MỘT SỐ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ KIỂM TRA THỐNG KÊ CHẤT LƯỢNG
SẢN PHẨM VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA DOANH NGHIỆP.
I- Năng lực cạnh tranh và vấn đề chất lượng sản phẩm trong doanh nghiệp
nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh.
Năng lực cạnh tranh là vấn đề sống còn của doanh nghiệp trong nền kinh tế
thị trường với sự cạnh tranh gay gắt giữa các doanh nghiệp. Doanh nghiệp nào
không tạo ra sự khác biệt trong sản phẩm và tạo cho sản phẩm của mình những
đặc tính mới, sản phẩm có chất lượng cao sẽ khó tồn tại trên thị trường. Hiện
nay vấn đề nâng cao năng lực cạnh tranh đang được các doanh nghiệp hết sức
quan tâm và chú trọng.
1. Khái quát về vấn đề năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Doanh nghiệp là một tổ chức kinh tế hoạt động trong cơ chế thị trường. Hay
nói cụ thể hơn, doanh nghiệp là một tổss chức kinh doanh kiếm lời trong khuôn
khổ pháp lý và đạo lý.
Doanh nghiệp có nhiều loại: theo ngành có doanh nghiệp công nghiệp,
nông nghiệp, giao thông, thương mại, tài chính, ngân hàng…theo dạng sản
phẩm có doanh nghiệp sản xuất và doanh nghiệp dịch vụ; theo quy mô có
doanh nghiệp lớn, vừa, nhỏ; theo hình thức sở hữu vốn có doanh nghiệp nhà
nước, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, hợp tác xã, doanh
nghiệp dân doanh, doanh nghiệp liên doanh, công ty hợp danh.
Để tiến hành kinh doanh, trước hết doanh nghiệp phải được thành lập theo
quy định của luật pháp và hoạt động kinh doanh đúng pháp luật; thứ hai là phải
có vốn để thuê nhân lực, mua công nghệ, máy móc, thiết bị, đất đai, nhà
xưởng…; thứ ba là phải có hoạt động sản xuất và kinh doanh.
Để tiến hành sản xuất – kinh doanh doanh nghiệp phải thiết lập một cơ cấu
tổ chức gồm ban lãnh đạo các cấp, các bộ phận, phân công trách nhiệm rõ ràng.
Các bộ phận chủ yếu của doanh nghiệp (xí nghiệp) có thể gồm bộ phận
Marketing, bộ phận mua sắm (máy, thiết bị,công nghệ thông tin…), bộ phận tạo
sản phẩm ( gồm sản xuất hoặc dịch vụ), bộ phận kiểm tra, kiểm soát, bộ phận
đào tạo, bộ phận nghiên cứu và triển khai, bộ phận phân phối( tiêu thụ). Các bộ
phận hoạt động có sự phối hợp chặt chẽ theo sự điều hành của ban lãnh đạo để
Mặt kinh tế thể hiện ở chi phí sản xuất, chi phí đảm bảo chất lượng, chi phí sử
dụng và chi phí môi trường.
Đối với dịch vụ thì chất lượng thể hiện ở:
- Sự đảm bảo của dịch vụ, tức là dịch vụ phải luôn luôn đảm bảo chất
lượng, an toàn, mang lại lòng tin cho khách hàng, đảm bảo tính chính xác
của dịch vụ.
- Trách nhiệm cao của nhân viên: mọi nhân viên phải nhận thức đầy đủ
trách nhiệm của mình trong việc phục vụ khách hàng, sẵn sàng giúp đỡ
khách hàng ngay cả những việc ngoài trách nhiệm của mình; vui vẻ, hoà
nhã, tận tình với khách hàng.
- Trang thiết bị, kỹ thuật để tiến hành dịch vụ phải mang tính hiện đại, tạo
cho dịch vụ tính văn minh đồng thời phục vụ với năng suất cao. Đây là một
tiêu chí khá quan trọng. Khách hàng luôn luôn quan sát sự biểu hiện bên
ngoài của dịch vụ để đánh giá. Đó là cảnh quan môi trương trong và ngoài
nơi cung cấp dịch vụ, trang phục của nhân viên, nếp văn hoá của doanh
nghiệp dịch vụ.
- Giá cả phải hợp lý.
- Tạo sự khác biệt so với các dịch vụ cùng loại. Ví dụ như tạo không gian
thư giãn (đọc sách, xem tranh, ca nhạc, nhảy múa), quà tặng …
Chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng lớn vào quá trình nghiên cứu, thiết kế,
tạo sản phẩm, phân phối; và các yếu tố bên trong, bên ngoài khác của doanh
nghiệp. Ngoài ra, chất lượng sản phẩm còn phụ thuộc vào yếu tố con người,
công nghệ, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu và môi trường.
Phân tích các yếu tố cấu thành chất lượng sản phẩm :
* Nghiên cứu sản phẩm mới: Đây là công việc của marketing, tức là
nghiên cứu tình hình nhu cầu về sản phẩm như về số lượng, chủng loại, kiểu
dáng, màu sắc, bao gói, bao bì, đặc tính kỹ thuật và giá cả của sản phẩm tại từng
phân đoạn của thị trường.
Những thông tin đó phải thu thập đầy đủ, chính xác và nhanh chóng để
doanh nghiệp tạo sản phẩm kịp thời, đáp ứng yêu cầu của khách hàng tại từng
phải tổ chức các dịch vụ đi kèm để phục vụ khách hàng như hướng dẫn lựa
chọn, sử dụng, hướng dẫn về bảo hành, bảo dưỡng, sửa chữa, cung cấp phụ tùng
thay thế…Việc phân phối sản phẩm phải đúng kênh, đảm bảo kịp thời, không
được chậm trễ. Một công việc không kém phần quan trọng nữa, đó là doanh
nghiệp phải thường xuyên điều tra, nắm bắt được sự hài lòng của khách hàng về
những vấn đề liên quan tới việc cung cấp sản phẩm để tiếp tục cải tiến, hoàn
thiện sản phẩm.Có như thế doanh nghiệp mới mong đứng vững trên thị trường.
* Yếu tố con người: “Con người” là yếu tố quan trọng nhất trong tất cả các
yếu tố hình thành và ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm. Con người là nguồn
lực sáng tạo ra các nguồn lực khác. Không có con người không có sự phát minh,
sáng chế, không có công nghệ, không có máy tính, rôbốt…Vì yếu tố này có tầm
quan trọng đặc biệt nên nhiều nước, từ lâu (1940 thế kỷ XX) đã rất chú ý tới nó.
Họ sử dụng nhiều biện pháp để nâng cao năng lực sáng tạo của con người. Nhờ
óc sáng tạo của con người mà chất lượng sản phẩm luôn được cải tiến, có nghĩa
là trình độ kỹ thuật, chức năng, công dụng của sản phẩm ngày càng được nâng
cao trong khi chi phí sản xuất, chi phí đảm bảo chất lượng ngày càng được giảm
xuống, tạo ra sự tiết kiệm lớn cho xã hội.
Để nâng cao năng lực sáng tạo của con người, biện pháp quan trọng nhất
được áp dụng là giáo dục, đào tạo, rèn luyên. Doanh nghiệp nào thiếu quan tâm
tới biện pháp này thì chất lượng lao động sẽ thấp và do đó chất lượng sản phẩm
kém, doanh nghiệp có năng lực cạnh tranh thấp hoặc sẽ không có năng lực cạnh
tranh, không có lợi nhuận, do đó không thể tồn tại được trên thương trường.
* Công nghệ sản xuất: Công nghệ là những phương pháp, những công
thức, những bí mật để tạo ra những sản phẩm mới. Cùng một sản phẩm có nhiều
phương pháp sản xuất khác nhau, cho những hiệu quả khác nhau. Công nghệ
càng hiện đại hiệu quả càng cao, tuy nhiên không thể tách rời các yếu tố một
cách biệt lập, chúng nằm trong quan hệ tổng hoà.
Công nghệ hiện đại là công nghệ có phương pháp tiên tiến: sử dụng ít nhân
lực, tiêu tốn ít nguyên liệu, năng lượng, ít thời gian, chất lượng sản phẩm tốt,
không gây ô nhiễm môi trường do đó mang lại hiệu quả cao cho toàn xã hội.
công nghệ, tiêu chuẩn kỹ thuật. Theo họ chất lượng sản phẩm là sự phù hợp
các tiêu chuẩn kỹ thuật hay là những đặc tính bên trong của sản phẩm có thể
đo được hoặc so sánh được, phản ánh giá trị sử dụng và chức năng của sản
phẩm.
Quan điểm theo hướng khách hàng:
Những người theo quan điểm này coi sự thành công hay thất bại là doanh
nghiệp mang được bao nhiêu giá trị cho khách hàng. Chẳng hạn theo quan
điểm của Philip Crosby ( Mỹ ) trong tác phẩm “Chất lượng là cho không”
ông đưa ra quan điểm: “chất lượng sản phẩm là sự phù hợp với yêu cầu”.
Theo quan điểm của J.Susan chứng minh “Chất lượng sản phẩm là sự thoả
mãn nhu cầu thị trường với chi phí nhỏ nhất”.
Tổ chức tiêu chuẩn chất lượng quốc tế ISO đã đưa ra khái niệm về chất
lượng sản phẩm như sau: “chất lượng sản phẩm là chất lượng của một sản
phẩm nào đó là phù hợp với tất cả các tính chất biểu thị sử dụng phù hợp với
tất cả các tính chất biểu thị giá trị sử dụng phù hợp với nhu cầu xã hội, điều
kiện kinh tế - xã hội nhất định, đảm bảo yêu cầu của người sử dụng, đảm bảo
các tiêu chuẩn thiết kế và kỹ năng sản xuất của từng nước” (TCVN –
5814:1994)
Quan điểm về chất lượng sản phẩm luôn luôn phát triển, bổ sung và mở
rộng hơn nữa để phù hợp với sự phát triển mạnh mẽ hiện nay. Nên các khái
niệm về chất lượng sản phẩm luôn là chỉ tiêu động, vì vậy để đáp ứng yêu cầu
của khách hàng các doanh nghiệp cần phải quan tâm tới vấn đề đổi mới, cải tiến
chất lượng sản phẩm. Tuy nhiên, các doanh nghiệp không thể theo đuổi chất
lượng sản phẩm với bất cứ giá nào vì luôn luôn có giới hạn về kinh tế, xã hội và
công nghệ. Do đó, chất lượng sản phẩm là sự kết hợp các đặc tính của sản phẩm
có thể thoả mãn nhu cầu của khách hàng trong một giới hạn về chi phí nhất định
phù hợp với doanh nghiệp.
2. Phân loại chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm có nhiều tiêu chí để đánh giá. Do đó, để tiện lợi trong
việc theo dõi và quản lý chất lượng sản phẩm người ta chia chất lượng sản phẩm
3. Các nhân tố ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Chất lượng sản phẩm không chỉ được hình thành trong quá trình sản xuất
mà nó là kết quả của quá trình liên tục: từ thiết kế sản phẩm đến khi sản phẩm
được đưa ra thị trường. Trong suốt quá trình đó chất lượng sản phẩm chịu ảnh
hưởng tác động của nhiều nhân tố, bao gồm nhân tố bên trong và nhân tố bên
ngoài doanh nghiệp, cụ thể:
3.1 Nhân tố bên trong doanh nghiệp:
Chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng của nhiều nhân tố bên trong doanh
nghiệp, nên để tiện cho việc phân tích người ta đã sắp xếp chúng thành nhóm
1
.
1 Dựa vào tài liệu của Khoa khoa học quản lý, giáo trình Khoa học quản lý tập II; TS. Đoàn Thị Thu Hà, TS.
Nguyễn Thị Ngọc Huyền, trang 286-291.
Sơ đồ : Các nhân tố bên trong ảnh hưởng tới chất lượng sản phẩm
Men
(Con người)
Material (NVL)
Machines (máy móc)
Method (Phương thức)
Chất lượng sản phẩm
* Material (Nguyên vật liệu):
Nguyên vật liệu phản ánh cấu tạo của sản phẩm về mặt giá trị, là cơ sở cơ
bản tạo nên chất lượng của sản phẩm, vì toàn bộ giá trị của nguyên vật liệu
được chuyển hết một lần vào giá trị của sản phẩm. Chủng loại cơ cấu, tính đồng
nhất, và chất lượng của nguyên vật liệu ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm.
* Machines (Máy móc và khả năng công nghệ):
Máy móc thiết bị là quá trình phức tạp, nó làm biến đổi ít hoặc nhiều tính
chất ban đầu của nguyên vật liệu (tuỳ từng giai đoạn sản xuất) sao cho phù hợp
với công dụng của sản phẩm. Do đó, chất lượng sản phẩm chịu ảnh hưởng
không nhỏ của máy móc, thiết bị và công nghệ sản xuất của doanh nghiệp.