả  là 9 con gà thì ta phải viết  
như  sau mới đúng: "5 con gà + 4 con gà = 9 con gà". Song cách viết phép  
tính với các đơn vị  đầy đủ  như  vậy khá phiền phức và dài dòng, gây khó 
khăn và tốn nhiều thời gian đối với học sinh lớp 1. Ngoài ra học sinh cũng 
hay viết thi ếu và sai như sau: 
5 con gà + 4 = 9 con gà 
5 + 4 con gà = 9 con gà 
5 con gà + 4 con gà = 9
         Về m ặt toán học thì ta phải dừng lại  ở 9, nghĩa là chỉ  đượ c viết 5 + 
4 = 9 thôi.
16


          Song vì các đơn vị  cũng đóng vai trò rất quan tr ọng trong các phép  
tính giải nên vẫn phải tìm cách để  đưa chúng vào phép tính. Do đó, ta mới  
ghi thêm đơn vị  "con gà"  ở  trong dấu ngo ặc đơ n để  chú thích cho số  9 đó. 
Có thể hiểu rằng ch ữ "con gà” viết trong dấu ngoặc đơ n ở  đây chỉ  có mộ t 
sự  ràng buộc về mặt ng ữ  nghĩa với số  9, chứ  không có sự  ràng buộc chặt 
chẽ  về  toán học  với số  9. Như  vậy cách viết 5 + 4 = 9 (con gà) là một 
cách viết phù hợp. 
         Học sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp Một thườ ng có thói quen 
khi làm bài xong không hay xem, ki ểm tra l ại bài đã làm. Giáo viên cần 


        Có ...bạn, có thêm ... bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn?
        HS quan sát tranh và trả lời câu hỏi 
        Điền vào chỗ chấm số 1 và số 3. 
        Qua tìm hiểu bài toán giúp cho học sinh xác định được bài có lời văn gồm 
2 phần:
        ­ Thông tin đã biết gồm 2 yếu tố.
   ­ Câu hỏi ( thông tin cần tìm )
        Từ đó học sinh xác định được phần còn thiếu trong bài tập ở trang116:
   Có 1 con gà mẹ và 7con gà con. Hỏi có tất cả bao nhiêu con gà?
   Kết hợp giữa việc quan sát  tranh và trả lời câu hỏi gợi ý của giáo viên, 
học
sinh hoàn thành bài toán 4 trang 116:
 Có 4 con chim đậu trên cành, có thêm 2 con chim bay đến. Hỏi có tất cả 
bao nhiêu con chim? 
       Tiết 82:  Giải toán có lời văn. ( trang 117)
  Giáo viên nêu bài toán .                        Học sinh đọc bài toán
  ­ Đây là bài toán gì?
    
Bài toán có lời văn.
  ­ Thông tin cho biết là gì ?
    
Có 5 con gà, mua thêm 4 con gà.
  ­ Câu hỏi là gì ?                                    Hỏi   nhà   An   có   tất   cả   mấy   con 
gà ?    
  Dựa vào tranh vẽ và tóm tắt mẫu 

18



                                             Bài  giải 
                                         Có tất cả số bạn là :
                                              6 + 3 = 9( bạn )
                                                  Đáp số: 9 bạn
   Qua 2 bài toán trên tôi rút ra cách viết câu lời giải như sau: Lấy dòng thứ 

của phần tóm tắt, thêm chữ là:   
  Ví dụ :  ­ Cả hai bạn có là:
               ­  Có tất cả là: 
  Tiết 85    Luyện tập 
       Bài 1 trang 122  HS đọc đề toán – phân tích bài toán ( như trên )
                             Điền số vào tóm tắt 
                              Vài ba học sinh nêu câu lời giải khác nhau
                             GV chốt lại một cách trả lời mẫu:
        ­ Số quả bóng của An có tất cả là:
        => Vậy qua bài tập trên học sinh đã mở rộng được nhiều cách viết câu 
lời giải khác nhau, song giáo viên chốt lại cách viết lời giải như sau:
          Thêm chữ   Số  + đơn vị tính của bài toán trước cụm từ  có tất cả là 
như ở tiết 82 đã làm.
           Riêng với loại bài mà đơn vị tính là đơn vị đo độ dài (cm) cần thêm chữ 
dài vào trước chữ là
20


    
Ví dụ 
                           Tóm tắt 
              Đoạn thẳng AB      :  5cm
              Đoạn thẳng BC      :  3cm
              Cả hai đoạn thẳng  : ... cm?


Bài 1 trang148

Tóm tắt
Có       : 8 con chim
Bay đi  : 2 con chim
Còn lại   :... con chim?
Bài giải
Số  chim còn lại là:
                   8 ­ 2 = 6 (con chim)
                               Đáp số : 6 con chim.
Bài 3 trang 149
Tóm tắt
Đàn vịt có : 8 con
ở dưới ao  : 5 con
    Trên bờ    : ... con?
Bài giải
Trên bờ có số con vịt là:
            8 – 5 = 3 (con vịt)
                         Đáp số:  3 con vịt .
        * Nhưng bài 4 trang 150 và bài 4 trang151 thì lời giải dựa vào dòng thứ 3 
của phần tóm tắt bài toán:
                         Bài giải 
                  Bài giải
22


Số hình tam giác không tô màu là :            Số hình tròn không tô màu là:
                 8  ­  4 = 4( hình )                                      15 ­  4 = 11( hình ) 
                  Đáp số: 4 hình tam giác                            Đáp số: 11 hình tròn.

  ­ Thay chữ bao nhiêu bằng chữ  số. 
  ­ Thêm vào cuối câu chữ  là và dấu hai chấm 
  Cụ thể Bài 1 trang 152

23


  A, Câu hỏi là:       Hỏi có tất cả bao nhiêu ô tô?
     Câu lời giải là:        Có tất cả     số          ô tô là : 
  B, Câu hỏi là:     Hỏi trên cành còn lại bao nhiêu con chim?
     Câu lời giải là:       Trên cành còn lại     số          con chim là :
     VD khác:
          Câu hỏi là: Hỏi hai lớp trồng được tất cả bao nhiêu cây ?
          Câu lời giải là:       Hai lớp trồng được tất cả số cây là:
          Câu hỏi là: Hỏi con sên bò được tất cả bao nhiêu xăng­ti­mét?
          Câu lời giải là:        Con sên bò được tất cả     số         xăng­ti­mét là?
          Câu hỏi là: Hỏi Lan còn phải đọc bao nhiêu trang nữa thì hết quyển 
sách?
          Câu lời giải là:  Lan còn phải đọc số trang nữa là:
          Trên đây là 2 mẫu toán đơn điển hình của phần giải toán có lời văn ở 
lớp Một. Tôi đã đưa ra phương pháp dạy từ  dễ  đến khó để  học sinh có thể 
giải toán mà không gặp khó khăn ở bước viết câu lời giải. Tối thiểu học sinh  
có lực học trung bình yếu cũng có thể chọn cho mình một cách viết đơn giản 
nhất bằng cụm từ:  
                     Có tất cả là:
                                        Hoặc :   Còn lại là:
         Còn học sinh khá giỏi các em có thể chọn cho mình được nhiều câu lời  
giải khác nhau nâng dần độ khó thì lời giải càng hay và sát với câu hỏi hơn.
3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
         Điều kiện để  thực hiện các biện pháp trên có các công văn 4119 /BGD  

công nghiệp hóa, hiện đại hóa: “ Sánh vai với các cường quốc năm châu”.
3.5. Kết quả thu được qua khao nghiêm, gia tri khoa hoc cua vân đê
̉
̣
́ ̣
̣
̉
́
̀ 
nghiên cưu
́.
         Sau một năm triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng giải toán có  
lời văn. Chất lượng giảng dạy, giải toán có lời văn của trường được nâng lên 
rõ rệt, ý thức giáo dục của giáo viên được nâng lên, tỷ lệ học sinh hoàn thành 
nhiệm vụ môn học tăng, tỷ lệ học sinh hoàn thành nhiệm vụ môn học giảm. 
Đặc biệt học sinh  có ý thức cao hơn trong việc học Toán cũng như các môn 
học khác.
        4. Kết quả đạt được
          Kết quả  kiểm tra mức độ  học môn Toán của học sinh năm học 2014­
2015 cho thấy tỉ lệ học sinh hoàn thành các bước giải bài toán có lời văn còn  
hạn chế.
Các lần 
khảo sát

Lớ
p

sĩ 
số


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status