BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
------------/------------
BỘ NỘI VỤ
----/---HỌ
C
VIỆ
N
HÀ
NH
CHÍ
NH
QU
ỐC
GIA
BẾ THỊ TÚ
HẰNG
T
Ổ
C
H
Ứ
C
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT
VỀ ĐĂNG KÝ KINH
DOANH TRÊN ĐỊA BÀN
TỈNH CAO BẰNG
THỰC
HIỆN
PHÁP
LUẬT
VỀ
ĐĂNG
KÝ KINH DOANH TRÊN ĐỊA
BÀN TỈNH CAO BẰNG
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ
CÔNG Chuyên ngành: Quản lý Công
Mã số: 8 34 04 03
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
PGS.TS. LÊ THỊ HƢƠNG
HÀ NỘI - NĂM 2018
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học, độc lập
của tôi. Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ
ràng.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
4
5
6
7
8
9
10
11
12
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU ĐỒ
Hình 1.1.
Hệ thống cơ quan QLN
Hình 1.2.
Sơ đồ cơ quan QLNN
Hình 2.1. Bộ máy trực tiếp thực hiện ĐKDN ở cấp tỉnh là Phòng ĐKKD- Sở Kế
hoạch và Đầu tư .......................................................................................
Bảng 2.1. Số lượng doanh nghiệp thành lập mới giai đoạn 2015 - Tháng 6 năm 2018
trên địa bàn tỉnh Cao Bằng ......................................................................
Bảng 2.2. Số lượng doanh nghiệp đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng từ
2015 - tháng 6/2018 theo loại hình doanh nghiệp ...................................
Bảng 2.3. Số liệu đăng ký hộ kinh doanh từ năm 2015 - đến tháng 6. 2018 ...........
Biểu 2.4. Thống kê số liệu giải thể doanh nghiệp, văn phòng đại diện từ năm 2014
đến tháng 8.2018 ......................................................................................
Biểu 2.5. Thống kê số liệu giải thể, thu hồi hộ kinh doanh từ năm 2014 đến tháng
1.3.4. Sự phát triển của khoa học, công nghệ và ứng dụng trong lĩnh vực đăng
ký kinh doanh................................................................................................... 33
TIỂU KẾT CHƢƠNG 1...................................................................................... 35
Chƣơng 2. THỰC TRẠNG TỔ CHỨC THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG
KÝ KINH DOANH TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH CAO BẰNG.................................36
2.1 Các yếu tố ảnh hƣởng đến tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh
doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.................................................................... 36
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội tỉnh Cao Bằng..................................36
2.1.2.Nguồn nhân lực tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh của
các chủ thể có thẩm quyền ở tỉnh Cao Bằng..................................................... 37
2.1.3. Nhận thức pháp luật về đăng ký kinh doanh........................................... 38
2.2. Thực tiễn tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa
bàn tỉnh Cao Bằng.............................................................................................. 40
2.2.1.Về hoạt động ban hành văn bản hướng dẫn, chỉ đạo về đăng ký kinh
doanh của chính quyền các cấp ở tỉnh Cao Bằng.............................................. 40
2.2.2 Về phổ biến, giáo dục pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn
tỉnh................................................................................................................... 41
2.2.3 Về tổ chức bộ máy, nhân lực, vật lực phục vụ thực hiện pháp luật về đăng
ký kinh doanh trên địa bàn............................................................................... 44
2.2.4 Thực hiện trong thực tế pháp luật về đăng ký kinh doanh tại địa bàn tỉnh
Cao Bằng.......................................................................................................... 48
2.2.5 Kiểm tra, thanh tra, xử lý vi phạm pháp luật về đăng ký kinh doanh trên
địa bàn.............................................................................................................. 57
2.2.6 Về công tác tổng kết, đánh giá tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký
kinh doanh trên địa bàn tỉnh............................................................................ 62
2.3 Nhận xét về tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa
bàn tỉnh Cao Bằng.............................................................................................. 63
2.3.1 Kết quả đạt được và nguyên nhân............................................................ 63
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Đăng ký kinh doanh (ĐKKD) là hoạt động pháp lý khai sinh ra doanh
nghiệp, hoạt động này có vai trò rất quan trọng không chỉ đối với chính doanh
nghiệp được khai sinh mà còn với chủ thể cấp giấy khai sinh cho doanh nghiệp đó.
Bởi vậy, trong những hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, vấn đề
quản lý hoạt động ĐKKD luôn luôn được chú trọng.
Ngày 26/11/2014, Luật Doanh nghiệp năm 2014 được Quốc Hội thông qua
và có hiệu lực từ ngày 01/7/2015 giúp cho cộng đồng doanh nghiệp đã có sự phát
triển mạnh mẽ. Số lượng doanh nghiệp thành lập tăng kéo theo sự gia tăng nhanh
chóng về khối lượng công việc của đăng ký doanh nghiệp (ĐKDN) cũng như yêu
cầu quản lý nhà nước về ĐKDN. Trước yêu cầu ngày càng tăng của khối lượng
công việc ĐKKD cũng như những hạn chế của quy định cũ, các quy định pháp luật
đối với hoạt động ĐKKD có nhiều thay đổi cần được đưa ra xem xét và kiến giải.
Hiện nay, việc tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKD nói chung có nhiều cải
thiện nhưng vẫn còn rất nhiều bất cập, hạn chế, chưa đáp ứng được yêu cầu hội
nhập. Cụ thể là: Hệ thống văn bản pháp luật về ĐKDN chưa đồng bộ; có nhiều chủ
thể có thẩm quyền thành lập và đăng ký các loại hình doanh nghiệp khác nhau; có
sự chồng chéo trong quản lý đối với ĐKDN giữa các loại hình doanh nghiệp (doanh
nghiệp trong nước, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài); việc phối hợp giữa các
cơ quan nhà nước đối với ĐKDN còn nhiều tồn tại. Chính vì vậy việc tổ chức thực
hiện pháp luật đối với ĐKDN đã và đang gặp rất nhiều khó khăn với nhiều lý do cả
khách quan và chủ quan.
Thực tế hiện nay tình trạng doanh nghiệp vi phạm các quy định của Luật
Doanh nghiệp (không chấp hành các nội dung trong hồ sơ ĐKDN, không chấp hành
các nghĩa vụ theo quy định, đặc biệt là nghĩa vụ báo cáo...) có chiều hướng gia tăng
cả về số lượng và tính chất, mức độ vi phạm. Quan ngại hơn cả chính tình trạng này
ĐKDN với mục đích hoàn thiện pháp luật tăng cường hiệu quả việc thực thi có vai
trò vô cùng quan trọng, mang tính cấp thiết. Xuất phát từ các lý do nêu trên, là cán
bộ đang công tác tại Phòng ĐKKD - Sở KH&ĐT Tỉnh Cao Bằng, đề tài: "Tổ chức
3
thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng" đã được tác
giả lựa chọn nghiên cứu để làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên ngành Quản lý công.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài luận văn
Liên quan đến đề tài đã được một số tác giả nghiên cứu, có thể kể ra một số
công trình nghiên cứu như:
Luận văn (2013) ”Hoàn thiện công tác đăng ký kinh doanh ở Việt Nam đến
năm 2020" của tác giả Nguyễn Thị Việt Anh, Đại học kinh tế - Đại học quốc gia Hà
Nội. Tác giả đã phân tích, mổ xẻ các quy định pháp luật về đăng ký kinh doanh
cũng như thực trạng đăng ký kinh doanh ở Việt Nam, trên cơ sở đó đề xuất hướng
hoàn thiện.
Luận văn (2012) “Giải pháp hoàn thiện công tác đăng ký kinh doanh trên địa
bàn tỉnh Phú Thọ” của tác giả Nguyễn Thị Khánh Chi, Trường Đại học kinh tế và
quản trị kinh doanh. Luận văn làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về ĐKKD và pháp
luật tại Việt Nam, phân tích thực trạng hoạt động ĐKKDtrên địa bàn tỉnh Phú Thọ;
đề xuất một số giải pháp hoàn thiện công tác ĐKKD trên địa bàn tỉnh Phú Thọ.
Luận văn (2006) “ Đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp Việt Namthực trạng và một vài kiến nghị” của tác giả Lê Thế Phúc, Đại học quốc gia Hà Nội.
Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận của hoạt động ĐKKD, phân tích thực trạng pháp
luật và thực trạng áp dụng pháp luật về ĐKKD ở Việt Nam hiện nay; đề xuất một
vài kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về ĐKKD trong điều kiện hiện nay.
Luận văn (2017) “Đăng ký kinh doanh theo luật Doanh nghiệp 2014 từ thực
tiễn thành phố Bắc Ninh” của tác giả Phạm Phương Nam, Học Viện khoa học xã
hội. Luận văn làm sáng tỏ cơ sở lý luận về ĐKKD và pháp luật về ĐKKD theo Luật
Doanh nghiệp năm 2014 trên địa bàn thành phố Bắc Ninh; đưa ra giải pháp hoàn
thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về ĐKKD từ thực tiễn thành
giả chỉ rõ trách nhiệm quản lý của các cơ quan quản lý nhà nước đối với doanh
nghiệp trong theo dõi, giám sát, xử lý vi phạm. Trách nhiệm của UBND các tỉnh,
thành phố có trách nhiệm trong việc xây dựng Hệ thống quản lý rủi ro và giám sát
hoạt động doanh nghiệp tại địa phương.
Bài viết của Tác giả Hoàng Thanh Tuấn “Những thành tựu nổi bật trong quá
trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế” trên cổng thông
5
tin Doanh nghiệp ngày 02/08/2017. Bài viết tổng kết những thành tựu nổi bật trong
quá trình phối hợp giữa cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế trong việc cải
thiện hơn nữa môi trường đầu tư kinh doanh, tạo thuận lợi tối đa cho người dân,
doanh nghiệp khi thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp.
Tuy nhiên, lĩnh vực tổ chức thực hiện pháp luật đối với ĐKDN chưa có nhiều
tác giả quan tâm; không dễ dàng để tìm thấy đề tài khoa học nghiên cứu về vấn đề
này chỉ có thể tìm được một vài bài báo trao đổi, đề cập đến thực thi ĐKKD dưới
góc độ nghiệp vụ. Ngay trong lĩnh vực kế hoạch đầu tư, theo khảo sát của tác giả,
hiện chưa có nghiên cứu, tổng kết về vấn đề tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKD
trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục đích nghiên cứu: đưa ra những giải pháp nhằm bảo đảm tổ chức thực
hiện pháp luật về ĐKDN ở tỉnh Cao Bằng.
Nhiệm vụ nghiên cứu: từ mục đích nêu trên, luận văn đã xác định những
nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
+ Phân tích làm rõ thêm cơ sở lý luận về tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKD.
+ Đánh giá thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về ĐKKD (ĐKDN) trên
địa bàn tỉnh Cao Bằng, chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và nguyên nhân.
+ Đề xuất một số giải pháp nhằm bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về
phân tích, đi từ cái chung đến cái riêng, từ khái quát đến cụ thể. Qua đó, đưa ra các
giải pháp đảm bảo thực hiện pháp luật về ĐKKD trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa về mặt lý luận: đây là đề tài mới nhất được nghiên cứu trên địa bàn
tỉnh Cao Bằng từ cơ sở tổng hợp nghiên cứu pháp luật về ĐKKD và việc tổ chức
thực hiện pháp luật về ĐKKD trên địa bàn tỉnh Cao Bằng. Do đó luận văn sẽ góp
phần về mặt lý luận cho việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ĐKKD.
Ý nghĩa về mặt thực tiễn: đề tài đã đưa ra được quan điểm, giải pháp đảm
bảo thực hiện pháp luật về ĐKKD trên địa bàn tỉnh Cao Bằng, từ đó làm cơ sở cho
các cấp chính quyền ở Cao Bằng có thể vận dụng để nâng cao chất lượng, hiệu quả
công tác ĐKKD trong thời gian tới. Đề tài cũng là có thể được sử dụng làm tài liệu
tham khảo cho những người quan tâm đến lĩnh vực pháp luật về ĐKKD.
7
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận
văn được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Những vấn đề lý luận của tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký
kinh doanh
Chương 2: Thực trạng tổ chức thực hiện pháp luật về đăng ký kinh doanh
trên địa bàn tỉnh Cao Bằng
Chương 3: Quan điểm, giải pháp bảo đảm tổ chức thực hiện pháp luật về
đăng ký kinh doanh trên địa bàn tỉnh Cao Bằng.
8
“đăng ký” để công nhận quyền tự do kinh doanh của công dân, thực hiện một cơ
9
chế quản lý mới của nhà nước, xoá bỏ cơ chế “xin cho”, công dân được kinh doanh
tất cả những gì mà pháp luật không cấm, có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong
những hoạt động kinh doanh của mình, được tự do lựa chọn hình thức đầu tư kinh
doanh phù hợp và được Nhà nước bảo hộ. Do đó, để đạt được mục tiêu gia nhập thị
trường cho các chủ thể kinh doanh được thuận lợi, công tác ĐKKD phải đơn giản,
minh bạch và bình đẳng, thủ tục nhanh gọn, chi phí thấp.. .Chính những điều này để
nhà nước tôn trọng quyền tự do kinh doanh hợp pháp của các chủ thể kinh doanh.
Mặt khác, nền kinh tế của các quốc gia đang trên đà hội nhập kinh tế quốc tế,
việc mở rộng quyền tự do kinh doanh tạo điều kiện cho các chủ thể kinh doanh dễ
tiếp cận với những thị trường và đối tác lớn về kinh tế sẽ làm gia tăng lợi ích của
chính mình và giúp kinh tế quốc gia phát triển. Hoạt động ĐKKD không có sự phân
biệt giữa chủ thể kinh doanh trong nước và ngoài nước, mọi hoạt động ĐKKD phải
phù hợp với nền kinh tế thị trường được vận hành ổn định, an toàn, bình đẳng, nhằm
đảm bảo cho sự phát triển bền vững, phù hợp với các lợi ích công cộng.
Xuất phát từ nội dung quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp, quản lý nhà
nước đối với việc thành lập doanh nghiệp thông qua hoạt động đăng ký kinh doanh
là để hướng tới việc khơi dậy ý tưởng kinh doanh, ý thức làm giàu cho bản thân và
đất nước.
“Đăng ký kinh doanh là một hoạt động pháp lý trong đó chủ thể kinh doanh
thực hiện việc đăng ký với cơ quan nhà nước có thẩm quyền (cơ quan đăng ký kinh
doanh) nhằm ghi nhận sự ra đời của một mô hình kinh doanh và xác định địa vị
pháp lý của chủ thể kinh doanh đó trên thị trường ” [28].
Từ những phân tích trên, tác giả có thể khái quát: “Đăng ký kinh doanh là
một hoạt động pháp lý theo đó thủ tục đăng ký kinh doanh có tính bắt buộc chủ thể
kinh doanh thực hiện việc đăng ký thông tin đăng ký kinh doanh với cơ quan nhà
nước có thẩm quyền (cơ quan đăng ký kinh doanh) nhằm ghi nhận sự ra đời của
Thứ nhất, ĐKKD là một trong những dịch vụ hành chính công do cơ quan
QLNN trực tiếp thực hiện.
Thứ hai, theo quy định trong Luật doanh nghiệp ĐKKD cũng là thủ tục đầu
tiên để tiến hành hoạt động kinh doanh dưới hình thức doanh nghiệp.
Thứ ba, bất kỳ một doanh nghiệp nào khi đăng ký gia nhập thị trường đều
phải thực hiện theo một khung pháp lý chung gồm các TTHC sau: 1) ĐKKD (bao
gồm đăng ký mã số thuế), 2) Công bố mẫu con dấu
11
Thứ tư, để thành lập 1 trong 4 loại hình doanh nghiệp (Công ty TNHH, Công
ty cổ phần, doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty hợp danh) thì nhà đầu tư sẽ thực hiện
thủ tục ĐKDN với cơ quan ĐKKD cấp tỉnh nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính.
-Đối tượng đăng ký kinh doanh theo Luật doanh nghiệp bao gồm: (1) Doanh
nghiệp tư nhân; (2) Công ty cổ phần; (3) Công ty hợp danh; (4) Công ty TNHH
(Gồm Công ty TNHH 1 thành viên và Công ty TNHH 2 thành viên).
- Hình thức đăng ký kinh doanh: Theo tính chất ĐKDN, có các hình thức
ĐKDN sau: (1) Đăng ký thành lập mới các loại hình doanh nghiệp; (2) Đăng ký thay
đổi các loại hình doanh nghiệp; (3) Đăng ký chuyển đổi các loại hình doanh nghiệp.
• Khái niệm pháp luật về đăng ký kinh doanh
Pháp luật về ĐKKD ở Việt Nam lần đầu được “khai sinh” bằng chế định
riêng trong văn bản quy phạm pháp luật vào năm 1990, khi Quốc hội thông qua
Luật Doanh nghiệp tư nhân và Luật Công ty cùng các văn bản hướng dẫn ra đời đã
mang lại sự cải thiện lớn về tính công khai trong các quy định về hồ sơ, trình tự, thủ
tục và điều kiện ĐKKD, tính minh bạch trong tổ chức bộ máy quản lý nhà nước về
ĐKKD. Những quy định này đã góp phần tạo điều kiện cho chủ thể kinh doanh
được thực hiện quyền tự do kinh doanh. [28]
luật Dân sự, Luật Đầu tư, Luật Hợp tác xã, văn bản dưới luật... là khái niệm có nội
hàm rộng.
Ngoài ra, pháp luật về ĐKKD còn được hiểu theo nghĩa hẹp, đó là các QPPL do
nhà nước ban hành được quy định tại Luật doanh nghiệp và các văn bản dưới luật điều
chỉnh các quan hệ pháp luật phát sinh trong quá trình thành lập doanh nghiệp.
Hiện nay, pháp luật về ĐKKD được hiểu là tổng hợp những quy định về giá
trị pháp lý của giấy chứng nhận ĐKKD, điều kiện kinh doanh, thủ tục ĐKKD, các
biện pháp chế tài để đảm bảo việc ĐKKD được thực hiện đúng pháp luật. [28].
Cùng với các văn bản theo hệ thống pháp luật về ĐKKD, nhiều luật, pháp lệnh mới
hoặc sửa đổi bổ sung có liên quan tới công tác quản lý ĐKKD cũng được ban hành.
1.1.2. Nội dung của pháp luật về đăng ký kinh doanh
Hệ thống pháp luật đã bảo đảm ĐKKD bằng việc thể chế hóa các chính sách,
kế hoạch của Đảng, nhà nước trong công tác bảo đảm ĐKKD và quy định các
13
phương tiện, biện pháp, nhân lực, để đảm bảo thực hiện các chính sách, kế hoạch
đó. Chính vì thế, pháp luật trong ĐKKD đã trở thành một công cụ hữu hiệu để quản
lý lĩnh vực này. Đặc biệt, thời gian qua pháp luật về ĐKKD ở nước ta đã từng bước
được xây dựng và hoàn thiện, góp phần điều chỉnh các quan hệ xã hội liên quan đến
lĩnh vực ĐKKD. Pháp luật về ĐKKD bao gồm các nội dung sau đây:
Thứ nhất, quy định các quy tắc xử sự chung cho mọi chủ thể trong lĩnh vực
ĐKKD.
Luật Doanh nghiệp quy định về việc thành lập, tổ chức quản lý, tổ chức lại,
giải thể và hoạt động có liên quan của doanh nghiệp, bao gồm công ty trách nhiệm
hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân; quy định về
nhóm công ty.
Pháp luật về ĐKKD là những quy phạm pháp luật điều chỉnh mối quan hệ xã
hội giữa chủ thể ĐKKD và cơ quan ĐKKD trong việc ĐKKD, thủ tục ĐKKD, các
thể thành lập doanh nghiệp là một quy định bắt buộc không thể thiếu được nhằm
đảm bảo chủ thể khi tham gia vào thương trường hoàn toàn có khả năng thực hiện
được ý tưởng của mình, đạt được hiệu quả cao, góp phần tăng trưởng, phát triển
kinh tế của đất nước, đồng thời gánh chịu được hậu quả pháp lý mà mình gây ra.
Các chủ thể kinh doanh khi có nhu cầu khởi sự doanh nghiệp đều được hoạt động và
chịu sự điều chỉnh trong cùng một chế định pháp luật về ĐKKD, đều được bình
đẳng trước pháp luật về thực hiện quyền và nghĩa vụ, không phân biệt quy mô, loại
hình, lĩnh vực đầu tư, ngành, nghề….
Thứ tư, quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn cụ thể của các cơ quan
quản lý nhà nước về đăng ký kinh doanh.
Như ta đã biết, tất cả các lĩnh vực đời sống xã hội đều cần phải có sự quản lý
của nhà nước và ĐKKD cũng không là ngoại lệ. Hơn thế, bảo đảm ĐKKD còn là
một hoạt động, nhiệm vụ quan trọng bởi ĐKKD là vấn đề tương đối phức tạp nên
rất cần có hệ thống tổ chức quản lý phù hợp, hiệu quả. Pháp luật Việt Nam hiện nay
đã ngày càng thể hiện vai trò to lớn trong việc tạo ra cơ chế hoạt động cho các tổ
chức, cơ quan bảo đảm ĐKKD. Việc ban hành các văn bản pháp luật tạo ra cơ sở
pháp lý để các cơ quan nhà nước thực hiện các chức năng, nhiệm vụ quyền hạn của