BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
…………/…………
BỘ NỘI VỤ
…………/…………
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
QUỐC GIA
TR
Ư
ƠN
G
THỊ
DI
ỆU
TH
ÚY
QUẢN
LÝ
NHÀ
NƯỚC
ĐỐI
VỚI DI
SẢN
VĂN
HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN
NHÀ
NƯỚC
ĐỐI
VỚI DI
SẢN
VĂN
HÓA TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH
QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SỸ QUẢN LÝ CÔNG
Chuyên ngành: Quản lý công
Mã số: 60 34 04 03
NGƯỜI HƯỚNG
DẪN KHOA HỌC
PGS.TS. ĐINH THỊ
MINH TUYẾT
THỪA THIÊN HUẾ NĂM 2018
LỜI CAM ĐOAN
Học viên xin cam đoan đề tài “Quản lý nhà nước đối với di sản văn
hóa trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình” là công trình nghiên cứu
của cá nhân học viên, chưa được công bố ở bất kỳ nơi nào và được thực
hiện trên việc vận dụng các kiến thức đã được học, nghiên cứu các tài liệu
tham khảo, kết hợp với quá trình điều tra khảo sát thực tiễn và với sự
hướng dẫn khoa học của cô giáo – PGS.TS. Đinh Thị Minh Tuyết.
giúp học viên hoàn thành khóa học và luận văn này.
Tuy có nhiều cố gắng, nhưng trong luận văn này không tránh khỏi những
thiếu sót, hạn chế. Học viên kính mong thầy, cô và những người quan tâm đến
đề tài có những đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn thiện hơn.
Một lần nữa học viên chân thành cảm ơn./.
Học viên
Trương Thị Diệu Thúy
MỤC LỤC
Trang bìa
Trang bìa phụ
Lời cảm ơn
Lời cam đoan
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
MỞ ĐẦU....................................................................................................................................... 1
Chương 1.CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DI
SẢN VĂN HÓA........................................................................................................................ 9
1.1. Khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài luận văn.................................. 9
1.2. Vai trò quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá.............................. 16
1.3. Nội dung quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa........................ 19
1.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nước đối với di sản văn hóa của một số địa
phương và bài học tham khảo cho huyện Lệ Thủy.................................. 27
Tóm tắt chương 1……………………………………………………………………………..34
Chương 2. THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC ĐỐI VỚI DI SẢN
VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN LỆ THỦY, TỈNH QUẢNG BÌNH . 35
BQL
BTDT
CHXHCN
DSVH
DTLS
HĐKH
QLNN
TW
UBND
UNESCO
VHTT
VH-TT
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, vừa là mục tiêu, vừa
là động lực của phát triển. Vì vậy phát triển văn hóa là một “trụ
cột” quan trọng của chiến lược phát triển đất nước. Trong nhiệm
vụ phát triển văn hóa, việc bảo tồn, phát huy giá trị các di sản văn
hóa là nội dung phát triển văn hóa rất quan trọng.
Di sản văn hóa là tài nguyên vô giá trong kho tàng di sản văn hóa lâu
đời của dân tộc, là những chứng tích vật chất lẫn tinh thần phản ánh sâu
sắc về đặc trưng văn hóa, về cội nguồn và truyền thống đấu tranh dựng
nước, giữ nước hào hùng, vĩ đại của cộng đồng các dân tộc Việt Nam,
đồng thời là một bộ phận cấu thành kho tàng di sản văn hóa nhân loại.
Di sản văn hóa thể hiện giá trị nhân văn trong đời sống xã hội, là một
dấu tích làm bằng chứng về thành quả lao động của con người, thể hiện
được nét văn hóa riêng, tinh hoa của dân tộc, qua đó thể hiện được nét
đẹp đậm đà bản sắc văn hóa của dân tộc. Di sản văn hóa vừa có giá trị tinh
văn hóa nói riêng là một trong những nhiệm vụ rất quan trọng.
Quản lý tốt di sản văn hóa ở huyện Lệ Thủy đã trở thành một yêu cầu bức
thiết, cần được nghiên cứu có hệ thống, nhằm làm cho tài sản văn hóa đó trở
thành động lực, ưu thế cạnh tranh trong phát triển kinh tế của huyện nói riêng
và tỉnh Quảng Bình nói chung, góp phần phát triển kinh tế - xã hội.
Là người con sinh ra, lớn lên và trưởng thành từ huyện Lệ Thủy, học viên
luôn đau đáu một điều phải làm gì để cho Lệ Thủy phát triển nhanh, nhân dân
Lệ Thủy có cuộc sống ngày càng ấm no, hạnh phúc; làm gì để rút ngắn
khoảng cách về điều kiện và mức sống của người dân cả phương diện
2
vật chất và tinh thần. Đó cũng là một lý do thúc đẩy học viên lựa
chọn đề tài nghiên cứu liên quan đến huyện Lệ Thủy.
Với những lý do trên, học viên chọn đề tài QLNN đối với di
sản văn hóa ở huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình để làm luận văn
thạc sĩ chuyên ngành Quản lý hành chính công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Nghiên cứu về di sản văn hóa không phải là đề tài mới. Trong thực tế, đã
có nhiều nhà khoa học và nhà quản lý nghiên cứu về lĩnh vực này, chẳng hạn:
- Nguyễn Đăng Duy và Trịnh Minh Đức (1993), Bảo tồn di tích lịch
sử văn hóa, Trường Đại học văn hóa. Nội dung cuốn sách được tác giả
trình bày một cách có hệ thống những vẫn đề lý luận về di tích lịch sử
và nghiệp vụ bảo tồn di tích, đồng thời giới thiệu một cách khái lược về
các lại hình di tích lịch sử văn hóa ở Việt Nam. Nghiên cứu được tác giả
thực hiện dưới gốc độ của ngành khoa học bảo tồn bảo tàng.
- Đại học văn hóa (2007), Bảo tàng –Di tích: Những vấn đề lý luận và
- Nguyễn Hoàng (2003), Quảng Bình Di tích – Danh thắng, Sở VH-TT
xuất bản. Quảng Bình có đầy đủ các loại hình di tích danh thắng cấp
Quốc gia và cấp tỉnh. Mỗi di tích có một nét riêng biệt mang đặc trưng
vùng miền rõ nét kéo dài từ huyện Minh Hóa đến huyện Lệ Thủy.
- Hội Di sản văn hóa (2008, 2009, 2014), Quảng Bình ẩn tích thời gian
(T1, T2, T3). Thống kê, bao quát những nét đặc trưng, nổi bật nhất của đời
sống văn hóa, tín ngưỡng, tâm linh và tự nhiên của mảnh đất gió Lào cát
trắng. Mỗi tập sách được chia làm ba phần cụ thể, phần 1 là về di tích,
danh lam, thắng cảnh; phần 2 dành dung lượng cho các danh nhân văn
hóa và lịch sử; phần 3 là để giới thiệu một số lễ hội, lễ và hội đã mai một
hoặc đang được phát huy, phục hồi, có sức sống lâu bền trong cộng đồng.
- Nguyễn Ngọc Hiên (2014), Quảng Bình núi sông hùng vỹ, Nhà xuất bản
Thông tin và Truyền thông. Quảng Bình - một dãi đất hẹp, nơi eo thắt của
4
một địa hình vô cùng độc đáo mà bây giờ đang lần mở như lần mở
pho sách quý để người người được tiếp cận. Người lần mở lại phải
là người có đủ tri thức thời đại mới. “Quảng Bình nhiều đỉnh cao
san” và nhiều con sông với vẻ đẹp mỹ miều hay giàu chất tráng ca.
Là sự tụ về để tạo nên chốn “Địa linh” mà các nhà cổ sử đã viết lên
từ những thời quá vãng cách chúng ta nhiều thế kỷ trước.
Tuy đã có một số công trình nghiên cứu khoa học liên quan đến di sản
văn hóa của huyện Lệ Thủy, nhưng các nghiên cứu này chỉ nghiên cứu
một số các di sản cụ thể và chỉ xem đó là đối tượng của ngành văn hóa
học và ngành lịch sử, ngành khoa học xã hội- nhân văn. Chưa có đề tài
nào nghiên cứu các di sản ở huyện Lệ Thủy với tư cách là đối tượng của
huy các giá trị DSVH, tổ chức kiểm tra các DSVH, kiểm kê, phân loại các
DSVH, huy động các nguồn lực để bảo tồn và phát huy các giá trị DSVH.
- Về không gian: Đề tài được nghiên cứu trên địa bàn huyện Lệ
Thủy, tỉnh Quảng Bình.
- Về thời gian: Đề tài nghiên cứu thực trạng QLNN đối với
DSVH huyện Lệ Thủy từ năm 2008 đến nay.
Đề xuất những giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước cho
thời gian tới. 5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận duy vật biện
chứng và duy vật lịch sử của chủ nghĩa Mác-Lê nin; tư tưởng Hồ Chí Minh;
quan điểm, đường lối của Đảng về bảo tồn và phát huy di sản văn hóa.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu cụ thể sau:
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết: nghiên cứu tài liệu thứ
cấp để tổng hợp các lý luận có liên quan đến đề tài luận văn.
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn:
6
Khảo sát cụ thể tại các di tích lịch sử - văn hóa, các danh lam
thắng cảnh, các lễ hội truyền truyền thống của huyện qua hằng
năm, đánh giá và phân tích thực trạng của các DSVH.
Thống kê, tổng kết kinh nghiệm thực tiễn; qua quá trình công tác
của học viên tại phòng Văn hóa và Thông tin, đồng thời trực tiếp phụ
trách lĩnh vực di sản văn hóa để tiến hành nghiên cứu đề tài luận văn.
hóa trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình
Chương 3: Phương hướng và giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước
đối với di sản văn hóa trên địa bàn huyện Lệ Thủy, tỉnh Quảng Bình.
8
Chương 1
CƠ SỞ KHOA HỌC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
ĐỐI VỚI DI SẢN VĂN HÓA 1.1. Khái niệm cơ
bản liên quan đến đề tài luận văn
1.1.1. Di sản
Di sản là di chỉ, di tích hay danh thắng của một quốc gia như
rừng, dãy núi, hồ, sa mạc, toà nhà, quần thể kiến trúc hay thành phố
của một quốc gia. Di sản là sản phẩm của thiên nhiên và con người,
vì thế di sản luôn có sức hút. Tại những nơi có di sản thì di sản luôn
được bảo tồn, du lịch phát triển tạo ra sự chuyển đổi cơ cấu kinh tế
địa phương, người dân được hưởng lợi nhiều hơn thông qua việc
tham gia dịch vụ du lịch, ngành nghề thủ công truyền thống tại khu
vực di sản và xung quanh khu vực di sản được phục hồi, mở rộng.
1.1.2. Di sản văn hóa
Di sản văn hóa là các di tích, các tác phẩm kiến trúc, tác phẩm điêu khắc
và hội hóa, các yếu tố hay các cấu trúc có tính chất khảo cổ học, ký tự, nhà ở
trong hang đó và các công trình có sự kết hợp giữa công trình xây dựng tách
biệt hay liên kết lại với nhau mà do kiến trúc của chứng, do tính đồng nhất
hoặc vị trí trong cảnh quan, có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm lịch
sử, nghệ thuật và khoa học. Các di chỉ là các tác phẩm do con người tạo nên
hoặc các tác phẩm có sự kết hợp giữa thiên nhiên và nhân tạo và các khu vực
trong đó có các di chỉ khảo cổ có giá trị nổi bật toàn cầu xét theo quan điểm
1.1.2.1. Phân loại di sản văn hóa
* Di sản văn hóa phi vật thế
Di sản văn hóa phi vật thể được hiểu là các tập quán, các hình thức thể
hiện, biểu đạt, tri thức, kỷ năng và kèm theo đó là những công cụ đồ vật, đồ
tạo tác và các không gian văn hóa có liên quan mà các cộng đồng, các nhóm
người và trong một số trường hợp là các cá nhân, công nhận là một phần di
sản văn hóa của họ được chuyển giao từ thế hệ này sang thế hệ khác, di sản
10
văn hóa phi vật thể được các cộng đồng, các nhóm người không ngừng cải
tạo để thích nghi với môi trường và mối quan hệ qua lại giữa cộng đồng với tự
nhiên và lịch sử của họ, đồng thời hình thành trong họ ý thức về bản sắc và
sự kế tục, qua đó khích lệ thêm sự tôn trọng đối với đa dạng văn hóa và tính
sáng tạo của con người [19]. Vì những mục đích của Công ước này, chỉ xét
đến những di sản văn hóa phi vật thể phù hợp với các văn kiện quốc tế hiện
hành về quyền con người, các nhóm người cá nhân và về phát triển bền vững.
Di sản văn hóa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng
hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch
sử, văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng
được tái tạo và được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác bằng
truyền miệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức khác [38].
* Di sản văn hóa vật thể
“Di sản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn
hóa, khoa học, bao gồm di tích lịch sử văn hóa, danh lam thắng cảnh, di
vật, cổ vật, bảo vật quốc gia”. Luật này cũng nêu rõ: “Di tích lịch sử văn
hóa là công trình xây dựng, địa điểm và các di vật, cổ vật quốc gia
Thứ ba, di sản văn hóa phi vật thể phải đại diện cho bản sắc
của dân tộc. Di sản đó cần thể hiện được những nét đẹp về văn
hóa, lối sống, cách sống của cộng đồng. Đó là những nét đẹp nổi
bật, riêng biệt mà khó có thể tìm thấy ở cộng đồng khác.
Thứ tư, di sản văn hóa phi vật thể cần được công nhận bởi cộng đồng sáng
tạo sử dụng di sản. Đúng như UNESCO nhận định “ thiếu đi sự công nhận của
cộng đồng thì không ai có thể quyết định cho họ rằng những sự biểu đạt hay tập
quán đó là di sản của họ”. Cộng đồng là một phần của di sản và do đó, họ là
những người hiểu rõ nhất về nội dung cũng như giá trị của di sản.
12
* Đặc điểm của DSVH vật thể
Thứ nhất, DSVH vật thể thể hiện đời sống tinh thần của con
người dưới hình thức vật chất; là kết quả của hoạt động sáng tạo,
biến những vật và chất liệu trong thiên nhiên thành những đồ vật có
giá trị sử dụng và thẩm mĩ nhằm phục vụ cuộc sống con người.
Thứ hai, DSVH vật thể quan tâm nhiều đến chất lượng và đặc điểm
của đối tượng thiên nhiên, đến hình dáng vật chất, khiến những vật thể và
chất liệu tự nhiên thông qua sáng tạo, kết quả lao động của con người
biến thành những sản phẩm vật chất giúp cho cuộc sống của con người
Thứ ba, DSVH vật thể được khái quát hóa bằng nhiều phương pháp khác
nhau tạo nên những giá trị văn hóa cao trong nền văn hóa của dân tộc, nâng
cao được các giá trị phát triển kinh tế và hội nhập quốc tế cho đất nước.
1.1.3. Quản lý nhà nước về di sản văn hóa
* Quản lý nhà nước về văn hóa
QLNN về văn hóa là hoạt động thực thi quyền hành nhà nước, là sự tác
lớn của QLNN về văn hóa.
* Quản lý nhà nước về di sản văn hóa
QLNN về di sản văn hóa là hoạt động quản lý của nhà nước,
xác định rõ chủ thể quản lý là Nhà nước, bằng chức trách, nhiệm
vụ và quyền hạn của mình đưa ra các luật pháp, chính sách, biện
pháp, nhằm giữ gìn, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa [30].
Di sản văn hóa là nền tảng tạo nên bản sắc và giá trị văn hóa dân tộc,
là một nguồn lực cho phát triển. Ở bình diện cả nước, những năm gần đây
đã có sự chuyển biến tích cực về nhận thức của cán bộ, đảng viên và của
nhân dân đối với công tác bảo tồn và phát huy di sản văn hóa.
* Chủ thể quản lý, đối tượng quản lý di sản
văn hóa Chủ thể quản lý
14
QLNN về DSVH phải gắn liền với chức năng, nhiệm vụ của bộ
máy quản lý từ trung ương đến địa phương. Theo đó, chủ thể
quản lý về DSVH là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền.
Ở cấp trung ương, chủ thể quả lý về di sản văn hóa là Bộ VHTTDL,
thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn theo quy định của Chính phủ về chức
năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ VHTTDL.
Ở cấp địa phương, chủ thể QLNN về di sản văn hóa là UBND các cấp.
Sở Văn hóa Thể thao, Phòng Văn hóa Thông tin, Ban văn hóa xã là cơ quan
chuyên môn, tham mưu giúp việc cho UBND các cấp chính quyền địa
phương về các nội dung và phương thức quản lý, tổ chức bảo vệ, giữ gìn
và phát huy các DSVH ở địa phương theo quy định của Pháp luật.
- UBND cấp huyện có trách nhiệm quản lý các công trình công cộng
được phân cấp; hướng dẫn các phong trào về văn hóa, hoạt động của các
trong những cách đẩy mạnh sự phát triển, phát huy giá trị các DSVH
Đối tượng quản lý di sản văn hóa cấp huyện
Quản lý văn hóa vật thể: quản lý các loại hình di tích, danh
lam thắng cảnh, hiện vật bảo tồn bảo tàng (cổ vật, công cụ lao
động, nhạc cụ, trang phục, tác phẩm nghệ thuật vv.)
Quản lý văn hóa phi vật thể: di sản văn hóa dân gian, các tác
phẩm văn hóa nghệ thuật vô thể.
1.2. Vai trò quản lý nhà nước đối với di sản văn hoá
1.2.1. Định hướng và điều chỉnh hoạt động di sản văn hoá
Hoạt động QLNN về DSVH cụ thể sẽ giúp hạn chế những sai
lệch trong thực thi các chính sách của Nhà nước khi triển khai các
văn bản pháp luật, chính sách trong hoạt động của các DSVH.
Thực hiện chủ trương, đường lối văn hóa của Đảng, các cơ quan QLNN
về DSVH đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền cho người dân tiếp cận với hệ
thống văn bản quy phạm pháp luật trên lĩnh vực văn hóa như: Luật Di sản văn
16
hóa, Luật Du lịch, Luật Bảo vệ môi trường. Hệ thống tổ chức bộ máy quản
lý hoạt động của các DSVH ngày càng được củng cố và hoàn thiện. Việc
kiểm tra, giám sát các hoạt động của các DSVH được tiến hành thường
xuyên, liên tục. Những hoạt động trên đã góp phần bảo đảm định hướng
lớn của Đảng trong việc xây dựng và phát triển nền văn hóa Việt Nam tiên
tiến, đậm đà bản sắc dân tộc. Hơn nữa, hoạt động QLNN về DSVH tại các
địa phương đã góp phần giữ gìn các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp,
nhiều giá trị văn hóa mới được tiếp thu có chọn lọc.
Hoạt động thông tin tuyên truyền, quảng bá về các DSVH được triển
khai sâu rộng đến người dân, khách du lịch thập phương, bạn bè quốc tế