BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
……………/……………
BỘ NỘI VỤ
……………/……………
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
LÊ THỊ CẨM OANH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH ĐẮK LẮK
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
Mã số: 8 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. LÊ VĂN TỪ
ĐẮK LẮK - NĂM 2019
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, Luận văn “Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn
mới trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk” là công trình nghiên cứu
khoa học của cá nhân tôi, dưới sự hướng dẫn của Thầy TS. Lê Văn Từ - Trưởng
phòng Đào tạo, Bồi dưỡng – Phân viện Học viện Hành chính, Khu vực Tây
Nguyên. Các số liệu, kết quả nêu trong Luận văn là trung thực, khoa học có
nguồn gốc rõ ràng và được trích dẫn đầy đủ theo quy định.
Tác giả
HĐND
Hội đồng nhân dân
UBND
Ủy ban nhân dân
MTQG
Mục tiêu quốc gia
MTTQ
Mặt trận Tổ quốc
NSNN
Ngân sách Nhà nước
NTM
Nông thôn mới
QLNN
Quản lý nhà nước
THCS
Chương 3: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ XÂY DỰNG NÔNG THÔN MỚI Ở HUYỆN KRÔNG BÚK, TỈNH
ĐẮK LẮK ............................................................................................................. 73
3.1. Quan điểm, mục tiêu, định hướng xây dựng nông thôn mới ........................ 73
3.2. Những giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở
huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk ........................................................................... 79
3.3. Kiến nghị ........................................................................................................ 88
KẾT LUẬN ........................................................................................................... 92
TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................................................... 94
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nông nghiệp, nông dân, nông thôn có vai trò to lớn đối với sự nghiệp
cách mạng của Đảng cũng như đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất
nước. Đảng ta xác định đây là vấn đề có tầm chiến lược đặc biệt quan trọng.
Trong mối quan hệ mật thiết giữa nông nghiệp, nông dân và nông thôn,
nông dân là chủ thể của quá trình phát triển, xây dựng nông thôn mới gắn với
xây dựng các cơ sở công nghiệp, dịch vụ và phát triển đô thị theo quy hoạch
là căn bản; phát triển toàn diện, hiện đại hóa nông nghiệp là then chốt [01].
Chủ trương “xây dựng nông thôn mới” bắt đầu hình thành và trở thành
một trong số nhiều mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta nhằm đưa đất nước ta
nói chung và nông thôn nói riêng phát triển một cách tổng thể, toàn diện về
kinh tế - xã hội, chính trị và an ninh quốc phòng. Xây dựng nông thôn mới
với mục đích cuối cùng là nâng cao đời sống cho nông dân.
Để đạt được mục tiêu xây dựng nông thôn mới theo đúng quan điểm,
định hướng, đòi hỏi các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương
phải thực hiện và phát huy hết vai trò trong quản lý, tổ chức, điều hành, ban
hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các cơ chế, chính sách hỗ trợ, hướng dẫn,
kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện, tổ chức thi đua gắn với khen thưởng.
xây dựng nông thôn mới, tỉnh Đắk Lắk nói chung và huyện Krông Búk nói
riêng cũng ban hành nhiều văn bản và triển khai thực hiện Chương trình mục
tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới đạt được nhiều thành tựu quan trọng.
Sau 09 năm thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn
mới (từ năm 2011 đến năm 2019), hiện nay huyện Krông Búk có 2/7 xã đã
được công nhận xã đạt chuẩn nông thôn mới. Vấn đề nông nghiệp, nông dân
và nông thôn được cấp ủy, chính quyền địa phương đặc biệt chú trọng, có
nhiều chuyển biến tích cực, rõ rệt, góp phần thay đổi, nâng cao đời sống vật
chất, tinh thần của người dân trên địa bàn huyện. Tuy nhiên, bên cạnh những
2
kết quả đạt được, quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
huyện Krông Búk vẫn còn những hạn chế như: Một số văn bản ban hành chưa
kịp thời, chưa đảm bảo chất lượng; công tác kiện toàn tổ chức bộ máy quản lý
nhà nước về xây dựng nông thôn mới chưa kịp thời; cán bộ thực hiện công tác
quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới chưa có nhiều kinh nghiệm,
năng lực chuyên môn chưa cao; nguồn lực tuy được đa dạng hóa nhưng vẫn
còn gặp nhiều khó khăn, huy động nguồn lực từ các nguồn ngoài ngân sách
còn hạn chế; công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện chương trình xây dựng
nông thôn mới còn mang tính hình thức, chưa đạt hiệu quả cao.
Xuất phát từ những lý do trên, nhằm đánh giá cụ thể về quản lý nhà nước
về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông Búk, từ đó đề ra những
giải pháp tăng cường quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới để huyện
Krông Búk tiếp tục triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu Quốc gia xây
dựng Nông thôn mới đạt chất lượng và hiệu quả; tôi lựa chọn vấn đề “Quản lý
nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông Búk, tỉnh Đắk
Lắk” làm đề tài nghiên cứu Luận văn Thạc sỹ Quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Luận văn Thạc sỹ Quản lý công “Quản lý nhà nước về xây dựng nông
thôn mới ở huyện Ea Súp, tỉnh Đắk Lắk” (2018) của Phùng Thị Phương Loan.
Đề tài cũng phân tích trên cơ sở lý luận và thực tiễn để đề xuất những giải
pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Ea
Súp, tỉnh Đắk Lắk [16].
Các công trình nghiên cứu trên là những tài liệu hữu ích cho tác giả kế
thừa, tham khảo trong quá trình làm luận văn; tuy nhiên, chưa có công trình,
đề tài nghiên cứu nào nghiên cứu một cách hệ thống, đầy đủ, toàn diện nội
dung quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông
Búk, tỉnh Đắk Lắk.
4
Vì vậy, trên cơ sở kế thừa, phát huy và sử dụng những luận cứ, dữ liệu
quan trọng của các công trình nghiên cứu khoa học khác để nghiên cứu, tác
giả chọn đề tài “Quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn
huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk” đề cập đến những vấn đề chưa được các
công trình nghiên cứu đã công bố đề cập, nghiên cứu, giải quyết.
3. Mục đích và nhiệm vụ của luận văn
3.1. Mục đích
Nghiên cứu quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới để củng cố và
làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận và đề xuất những giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới tại huyện Krông Búk,
tỉnh Đắk Lắk trong thời gian tới.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, nhiệm vụ của luận văn là:
- Hệ thống hóa, phân tích và làm rõ thêm cơ sở lý luận quản lý nhà nước
về xây dựng nông thôn mới.
- Phân tích thực trạng, đánh giá những kết quả đạt được, những hạn chế,
dựng nông thôn mới và quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở tỉnh
Đắk Lắk và ở Việt Nam, đánh giá các quan điểm hợp lý và chưa hợp lý từ đó
đưa ra các kiến giải theo cách tiếp cận của tác giả.
- Phương pháp điều tra xã hội học: Thông qua khảo sát thực tế bằng
phiếu lấy ý kiến đối với 120 cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới và
phiếu khảo sát đối với 120 hộ dân nhằm thu thập thông tin định lượng về đánh
giá của cán bộ làm công tác xây dựng nông thôn mới và một số hộ dân trên
địa bàn huyện Krông Búk đối với thực trạng xây dựng nông thôn mới và quản
lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới ở huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
- Phương pháp tổng hợp và phân tích định lượng: Dựa trên những tài
liệu, thông tin thực tiễn của các ngành, các địa phương và các dữ liệu thu thập
được để phân tích, đánh giá thực trạng XDNTM và QLNN và XDNTM ở
6
huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk, những kết quả và hạn chế làm cơ sở để đưa
ra những kết luận và đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN về XDNTM ở
huyện Krông Búk, tỉnh Đắk Lắk.
Ngoài ra, đề tài còn sử dụng phương pháp thu thập thông tin, nghiên cứu,
so sánh, phân tích để đánh giá thực trạng xây dựng nông thôn mới và quản lý
nhà nước về xây dựng nông thôn mới trên địa bàn huyện Krông Búk.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của Luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận
Luận văn hệ thống hóa và làm sâu sắc thêm cơ sở lý luận về quản lý nhà
nước về xây dựng nông thôn mới trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nước.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn
Luận văn đã chỉ ra những hạn chế và phân tích nguyên nhân của những
hạn chế; đồng thời, đề xuất các giải pháp giúp các nhà quản lý nâng cao hiệu
triển. Nhà nước Việt Nam có nhiều chính sách thúc đẩy phát triển nông thôn
[13].
+ Theo Thông tư số 41/2013/TT-BNNPTNT, ngày 04/10/2013 của Bộ
Nông nghiệp và Phát triển nông thôn về hướng dẫn thực hiện bộ tiêu chí quốc
gia về nông thôn mới: “Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp
hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã” [02].
Tóm lại, có thể hiểu Nông thôn là phần lãnh thổ được quản lý bởi cấp
hành chính cơ sở là Ủy ban nhân dân xã, ở đó hoạt động sản xuất chủ yếu là
nông nghiệp; là nơi cung cấp lương thực, thực phẩm cho đời sống của người
dân; cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu; cung cấp lao động
cho công nghiệp và thành thị; là thị trường rộng lớn để tiêu thụ những sản
phẩm của công nghiệp và dịch vụ. Phát triển nông thôn tạo điều kiện ổn định
8
về mặt kinh tế - chính trị - xã hội. Nông thôn nằm trên địa bàn rộng lớn về các
mặt tự nhiên - kinh tế - xã hội.
- Khái niệm về nông thôn mới:
Khái niệm nông thôn mới dù xuất hiện từ rất sớm, nhưng đã có sự thay
đổi và hoàn thiện, bổ sung nhiều mặt, từ chỗ là một khái niệm đơn lẻ thuần
túy về quy hoạch, còn lý thuyết và mơ hồ, trở thành một khái niệm toàn diện,
bao quát và được cụ thể hóa tới mức có thể đo lường được.
Nông thôn mới trước tiên phải là nông thôn nhưng khác với nông thôn
truyền thống. Trong đó: Đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của người dân
không ngừng được nâng cao, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành
thị; nông dân được đào tạo, tiếp thu các tiến bộ kỹ thuật tiên tiến, có bản lĩnh
chính trị vững vàng, đóng vai trò làm chủ nông thôn mới; nền kinh tế phát
triển toàn diện, bền vững; cơ sở hạ tầng được xây dựng đồng bộ, hiện đại,
phát triển theo quy hoạch, gắn kết hợp lý giữa nông nghiệp với công nghiệp,
Đảng được tăng cường. Xây dựng giai cấp nông dân, củng cố liên minh công
nhân – nông dân – trí thức vững mạnh, tạo nền tảng kinh tế - xã hội và chính
trị vững chắc cho sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa [1].
Trong khi giai cấp công nhân được xác định là giai cấp tiên phong trong
quá trình xây dựng chủ nghĩa xã hội, đội ngũ trí thức là nguồn lực trí tuệ và
nhân tài cho đất nước, thì nông dân là lực lượng cơ bản trong xây dựng nông
thôn mới. Đây là tư tưởng cơ bản định hình cái gọi là “vai trò chủ thể” của
nông dân trong sự nghiệp xây dựng phát triển kinh tế - xã hội của Đảng đã
được đề ra một cách hệ thống trong Nghị quyết 26-NQ/TW.
Tóm lại, Xây dựng nông thôn mới là sự nghiệp cách mạng của toàn
Đảng, toàn dân ta và của cả hệ thống chính trị. Xây dựng nông thôn mới
10
không chỉ đơn thuần là giải quyết những vấn đề xã hội theo sau phát triển
kinh tế, mà là xây dựng một xã hội tổng thể (societal development) trong
tương quan với xã hội đô thị; bao gồm nhiều khía cạnh về kinh tế, văn hóa,
nhu cầu xã hội của nông dân, dân chủ, công bằng xã hội, cơ sở hạ tầng, hệ
thống chính trị, đoàn kết xã hội, trật tự xã hội, quốc phòng, an ninh, môi
trường sinh thái, quy hoạch; trong đó, nông dân đóng vai trò chủ thể trong xây
dựng nông thôn mới.
1.1.2. Đặc điểm, nguyên tắc, nội dung xây dựng nông thôn mới
1.1.2.1. Đặc điểm xây dựng nông thôn mới
Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới là một chương
trình tổng thể phát triển kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh quốc phòng ở các địa
phương. Xây dựng nông thôn mới là cốt lõi của việc thực hiện Nghị quyết
Trung ương 26 về nông nghiệp, nông thôn và nông dân, thể hiện sự quan tâm,
chăm lo của Đảng, Nhà nước để phát triển khu vực nông thôn. Theo chương
nông thôn mới.
Bốn là, tính dân chủ được thể hiện ở hai khía cạnh:
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lê-nin “cách mạng là sự nghiệp
của quần chúng”; theo tư tưởng của Hồ Chí Minh “lấy sức dân để làm lợi
cho dân” cùng với phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”, xây
dựng nông thôn mới chính là một cuộc cách mạng phát huy sức mạnh tổng
hợp của cả hệ thống chính trị, sự tham gia của người dân, giúp người dân
nhận thức rõ trách nhiệm, quyền lợi nhằm chủ động tham gia, tích cực thực
hiện xây dựng nông thôn mới. Vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng
nông thôn mới thể hiện ở chỗ người dân chính là người tham gia xây dựng kế
hoạch, chương trình và tổ chức thực hiện việc xây dựng nông thôn mới ở địa
phương mình; theo dõi, đánh giá, giám sát quá trình triển khai thực hiện các
dự án tại địa phương. Đồng thời, phát huy dân chủ phải gắn với tuân thủ theo
12
pháp luật, tôn trọng kỷ cương. Vai trò của Nhà nước, chính quyền địa phương
chỉ là hỗ trợ, thúc đẩy, định hướng, dẫn dắt.
- Phải phát huy vai trò chủ thể của người dân trong xây dựng nông thôn
mới vì: Xây dựng nông thôn mới là quá trình nâng cao đời sống vật chất và
tinh thần của mỗi người dân. Đồng thời, nguồn lực của Nhà nước rất hạn hẹp
trong khi đó nguồn lực từ trong nhân dân rất dồi dào, phải huy động tối đa các
nguồn lực mới có thể đem lại thành công của chương trình. Nguồn lực của
nhân dân cần huy động ở đây không chỉ là tiền của, công sức mà còn cả trí
tuệ. Thực tiễn xây dựng nông thôn mới ở các địa phương cho thấy nơi nào
huy động được trí tuệ, tâm huyết, tiền của, công sức của mỗi người dân cùng
với Nhà nước và địa phương thực hiện các tiêu chí xã nông thôn mới thì sớm
đạt đích xã nông thôn mới và ngược lại.
Năm là, tính phối hợp: Phối hợp trong xây dựng nông thôn mới thể hiện
tiêu quốc gia;
- Đảm bảo công khai, minh bạch trong quản lý, điều hành thực hiện
các chương trình mục tiêu quốc gia; khuyến khích huy động nguồn
lực xã hội để thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
- Đảm bảo phối hợp chặt chẽ, thường xuyên giữa các bộ, ngành, địa
phương và các cơ quan có liên quan trong quản lý, điều hành thực
hiện chương trình mục tiêu quốc gia; phát huy vai trò chủ thể và sự
tham gia, đóng góp của cộng đồng dân cư vào quá trình lập kế
hoạch, tổ chức thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia [18].
- Gắn kết chặt chẽ giữa Chương trình xây dựng nông thôn mới với
Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững, Chương
trình cơ cấu lại sản xuất nông nghiệp và các chương trình mục tiêu,
các chương trình, dự án khác đang triển khai trên địa bàn nông
14
thôn; gắn với kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội của địa phương và
phù hợp với đồ án quy hoạch xây dựng nông thôn mới đã được cấp
có thẩm quyền phê duyệt [04].
Hai là, nội dung xây dựng nông thôn mới phải hướng tới thực hiện Bộ
tiêu chí Quốc gia được quy định tại Quyết định 1980/QĐ-TTg ngày
17/10/2016 của Thủ tướng Chính phủ.
Ba là, xây dựng nông thôn mới theo phương châm phát huy vai trò chủ
thể của cộng đồng dân cư địa phương là chính, Nhà nước đóng vai trò định
hướng, ban hành các tiêu chí, quy chuẩn, đặt ra các chính sách, cơ chế hỗ trợ
và hướng dẫn. Các hoạt động cụ thể do chính cộng đồng người dân ở thôn, xã
bàn bạc dân chủ để quyết định và tổ chức thực hiện.
Bốn là, được thực hiện trên cơ sở kế thừa và lồng ghép các chương trình
mục tiêu quốc gia, chương trình hỗ trợ có mục tiêu, các chương trình, dự án
đánh giá trách nhiệm của các cấp ủy Đảng, chính quyền xã trong thực
hiện nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới trên địa bàn;
+ Giúp cho cán bộ và nhân dân các địa phương hiểu rõ nội dung cụ thể
của xây dựng nông thôn mới [03].
- Bộ tiêu chí quốc gia về xã nông thôn mới gồm 5 nhóm tiêu chí, 19 tiêu
chí, 49 chỉ tiêu, bao gồm:
+ Nhóm I, Quy hoạch, gồm 01 tiêu chí: Quy hoạch.
+ Nhóm II, Hạ tầng kinh tế - xã hội, gồm 08 tiêu chí: Giao thông; Thủy
lợi; Điện; Trường học; Cơ sở vật chất văn hóa; Cơ sở hạ tầng thương mại
nông thôn; Thông tin và truyền thôn; Nhà ở dân cư.
+ Nhóm III, Kinh tế và tổ chức sản xuất, gồm 04 tiêu chí: Thu nhập; Hộ
nghèo; Lao động có việc làm; Tổ chức sản xuất.
17
+ Nhóm IV, Văn hóa – xã hội – môi trường, gồm 04 tiêu chí: Giáo dục
và đào tạo; Y tế; Văn hóa; Môi trường và an toàn thực phẩm.
+ Nhóm V, Hệ thống chính trị, gồm 02 tiêu chí: Hệ thống chính trị và
tiếp cận pháp luật; Quốc phòng và an ninh [20].
1.1.3. Sự cần thiết phải xây dựng nông thôn mới
Xây dựng nông thôn mới là sự lựa chọn tất yếu để thực hiện phát triển
nông thôn một cách tổng thể, toàn diện vì những lý do sau:
Một là, cơ sở hạ tầng nội thôn còn nhiều yếu kém; nhiều hạng mục công
trình xuống cấp, tỷ lệ giao thông nông thôn được cứng hoá thấp; hệ thống
thuỷ lợi ít được quan tâm đầu tư; chất lượng lưới điện nông thôn chưa đảm
bảo an toàn; cơ sở vật chất về giáo dục, y tế, văn hoá còn nhiều hạn chế, mạng
lưới chợ nông thôn chưa được đầu tư đồng bộ.
Hai là, ngành nông nghiệp vẫn sản xuất theo phương thức manh mún,
nhỏ lẻ, chất lượng nông sản chưa đủ sức cạnh tranh, bảo quản chế biến nông
cộng đồng, duy trì ổn định, an ninh trật tự và thúc đẩy xã hội phát triển theo
một định hướng thống nhất của Nhà nước [12, tr.10].
Có thể hiểu quản lý nhà nước là một dạng quản lý xã hội đặc biệt, mang
tính quyền lực nhà nước và sử dụng pháp luật nhà nước để điều chỉnh các
hành vi của con người trên tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội do các cơ
quan trong bộ máy nhà nước thực hiện, nhằm thỏa mãn nhu cầu hợp pháp của
con người, duy trì sự ổn định và phát triển của xã hội.
- Khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
Từ khái niệm xây dựng nông thôn mới và khái niệm quản lý nhà nước đã
phân tích ở trên có thể hiểu khái niệm quản lý nhà nước về xây dựng nông
thôn mới là hoạt động tổ chức, điều hành của cơ quan nhà nước từ Trung
ương đến địa phương tác động vào khu vực nông nghiệp, nông thôn và nông
dân nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng nông thôn mới, hướng đến sự phát
triển bền vững của nền kinh tế, đưa khu vực nông thôn phát triển toàn diện và
19
đồng bộ theo hướng hiện đại, bền vững, sản xuất hàng hóa lớn, có năng suất,
chất lượng, hiệu quả và khả năng cạnh tranh cao; xã hội ổn định, giàu bản sắc
văn hóa dân tộc; môi trường sinh thái được bảo vệ; hệ thống chính trị ở nông
thôn dưới sự lãnh đạo của Đảng được tăng cường, an ninh trật tự được tăng
cường; đảm bảo cho người dân có cuộc sống tốt đẹp hơn, đời sống vật chất,
tinh thần ngày càng được nâng cao.
1.2.2. Vai trò của quản lý nhà nước về xây dựng nông thôn mới
Để thực hiện thành công chương trình xây dựng nông thôn mới rất cần
sự vào cuộc của cả hệ thống chính trị. Trong đó, cấp ủy Đảng đóng vai trò
lãnh đạo; Nhà nước quản lý, điều hành, tổ chức thực hiện; người dân phát huy
vai trò chủ thể trong xây dựng nông thôn mới; các tổ chức đoàn thể trong hệ
thống chính trị tuyên truyền vận động, đi sâu nắm bắt tâm tư nguyện vọng của