MỤC LỤC
TT
Nội dung
I
PHẦN MỞ ĐẦU
Trang
2
1 Lý do chọn đề tài
2 Mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài
2
3 Đối tượng nghiên cứu
4 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
3
5 Phương pháp nghiên cứu
3
II
3
7
9
3.1 Mục tiêu của giải pháp, biện pháp
3.2 Nội dung và cách thức thực hiện các giải pháp biện pháp
9
3.3 Điêu kiên th
̀
̣
ực hiên giai phap, biên phap
̣
̉
́
̣
́
23
3.4 Môi quan hê gi
́
̣ ưa cac giai phap, biên phap
̃ ́
̉
́
̣
́
9
24
25
1 Kết luận
25
2 Kiến nghị
26
1. Lý do chọn đề tài
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1
Môn toán ở tiểu học có một tầm quan trọng đặc biệt. Thông qua môn
toán trang bị cho học sinh những kiến thức cơ bản về toán học, rèn cho học
sinh kỹ năng tính, giải toán. Đồng thời qua dạy toán giáo viên hình thành cho
học sinh phương pháp học tập; khả năng phân tích tổng hợp, óc quan sát, trí
tưởng tượng tạo điều kiện phát triển óc sáng tạo, tư duy độc lập.
Đối với mạch kiến thức: “Giải toán có lời văn” là một trong 5 mạch
kiến thức cơ bản xuyên suốt chương trình Toán cấp tiểu học. Thông qua giải
toán có lời văn, các em phát huy được trí tuệ, rèn luyện kỹ năng tổng hợp:
đọc, viết, diễn đạt, trình bày, tính toán. Toán có lời văn là mạch kiến thức
2
2. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu:
+ Áp dụng một số biện pháp nâng cao chất lượng giải toán có lời văn.
+ Góp phần nâng cao chất lượng dạy học Toán nói chung và dạy giải
toán có lời văn nói riêng.
Nhiệm vụ: Nghiên cứu dạy giải toán có lời văn nhằm giúp học sinh:
+ Nhận biết thế nào là một bài toán có lời văn.
+ Biết giải và trình bày bài giải các bài toán đơn bằng một phép tính
cộng hoặc một phép tính trừ.
+ Bước đầu phát triển tư duy, rèn luyện phương pháp giải toán và khả
năng diễn đạt đúng.
3. Đối tượng nghiên cứu,
Biện pháp nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” trong chương trình
lớp 1 ở Tiểu học.
4. Giới hạn phạm vi nghiên cứu
Một số biện pháp nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” trong
chương trình toán 1.
5 . Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện nội dung của đề tài, tôi đã sử dụng một số phương pháp
cơ bản sau:
Tổng hợp lý luận thông qua các tài liệu, sách giáo khoa và thực tiễn dạy
học của lớp 1C khối I Trường Tiểu học Ea Bông.
Đánh giá quá trình dạy toán. Loại bài giải toán có lời văn từ những năm
gần đây.
Tiến hành khảo sát chất lượng học sinh.
Đúc rút kinh nghiệm qua quá trình nghiên cứu.
thực hiện phương pháp dạy học sẽ làm thay đổi tận gốc nếp nghĩ, nếp làm
của các thế hệ học trò chủ nhân tương lai của đất nước. Như vậy, đổi mới
phương pháp dạy học sẽ tác động vào mọi thành tố của quá trình giáo dục và
đào tạo. Nó tạo ra sự hiện đại hoá của quá trình này. Đổi mới phương pháp
dạy học thực chất không phải là sự thay thế các phương pháp dạy học cũ
bằng một loạt các phương pháp dạy học mới. Về mặt bản chất, đổi mới
phương pháp dạy học là đổi mới cách tiến hành các phương pháp, đổi mới
phương tiện và hình thức triển khai phương pháp trên cơ sở khai thác triệt để
ưu điểm các phương pháp cũ và vận dụng linh hoạt một số phương pháp mới
nhằm phát huy tối đa tính tích cực, chủ động, sáng tạo của người học. Mục
đích của đổi mới phương pháp dạy học chính là làm thế nào để học sinh phải
thực sự tích cực, chủ động, tự giác, luôn trăn trở tìm tòi, suy nghĩ và sáng tạo
trong quá trình lĩnh hội tri thức và lĩnh hội cả cách thức để có được tri thức ấy
nhằm phát triển và hoàn thiện nhân cách của mình. Mặt khác môn toán thiết
thực góp phần thực hiện mục tiêu giáo dục tiểu học theo đặc trưng và khả
năng của môn Toán, cụ thể là chuẩn bị cho học sinh những tri thức, kỹ năng
toán học cơ bản cần thiết cho việc học tập hoặc bước vào cuộc sống lao
động. Đối với môn Toán lớp Một, môn học có vị trí nền tảng, là cái gốc, là
điểm xuất phát của cả một bộ môn khoa học. Môn Toán mở đường cho các
em đi vào thế giới kỳ diệu của toán học. Rồi mai đây, các em lớn lên, nhiều
em trở thành vĩ nhân, trở thành anh hùng, nhà giáo, nhà khoa học, nhà thơ…
trở thành những người lao động sáng tạo trên mọi lĩnh vực sản xuất và đời
sống, trên tay có máy tính xách tay, trong túi có máy tính bỏ túi… nhưng không
bao giờ các em quên được những ngày đầu tiên đến trường học đếm và tập
viết 1, 2, 3 … học các phép tính cộng, trừ… Các em không quên được vì đó là
kỷ niệm đẹp đẽ nhất của đời người và hơn thế nữa, những con số, những
4
phép tính ấy cần thiết cho suốt cả cuộc đời. Đối với mạch kiến thức : “Giải
học sinh biết nêu lời giải, viết đúng phép tính và đáp số. Số còn lại là rất mơ
hồ, các em chỉ nêu theo quán tính hoặc nêu miệng thì được nhưng khi viết các
em lại rất lúng túng, làm sai, một số em làm đúng nhưng khi cô hỏi lại không
biết để trả lời. Chứng tỏ các em chưa nắm được một cách chắc chắn cách
giải bài toán có lời văn. Giáo viên phải mất rất nhiều công sức khi dạy đến
phần này.
2.2. Những thành công và hạn chế
a. Những thành công
5
Trong những năm học qua, đã có một vài đồng nghiệp cũng trăn trở về
các biện pháp “giải toán có lời văn” và bên cạnh đó nhà trường đã tổ chức các
cuộc thi và giao lưu giữa các lớp trong tổ khối nhằm phát hiện học sinh năng
khiếu môn Toán và đạt kết quả như sau.
Kết quả điều tra năm học 2013 – 2014
TT
Lớ
p
sĩ
số
1
2
3
1A
13 49,9% 19 73,1% 10
38,5%
Kết quả điều tra năm học 2014 2015
TT
Lớ
p
sĩ
số
HS viết
đúng câu
lời giải
10 71.4%
15 75%
14 70%
HS viết
HS viết
HS giải đúng
đúng phép
đúng đáp số
cả 3 bước
tính
12 85,7% 12 85,7% 10
71,4%
17
Về học sinh: Trong các tuyến kiến thức toán ở chương trình toán Tiểu
học thì tuyến kiến thức “Giải toán có lời văn” là tuyến kiến thức khó khăn
nhất đối với học sinh, và càng khó khăn hơn đối với học sinh lớp Một dân tộc
thiểu số. Bởi vì đối với lớp Một vốn từ, vốn hiểu biết, khả năng đọc hiểu,
khả năng tư duy lôgic của các em còn rất hạn chế. Một nét nổi bật hiện nay
nói chung là học sinh chưa biết cách tự học, chưa học tập một cách tích cực.
Nhiều khi với một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính
6
của bài nhưng không thể trả lời hoặc lí giải là tại sao các em lại có được
phép tính đúng như vậy. Thực tế hiện nay cho thấy các em thực sự lúng túng
khi giải bài toán có lời văn. Một số em chưa biết tóm tắt bài toán, chưa biết
phân tích đề toán để tìm ra lối giải, chưa biết tổng hợp để trình bày bài giải,
diễn đạt vụng về, thiếu lôgic. Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ năng
trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học, chưa có biện pháp, phương pháp
học toán và giải toán một cách máy móc rập khuôn, bắt chước.
Trình bày bài làm còn chưa sạch đẹp, một số học sinh chưa biết cách
đặt câu lời giải phù hợp hoặc không hiểu nội dung bài toán có lời văn dẫn
đến không làm được bài.
Về giáo viên: Một số giáo viên ngại sử dụng đồ dùng minh hoạ, ngại
tóm tắt bằng sơ đồ hình vẽ hoặc đoạn thẳng, sử dụng phương pháp phân
tích, tổng hợp trong việc giúp học sinh tìm đường lối giải và giải toán còn
khó hiểu.
Về đồ dùng dạy học: Tư duy của học sinh lớp Một là tư duy cụ thể, để
học sinh học tốt “giải toán có lời văn” trong quá trình giảng dạy rất cần đồ
dùng thiết bị dạy học để minh họa. Trong những năm qua, các trường Tiểu
học đã được cung cấp khá nhiều trang thiết bị về đồ dùng dạy học đồng bộ
để dạy cho cả cấp học để dạy theo lớp nhưng thống kê theo danh mục thì số
lượng vẫn chưa đáp ứng đủ yêu cầu dạy “giải toán có lời văn”.
một bài toán có lời văn các em có thể đặt và tính đúng phép tính của bài nhưng
không thể trả lời hoặc lý giải là tại sao các em lại có được phép tính như vậy.
Thực tế hiện nay cho thấy, các em thực sự lúng túng khi giải bài toán có lời
văn, diễn đạt vụng về, thiếu lôgic. Ngôn ngữ toán học còn rất hạn chế, kỹ
năng tính toán, trình bày thiếu chính xác, thiếu khoa học.
+ Nguyên nhân từ phía giáo viên:
Về giáo viên: Vẫn còn một số giáo viên chuyển đổi phương pháp giảng
dạy còn lúng túng, chưa phát huy được tích cực chủ động của học sinh,
phương pháp dạy học truyền thống đã ăn sâu vào tư duy vào lề lối dạy học
hàng ngày. Một số giáo viên dạy theo cách thông báo kiến thức sẵn có, dạy
theo phương pháp thuyết trình có kết hợp với đàm thoại, thực chất vẫn là
“thầy truyền thụ, trò tiếp nhận ghi nhớ”.
+ Những sai lầm và khó khăn thường gặp của giáo viên và học sinh khi
dạy và học tuyến kiến thức : “Giải toán có lời văn” ở lớp Một: Về mặt nhận
thức giáo viên còn coi việc dạy “Giải toán có lời văn” cho học sinh lớp Một
là đơn giản, dễ dàng nên chưa tìm tòi nghiên cứu để có phương pháp giảng
dạy hiệu quả, đôi khi giáo viên giảng cho học sinh lớp Một đã diễn đạt như
với các lớp trên làm học sinh khó hiểu và không thể tiếp thu được kiến thức
trong việc giải các bài toán có lời văn. Khả năng phối hợp, kết hợp với nhiều
phương pháp để dạy tuyến kiến thức: “Giải toán có lời văn” ở lớp Một còn
thiếu linh hoạt. Giáo viên còn lúng túng khi tạo các tình huống sư phạm để
nêu vấn đề. Chưa khuyến khích động viên và giúp đỡ một cách hợp lý các
nhóm cũng như các đối tượng học sinh trong quá trình học. Khả năng kiên trì
của học sinh lớp Một trong quá trình học nói chung cũng như học “Giải toán
có lời văn” nói riêng còn chưa cao.
2.5. Phân tích, đánh giá các vấn đề về thực trạng mà đề tài đã đặt
ra
Vấn đề nâng cao chất lượng “giải toán có lời văn” ở lớp Một hiện nay
là một vấn đề nan giải mà đa số giáo viên và nhà trường quan tâm. Để nâng
cao chất lượng giải toán có lời văn phải có kế hoạch cụ thể cho đội ngũ giáo
Nắm bắt nội dung chương trình Để dạy tốt môn Toán lớp Một nói
chung, “Giải bài toán có lời văn” nói riêng, điều đầu tiên mỗi giáo viên phải
nắm thật chắc nội dung chương trình, sách giáo khoa. Nhiều người nghĩ rằng
Toán tiểu học, và đặc biệt là toán lớp Một thì ai mà chả dạy được. Đôi khi
chính giáo viên đang trực tiếp dạy cũng rất chủ quan và cũng có những suy
nghĩ tương tự như vậy. Qua dự giờ một số đồng chí giáo viên tôi nhận thấy
giáo viên dạy bài nào chỉ cốt khai thác kiến thức của bài ấy, còn các kiến thức
cũ có liên quan giáo viên nắm không thật chắc. Người ta thường nói “Biết 10
dạy 1” chứ không thể “Biết 1 dạy 1” vì kết quả thu được sẽ không còn là 1
nữa.
Dạy “Giải toán có lời văn” ở lớp Một theo từng mức độ.
Mức độ 1: Ngay từ đầu học kỳ I các bài toán được giới thiệu ở mức độ
nhìn hình vẽ viết phép tính. Mục đích cho học sinh hiểu bài toán qua hình
vẽ, suy nghĩ chọn phép tính thích hợp.
9
Thông thường sau mỗi phép tính ở phần luyện tập có một hình vẽ gồm 5
ô vuông cho học sinh chọn ghi phép tính và kết quả phù hợp với hình vẽ. Ban
đầu để giúp học sinh dễ thực hiện sách giáo khoa ghi sẵn các số và kết quả :
Ví dụ: Bài 5 trang 46
a)
1
2
=
=
9
Cách 2: Có 1 hộp đưa vào chỗ 8 hộp, tất cả là 9 hộp.
10
1
+
8
=
9
Tương tự câu b : Có 7 bạn và 2 bạn đang đi tới. Tất cả là 9 bạn.
Cách 1:
7
+
2
=
9
Cách 2:
2
viên các em viết được nhiều phép tính để tăng cường khả năng diễn đạt cho
học sinh.
11
Mức độ 2: Đến cuối học kì I học sinh đã được làm quen với tóm tắt
bằng lời:
Bài 3 trang 87
B, Có : 10 quả bóng
Cho : 3 quả bóng
Còn :.... quả bóng?
10
3
=
7
Học sinh từng bước làm quen với lời thay cho hình vẽ, học sinh dần dần
thoát ly khỏi hình ảnh trực quan từng bước tiếp cận đề bài toán. Yêu cầu học
sinh phải đọc và hiểu được tóm tắt, biết diễn đạt đề bài và lời giải bài toán
bằng lời, chọn phép tính thích hợp nhưng chưa cần viết lời giải.
Tuy không yêu cầu cao, tránh tình trạng quá tải với học sinh, nhưng có
thể động viên học sinh khá giỏi làm nhiều cách, có nhiều cách diễn đạt từ
một hình vẽ hay một tình huống sách giáo khoa.
Mức độ 3: Giới thiệu bài toán có lời văn bằng cách cho học sinh tiếp
+ Đọc và tìm hiểu đề bài.
+Tìm đườ ng lối giải bài toán.
+ Trình bày bài giải
+ Ki ểm tra l ại bài giải.
Mu ốn h ọc sinh hi ểu và có thể giải đượ c bài toán thì điều quan
trọng đầu tiên là phải giúp các em đọc và hiểu đượ c nội dung bài toán.
Giáo viên cần tổ chức cho các em đọc kỹ đề toán, hiểu rõ mộ t số từ khoá
quan tr ọng nh ư " thêm, và, tất cả, ... " ho ặc "b ớt, bay đi, ăn mất, còn
lại, ..." (có thể kết hợp quan sát tranh vẽ để hỗ trợ). Để họ c sinh dễ hiểu
đề bài, giáo viên cần gạch chân các từ ngữ chính trong đề bài. Một số
giáo viên còn gạch chân quá nhiều các từ ngữ, hoặc g ạch chân các từ chưa
sát với nội dung c ần tóm tắt. Khi gạch chân nên dùng phấn màu khác cho
dễ nhìn.
Trong giai đoạn đầu, giáo viên nên giúp học sinh tóm tắt đề toán
bằng cách đàm thoại " Bài toán cho biết gì? Bài toán hỏi gì?" và dựa vào
câu trả lời của học sinh để viết tóm tắt, sau đó cho học sinh dựa vào tóm
tắt để nêu lại đề toán. Đây là cách rất tốt để giúp học sinh ngầm phân tích
đề toán.
N ếu h ọc sinh g ặp khó khăn trong khi đọc đề toán thì giáo viên nên
cho các em nhìn tranh và trả lời câu hỏi.
Ví dụ : Bài 3 trang 118, giáo viên có thể hỏi:
13
+ Em thấy d ưới ao có mấy con vịt? (Dướ i ao có 5 con vịt)
+ Trên bờ có mấy con v ịt? (Trên bờ có 4 con vịt)
+ Trên bờ và dướ i ao có tất cả mấy con v ịt? (Có tất cả 9 con vịt)
Trong tr ườ ng h ợp không có tranh ở sách giáo khoa thì giáo viên có
thể gắn mẫu vật (gà, vịt, ...) lên bảng từ để thay cho tranh; ho ặc dùng tóm
Ki ểu tóm tắt như thế này khá gần gũi với cách đặt tính dọc nên có
tác dụng gợi ý cho học sinh lựa ch ọn phép tính giải.
Giai đoạn đầu nói chung bài toán nào cũng nên tóm tắt rồi cho học
sinh dựa vào tóm tắt nêu đề toán. Cần lưu ý dạy giải toán là mộ t quá trình
không nên vội vàng yêu cầu các em phải đọc thông thạo đề toán, viết
đượ c các câu lời giải, phép tính và đáp số để có một bài chuẩn mực ngay
từ tuần 23, 24. Chúng ta cần bình tĩnh rèn cho học sinh từng b ước, mi ễn
sao đến cuối năm (tuần 33, 34, 35) h ọc sinh đọc và giải đượ c bài toán là
đạt yêu cầu.
Sau khi giúp học sinh tìm hiểu đề toán để xác định rõ cái đã cho và
cái phải tìm.
Chẳng h ạn: Nhà An có 5 con gà, mẹ mua thêm 4 con gà. Hỏi nhà An
có tất cả mấy con gà?
Bài toán cho bi ết gì? (Nhà An có 5 con gà)
M ẹ mua thêm bao nhiêu con gà nữa? (Mẹ mua thêm 4 con gà)
Bài toán hỏi gì? (Nhà An có tất cả mấy con gà?)
Giáo viên nêu tiếp: "Muốn bi ết nhà An có tất cả mấy con gà em làm
phép tính gì? (tính cộng) Bao nhiêu cộng bao nhiêu? (5 + 4); 5 + 4 b ằng
bao nhiêu? (5 + 4 = 9); ho ặc: " Muốn biết nhà An có tất cả mấy con gà em
tính thế nào? (5 + 4 = 9); ho ặc: "Nhà An có tất cả mấy con gà ?" (9) Em
tính thế nào để đượ c 9 ? (5 + 4 = 9).
Tới đây giáo viên gợi ý để học sinh nêu tiếp "9 này là 9 con gà", nên
ta viết "con gà" vào trong d ấu ngo ặc đơn: 5 + 4 = 9 (con gà).
Sau khi h ọc sinh đã xác định đượ c phép tính, nhiều khi vi ệc h ướ ng d ẫn
học sinh đặt câu lời giải còn khó hơn việc chọn phép tính và tính ra đáp
số. Với học sinh lớp 1, l ần đầu tiên đượ c làm quen với cách giải loại toán
này nên các em rất lúng túng. Có thể dùng một trong các cách sau:
Cách 1 : Dựa vào câu hỏi của bài toán rồi bỏ bớt từ đầ u (Hỏi) và
cuối (mấy con gà ?) để có câu lời giải:"Nhà An có tất cả:" hoặc thêm từ
"là" để có câu lời giải: Nhà An có tất cả... là:
5 + 4 = 9 (con gà)
Đáp số : 9 con gà
N ếu l ời gi ải ghi: "S ố gà nhà An là:" thì phép tính có thể ghi: “5 + 4 =
9 (con)”. (L ời gi ải đã có sẵn danh t ừ "gà").
Giáo viên cần hiểu rõ lý do tại sao t ừ "con gà" lại đượ c đặt trong
dấu ngoặc đơn? “Con gà” là giá trị của đơn vị chung cho cả ba ch ữ s ố
trong một phép tính. Đúng ra thì 5 + 4 chỉ bằng 9 thôi (5 + 4 = 9) ch ứ 5 + 4
không thể bằng 9 con gà đượ c. Do đó, nếu viết:"5 + 4 = 9 con gà" là sai.
Nói cách khác, nếu vẫn mu ốn đượ c kết quả là 9 con gà thì ta phải viết
như sau mới đúng: "5 con gà + 4 con gà = 9 con gà". Song cách viết phép
tính với các đơn vị đầy đủ như vậy khá phiền phức và dài dòng, gây khó
khăn và tốn nhiều thời gian đối với học sinh lớp 1. Ngoài ra học sinh cũng
hay viết thi ếu và sai như sau:
5 con gà + 4 = 9 con gà
5 + 4 con gà = 9 con gà
5 con gà + 4 con gà = 9
Về m ặt toán học thì ta phải dừng lại ở 9, nghĩa là chỉ đượ c viết 5 +
4 = 9 thôi.
16
Song vì các đơn vị cũng đóng vai trò rất quan tr ọng trong các phép
tính giải nên vẫn phải tìm cách để đưa chúng vào phép tính. Do đó, ta mới
ghi thêm đơn vị "con gà" ở trong dấu ngo ặc đơ n để chú thích cho số 9 đó.
Có thể hiểu rằng ch ữ "con gà” viết trong dấu ngoặc đơ n ở đây chỉ có mộ t
sự ràng buộc về mặt ng ữ nghĩa với số 9, chứ không có sự ràng buộc chặt
chẽ về toán học với số 9. Như vậy cách viết 5 + 4 = 9 (con gà) là một
cách viết phù hợp.
Học sinh Tiểu học đặc biệt là học sinh lớp Một thườ ng có thói quen
khi làm bài xong không hay xem, ki ểm tra l ại bài đã làm. Giáo viên cần
Có ...bạn, có thêm ... bạn đang đi tới. Hỏi có tất cả bao nhiêu bạn?
HS quan sát tranh và trả lời câu hỏi
Điền vào chỗ chấm số 1 và số 3.
Qua tìm hiểu bài toán giúp cho học sinh xác định được bài có lời văn gồm
2 phần:
Thông tin đã biết gồm 2 yếu tố.
Câu hỏi ( thông tin cần tìm )
Từ đó học sinh xác định được phần còn thiếu trong bài tập ở trang116:
Có 1 con gà mẹ và 7con gà con. Hỏi có tất cả bao nhiêu con gà?
Kết hợp giữa việc quan sát tranh và trả lời câu hỏi gợi ý của giáo viên,
học
sinh hoàn thành bài toán 4 trang 116:
Có 4 con chim đậu trên cành, có thêm 2 con chim bay đến. Hỏi có tất cả
bao nhiêu con chim?
Tiết 82: Giải toán có lời văn. ( trang 117)
Giáo viên nêu bài toán . Học sinh đọc bài toán
Đây là bài toán gì?
Bài toán có lời văn.
Thông tin cho biết là gì ?
Có 5 con gà, mua thêm 4 con gà.
Câu hỏi là gì ? Hỏi nhà An có tất cả mấy con
gà ?
Dựa vào tranh vẽ và tóm tắt mẫu
18
Bài giải
Có tất cả số bạn là :
6 + 3 = 9( bạn )
Đáp số: 9 bạn
Qua 2 bài toán trên tôi rút ra cách viết câu lời giải như sau: Lấy dòng thứ
3
của phần tóm tắt, thêm chữ là:
Ví dụ : Cả hai bạn có là:
Có tất cả là:
Tiết 85 Luyện tập
Bài 1 trang 122 HS đọc đề toán – phân tích bài toán ( như trên )
Điền số vào tóm tắt
Vài ba học sinh nêu câu lời giải khác nhau
GV chốt lại một cách trả lời mẫu:
Số quả bóng của An có tất cả là:
=> Vậy qua bài tập trên học sinh đã mở rộng được nhiều cách viết câu
lời giải khác nhau, song giáo viên chốt lại cách viết lời giải như sau:
Thêm chữ Số + đơn vị tính của bài toán trước cụm từ có tất cả là
như ở tiết 82 đã làm.
Riêng với loại bài mà đơn vị tính là đơn vị đo độ dài (cm) cần thêm chữ
dài vào trước chữ là
20
Ví dụ
Tóm tắt
Đoạn thẳng AB : 5cm
Đoạn thẳng BC : 3cm
Cả hai đoạn thẳng : ... cm?
Bài 1 trang148
Tóm tắt
Có : 8 con chim
Bay đi : 2 con chim
Còn lại :... con chim?
Bài giải
Số chim còn lại là:
8 2 = 6 (con chim)
Đáp số : 6 con chim.
Bài 3 trang 149
Tóm tắt
Đàn vịt có : 8 con
ở dưới ao : 5 con
Trên bờ : ... con?
Bài giải
Trên bờ có số con vịt là:
8 – 5 = 3 (con vịt)
Đáp số: 3 con vịt .
* Nhưng bài 4 trang 150 và bài 4 trang151 thì lời giải dựa vào dòng thứ 3
của phần tóm tắt bài toán:
Bài giải
Bài giải
22
Số hình tam giác không tô màu là : Số hình tròn không tô màu là:
8 4 = 4( hình ) 15 4 = 11( hình )
Đáp số: 4 hình tam giác Đáp số: 11 hình tròn.
Thay chữ bao nhiêu bằng chữ số.
Thêm vào cuối câu chữ là và dấu hai chấm
Cụ thể Bài 1 trang 152
23
A, Câu hỏi là: Hỏi có tất cả bao nhiêu ô tô?
Câu lời giải là: Có tất cả số ô tô là :
B, Câu hỏi là: Hỏi trên cành còn lại bao nhiêu con chim?
Câu lời giải là: Trên cành còn lại số con chim là :
VD khác:
Câu hỏi là: Hỏi hai lớp trồng được tất cả bao nhiêu cây ?
Câu lời giải là: Hai lớp trồng được tất cả số cây là:
Câu hỏi là: Hỏi con sên bò được tất cả bao nhiêu xăngtimét?
Câu lời giải là: Con sên bò được tất cả số xăngtimét là?
Câu hỏi là: Hỏi Lan còn phải đọc bao nhiêu trang nữa thì hết quyển
sách?
Câu lời giải là: Lan còn phải đọc số trang nữa là:
Trên đây là 2 mẫu toán đơn điển hình của phần giải toán có lời văn ở
lớp Một. Tôi đã đưa ra phương pháp dạy từ dễ đến khó để học sinh có thể
giải toán mà không gặp khó khăn ở bước viết câu lời giải. Tối thiểu học sinh
có lực học trung bình yếu cũng có thể chọn cho mình một cách viết đơn giản
nhất bằng cụm từ:
Có tất cả là:
Hoặc : Còn lại là:
Còn học sinh khá giỏi các em có thể chọn cho mình được nhiều câu lời
giải khác nhau nâng dần độ khó thì lời giải càng hay và sát với câu hỏi hơn.
3.3. Điều kiện thực hiện giải pháp, biện pháp
Điều kiện để thực hiện các biện pháp trên có các công văn 4119 /BGD
công nghiệp hóa, hiện đại hóa: “ Sánh vai với các cường quốc năm châu”.
3.5. Kết quả thu được qua khao nghiêm, gia tri khoa hoc cua vân đê
̉
̣
́ ̣
̣
̉
́
̀
nghiên cưu
́.
Sau một năm triển khai các giải pháp nâng cao chất lượng giải toán có
lời văn. Chất lượng giảng dạy, giải toán có lời văn của trường được nâng lên
rõ rệt, ý thức giáo dục của giáo viên được nâng lên, tỷ lệ học sinh hoàn thành
nhiệm vụ môn học tăng, tỷ lệ học sinh hoàn thành nhiệm vụ môn học giảm.
Đặc biệt học sinh có ý thức cao hơn trong việc học Toán cũng như các môn
học khác.
4. Kết quả đạt được
Kết quả kiểm tra mức độ học môn Toán của học sinh năm học 2014
2015 cho thấy tỉ lệ học sinh hoàn thành các bước giải bài toán có lời văn còn
hạn chế.
Các lần
khảo sát
Lớ
p
sĩ
số