BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO BỘ NÔNG NGHIỆP VÀ PTNT
HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM
HỒ THỊ VÂN ĐÔNG
GIẢI PHÁP ĐẨY MẠNH TỔ CHỨC THỰC HIỆN
PHÁP LỆNH DÂN CHỦ Ở CẤP XÃ TRÊN ĐỊA BÀN
HUYỆN VĂN GIANG, TỈNH HƯNG YÊN LUẬN VĂN THẠC SĨ HÀ NỘI, NĂM 2014
Page i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan, đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi trong
những năm học tập. Số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung
thực và chưa được sử dụng để bảo vệ cho một học vị nào.
Tôi xin cam đoan mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã
được cảm ơn sâu sắc và các thông tin trích dẫn trong luận văn đều được ghi rõ
nguồn gốc.
Hà Nội, ngày 25 tháng 09 năm 2014
Tác giả luận văn
Hồ Thị Vân Đông Hồ Thị Vân Đông
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC BẢNG vi
DANH MỤC BIỂU ĐỒ, SƠ ĐỒ vii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT viii
PHẦN I. MỞ ĐẦU 1
1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 3
1.2.1 Mục tiêu chung 3
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 3
1.3 Câu hỏi nghiên cứu 4
1.4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
1.4.1 Đối tượng nghiên cứu 4
1.4.2 Phạm vi nghiên cứu 4
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số vấn đề lý luận về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa 5
2.1.2. Nội dung Pháp lệnh thực hiện dân chủ ở cấp xã (PL 34/2007/UBTVQH11) 15
2.1.3. Vai trò của Pháp lệnh thực hiện dân chủ với đời sống nhân dân 26
2.1.4. Khái niệm đơn vị hành chính cơ sở, loại hình cơ sở xã, phường thị
trấn và khái niệm thực hiện dân chủ ở cơ sở 28
lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng, đổi mới hoạt động của
Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân. 81
4.2. Đánh giá chung 87
4.2.1. Ưu điểm 87
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page v
4.2.2. Hạn chế 88
4.2.3. Nguyên nhân 89
4.2.4. Bài học kinh nghiệm 90
4.3. Giải pháp đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện pháp lệnh dân chủ ở cấp
xã trên địa bàn huyện Văn Giang, tỉnh Hưng Yên 90
4.3.1. Giải pháp về tăng cường và đổi mới công tác kiểm tra, giám sát 91
4.3.2. Giải pháp về đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của hệ
thống chính trị cấp xã 92
4.3.3. Bồi dưỡng, nâng cao năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức cấp xã 95
4.3.4. Nâng cao trình độ dân trí, nhận thức của các tầng lớp nhân dân 97
4.3.5. Giải pháp về thực hiện dân chủ ở cấp xã gắn với sự nghiệp phát triển
kinh tế - xã hội 98
PHẦN V. KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 101
5.1. Kết luận 101
5.2. Kiến nghị 102
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 104
PHỤ LỤC 108
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page vi
DANH MỤC BẢNG
STT Tên Bảng Trang
4.2 Cơ cấu kinh tế (NN-CNXD-TMDV) trong 3 năm 2011 - 2013 70
4.3 Giá trị thu trên 1ha đất canh tác, thu nhập bình quân đầu người
và thu ngân sách trong 3 năm 2011 - 2013 71
STT Tên sơ đồ Trang
3.1 Sơ đồ vị trí địa lý huyện Văn Giang – tỉnh Hưng Yên
43
4.1 Cơ cấu Ban chỉ đạo thực hiện QCDC huyện và xã
54
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page viii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
VG Văn Giang
VK Vĩnh Khúc
XHCN Xã hội chủ nghĩa
XQ Xuân Quan
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 1
PHẦN I. MỞ ĐẦU 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trải qua hơn 80 năm dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân ta đã anh
dũng đấu tranh đánh đuổi giặc ngoại xâm, giành lại độc lập dân tộc, thống
nhất đất nước. Trong quá trình đó, Đảng ta luôn coi dân chủ là một nội dung
quan trọng trong đường lối lãnh đạo của mình. mở rộng dân chủ XHCN, phát
huy quyền làm chủ của nhân dân là mục tiêu đồng thời là động lực đảm bảo
cho thắng lợi của cách mạng, của công cuộc đổi mới.
Trong xã hội ta, xã hội do nhân dân là chủ, nhân dân làm chủ thì dân
chủ vừa là mục tiêu, vừa là động lực phát triển kinh tế -xã hội, vừa là cơ chế
và phương thức để vận hành quyền lực của nhân dân trong quản lý Nhà nước
và tổ chức đời sống xã hội. Đảng ta đã sớm nhận thức về vị trí, vai trò của dân
chủ trong quá trình đấu tranh cách mạng, phát huy quyền làm chủ của nhân
dân, tạo điều kiện để nhân dân ngày càng tham gia nhiều hơn vào công việc
của Nhà nước như: Tham gia xây dựng luật pháp, chính sách, hưởng quyền
lợi và chủ động thực hiện tốt nghĩa vụ công dân.
Bên cạnh những thành tựu đạt được trên các lĩnh vực kinh tế- chính trị,
văn hoá- xã hội, an ninh, quốc phòng, sự nghiệp đổi mới của nước ta cũng
đang đứng trước những khó khăn, thách thức.
Trong hệ thống chính trị nước ta xã, phường, thị trấn là cấp cơ sở, cấp
có vị trí vai trò rất quan trọng và được Đảng, Nhà nước ta đặc biệt quan tâm.
nghiệp phát triển kinh tế- xã hội, huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên đã có
nhiều biến đổi và khởi sắc. Nhưng bên cạnh đó vẫn còn những tồn tại, hạn
chế, liên quan đến sự lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý của bộ máy chính quyền; liên
quan đến trình độ, đạo đức của đội ngũ cán bộ, công chức; liên quan đến sự
nhận thức và ý thức của người dân về vấn đề thực hiện dân chủ.
Là một cán bộ đang công tác trong cơ quan Đảng (Huyện ủy huyện
Văn Giang, tỉnh Hưng Yên), tác giả nhận thấy rõ ràng và trực tiếp vị trí và
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 3
tầm quan trọng của việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã; nơi gần dân
nhất, nơi trực tiếp lắng nghe những tâm tư, nguyện vọng của những người làm
chủ đất nước, những người như Nguyễn Trãi đã nói “Chèo thuyền cũng là
dân, lật thuyền cũng là dân”. Vì vậy để việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở
cấp xã trên địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên thực sự đi vào cuộc sống
và trở thành một nề nếp thường xuyên, góp phần phát triển kinh tế xã hội,
đảm bảo an ninh quốc phòng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc vì mục tiêu “Dân
giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh”, tác giả chọn đề tài
“Giải pháp đẩy mạnh tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã, trên
địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên” với mong muốn, đề tài sẽ đề xuất
một số giải pháp, kiến nghị có tính khả thi trong việc tổ chức thực hiện Pháp
lệnh dân chủ ở cấp xã, đồng thời giúp người dân thực hiện tốt hơn quyền làm
chủ của mình.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ trên
địa bàn huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên, từ đó đưa ra các giải pháp nhằm
đẩy mạnh việc tổ chức thực hiện Pháp lệnh dân chủ ở cấp xã trên địa bàn
huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên những năm tiếp theo.
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
bộ thôn, tổ dân phố, của cơ quan, tổ chức, cá nhân có liên quan và của nhân
dân trong việc thực hiện Pháp lệnh dân chủ) ở cấp xã trên địa bàn huyện Văn
Giang tỉnh Hưng Yên từ năm 2011-2013.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 5
PHẦN II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số vấn
đ
ề lý luận về dân chủ, dân chủ xã hội chủ nghĩa
Dân chủ là bản chất của Nhà nước XHCN mà cốt lõi của vấn đề dân chủ
trong Nhà nước XHCN đó là “Dân làm chủ và dân là chủ”. Vậy để hiểu rõ hơn
về các luận điểm này, trước tiên chúng ta cần tìm hiểu một số vấn đề sau:
2.1.1.1 Khái niệm dân chủ và dân chủ xã hội chủ nghĩa
a. Khái niệm dân chủ
Dân chủ được bắt nguồn từ chữ Hy Lạp "demokrratia" (demos - nhân
dân, Kratos - quyền lực). Như vậy, theo nguyên nghĩa của nó, dân chủ có
nghĩa là quyền lực của nhân dân, hay quyền lực thuộc về nhân dân, nó nói lên
rằng, nhân dân là chủ thể của quyền lực.
Như vậy , từ nguyên gốc-dân chủ là quyền lực nhân dân- dân chủ trở
thành khái niệm bao quát một nội dung rộng lớn. Người ta thường tiếp cận
khái niệm dân chủ ở những khía cạnh sau:
Chủ nghĩa xã hội là giải phóng toàn bộ nhân loại khỏi mọi áp bức, bóc
lột. Vì thế, dân chủ XHCN là một nền dân chủ kiểu mới, một nền dân chủ của
những con người thoát khỏi áp bức, bóc lột. Mặc dù kế thừa các giá trị quý
báu của mọi nền dân chủ đã có của nhân loại, nhưng dân chủ XHCN có đặc
điểm riêng: Dân chủ là bản chất của chế độ XHCN; dân chủ vừa là mục tiêu
vừa là động lực của cách mạng XHCN; dân chủ XHCN là nền dân chủ của
dân, do dân và vì dân. Vì vậy, không có dân chủ xã XHCN là không có chủ
nghĩa xã hội. Dân chủ XHCN chính là sự hiện thực hóa khát vọng dân chủ
của toàn thể nhân dân lao động.
Vậy, dân chủ XHCN ra đời như là kết quả tất yếu của lịch sử đấu tranh
lâu dài của nhân dân lao động vì sự nghiệp giải phóng toàn thể nhân dân lao
động. Dân chủ XHCN được hình thành dần dần và từng bước được hoàn thiện
cùng với sự phát triển của chủ nghĩa xã hội Dân chủ xã hội chủ nghĩa là nền dân
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 7
chủ được xây dựng và hình thành trong tiến trình xây dựng CNXH, mang bản
chất của giai cấp công nhân, dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản để thực hiện và
đảm bảo quyền làm chủ thực sự của đông đảo nhân dân đối với xã hội.
Nền dân chủ XHCN hoạt động và thể hiện thực tế thông qua hệ thống
chính trị XHCN. Vậy, hệ thống chính trị XHCN là gì?
Hệ thống chính trị XHCN là một chỉnh thể bao gồm: Đảng Cộng sản, Nhà
nước XHCN, các tổ chức Chính trị - xã hội hợp pháp, các tầng lớp nhân dân cùng
các mối quan hệ qua lại giữa các bộ phận đó, hoạt động trên nguyên tắc bảo đảm
quyền lực thuộc về nhân dân và nhằm mục tiêu xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Đảng Cộng sản là hạt nhân của hệ thống chính trị, đồng thời là bộ phận
lãnh đạo hệ thống chính trị. Đảng Cộng sản lãnh đạo xã hội bằng việc đề ra
chủ trương, đường lối, cương lĩnh, chiến lược, sách lược trên nền tảng của
Chủ nghĩa Mac - LêNin.
Nhà nước XHCN là cơ quan thể hiện và thực hiện quyền lực của nhân
1. Về mục tiêu phục vụ
Là nền dân chủ cho đại
đa số nhân dân lao động,
phục vụ lợi ích cho đại
đa số.
Là nền dân chủ cho
thiểu số, phục vụ lợi ích
thiểu số.
- Dân chủ XHCN là nền
dân chủ mang bản chất
của giai cấp công nhân
nhưng nó phục vụ lợi
ích cho đa số, bởi vì lợi
phối hợp giữa 3 quyền
lập pháp, hành pháp và
tư pháp).
- Dân chủ tư sản được
thực hiện thông qua Nhà
nước pháp quyền tư sản
(tổ chức theo hình thức
tam quyền phân lập).
3. Về cơ sở kinh tế
- Dân chủ XHCN được
thực hiện trên cơ sở
kinh tế là công hữu các
tư liệu sản xuất chủ yếu.
- Dân chủ tư sản được
thực hiện trên cơ sở
kinh tế tư hữu hoá các
tư liệu sản xuất.
- Dân chủ XHCN thực
hiện nguyên tắc phân
phối sản phẩm của xã
hội chủ yếu theo kết quả
lao động và các nguồn
lực đóng góp.
- Dân chủ tư sản thực
hiện nguyên tắc này chủ
yếu theo tài sản, tỷ lệ
suốt toàn bộ cuộc đời hoạt động của Người. Tuy nhiên, nói đến tư tưởng dân
chủ thì phải kể đến Bản yêu sách của nhân dân Việt Nam mà Người là đại
diện gửi tới Hội nghị Quốc tế Vec-Xai năm 1919. Trong bản yêu sách này,
Người nêu lên 8 điểm. Trong đó, đáng lưu ý điểm thứ bẩy “Thay chế độ ra
các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật”.
Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ nói chung và về quyền làm chủ của
nhân dân nói riêng là kết quả của sự nhận thức sâu sắc về vai trò của nhân dân
trong lịch sử, là kết quả của sự kết hợp giữa truyền thống và hiện đại, giữa lý
luận và thực tiễn, Người đã nâng tư tưởng dân chủ lên một tầm cao mới vừa
mang tính khoa học, vừa mang tính nhân văn sâu sắc. Theo Chủ tịch Hồ Chí
Minh, trong chế độ dân chủ, quyền lợi và nghĩa vụ của công dân bao giờ cũng
đi liền với nhau. Do đó không thể xây dựng một xã hội công bằng, dân chủ,
văn minh nếu mỗi công dân không tự giác thực hiện đúng luật pháp và hoàn
thành nghĩa vụ của mình đối với xã hội. Pháp luật có liên quan rất mật thiết
với vấn đề dân chủ. Yếu tố bảo đảm để dân chủ vận hành trong một hành lang
an toàn, không bị thiên lệch chính là pháp luật.
Có thể khái quát tư tưởng dân chủ của Chủ tịch Hồ Chí Minh thành sáu
phạm trù cơ bản sau đây:
Thứ nhất: Dân chủ là quý báu nhất của nhân dân.
Thứ hai: Địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ.
Thứ ba: Nhiệm vụ của chính quyền dân chủ là phục vụ nhân dân.
Thứ tư: Đảng cũng ở trong xã hội. Đảng từ Trung ương đến xã do dân
tổ chức nên.
Thứ năm: Đoàn thể là tổ chức của dân, phấn đấu cho dân, bênh vực
quyền lợi của dân, liên lạc mật thiết giữa dân với Chính phủ.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 11
Thứ sáu: Thực hiện những cải cách xã hội để nâng cao đời sống của
nhân dân, thực hiện dân chủ thực sự.
quan hệ xã hội. Đảng ta chủ trương phát triển nền kinh tế thị trường theo định
hướng XHCN, mở cửa hội nhập với thế giới và xây dựng Nhà nước pháp
quyền XHCN của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân cũng là nhằm xây dựng
nền dân chủ XHCN, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân
chủ và văn minh.
2.1.1.4 Dân chủ Xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà ra đời được hiến định bởi Hiến
pháp đầu tiên do Quốc hội thông qua ngày 9/1/1946. Người khai sinh ra nền
cộng hoà dân chủ và bản Hiến pháp đầu tiên ấy là Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhà
chính trị, nhà văn hoá kiệt xuất đã đưa dân tộc vào con đường phát triển hợp
quy luật, xây dựng nước ta thành một nước dân chủ của nhân dân lao động,
bỏ qua nền dân chủ của giai cấp tư sản.
Theo tư tưởng Hồ Chí Minh trong bản Hiến pháp đầu tiên của nước
Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhiều nhà nghiên cứu trên thế giới đã nhận định
rằng từ giữa thế kỷ XX, Việt Nam đã đạt tới những quan niệm dân chủ, sánh
ngang với bất cứ một thể chế dân chủ nào trên thế giới. Nổi bật ở đây là việc
xác nhận về mặt pháp lý quyền làm chủ của nhân dân “Tất cả quyền bính
trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái
trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo”. Cùng với thời gian, vấn đề dân chủ tiếp
tục được Đảng và Nhà nước quan tâm, được thể hiện trong đường lối lãnh đạo
của Đảng và pháp luật của Nhà nước, đặc biệt tiếp tục được thể hiện trong các
bản Hiến pháp sửa đổi, bổ sung của nước ta.
Nghị quyết Đại hội VI của Đảng - Đại hội đổi mới chỉ rõ: "Trong toàn bộ
hoạt động của mình, Đảng phải quán triệt tư tưởng "lấy dân làm gốc", xây dựng
và phát huy quyền làm chủ của nhân dân lao động”. Đây chính là những tư
tưởng trọng yếu làm cơ sở lý luận và thực tiễn để thực hiện dân chủ và phát huy
dân chủ trong quá trình đổi mới đất nước. Có thể thấy, từ giai đoạn này dân chủ
đã mang một sắc thái hoàn toàn mới, phù hợp với thực tế của đất nước.
Học viện Nông nghiệp Việt Nam – Luận văn Thạc sỹ Khoa học Kinh tế
Page 13
Page 14
kiểm tra" đối với các chủ trương, chính sách lớn của Đảng và Nhà nước”. Tư
tưởng quan trọng này chính là cơ sở của Chỉ thị 30-CT/TW, ngày 18/2/1998,
về xây dựng và thực hiện QCDC ở cơ sở. Bộ Chính trị chỉ rõ phải ban hành
Chỉ thị này là vì: "quyền làm chủ của nhân dân còn bị vi phạm ở nhiều nơi,
trên nhiều lĩnh vực; tệ quan liêu, mệnh lệnh, cửa quyền, tham nhũng, sách
nhiễu, gây phiền hà cho dân vẫn đang phổ biến và nghiêm trọng mà chúng ta
chưa đẩy lùi, ngăn chặn được. Phương châm "dân biết, dân bàn, dân làm, dân
kiểm tra" chưa được cụ thể hóa và thể chế hóa thành luật pháp, chậm đi vào
cuộc sống” và "Khâu quan trọng và cấp bách trước mắt là phát huy quyền làm
chủ của nhân dân ở cơ sở, là nơi trực tiếp thực hiện mọi chủ trương, chính
sách của Đảng và Nhà nước, là nơi cần thực hiện quyền làm chủ của nhân dân
một cách trực tiếp và rộng rãi nhất. Muốn vậy, Nhà nước cần ban hành QCDC
ở cơ sở có tính pháp lý, yêu cầu mọi người, mọi tổ chức ở cơ sở đều phải
nghiêm chỉnh thực hiện”.
Cùng với việc đề ra phương hướng, chiến lược phát triển đất nước một
cách toàn diện và lâu dài, tại Đại hội IX, Đảng ta nhấn mạnh: "Xây dựng khối
đại đoàn kết toàn dân gắn với việc phát huy dân chủ trong đời sống xã hội
dưới sự lãnh đạo của Đảng. Thực hiện dân chủ trên các lĩnh vực chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội ở tất cả các cấp, các ngành”.
Ðáp ứng yêu cầu, đòi hỏi của đất nước trong thời kỳ mới, Ðại hội X
của Ðảng đã chỉ rõ: “Dân chủ XHCN vừa là mục tiêu vừa là động lực của
công cuộc đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, thể hiện mối gắn bó giữa
Ðảng, Nhà nước và nhân dân. Nhà nước đại diện quyền làm chủ của nhân
dân, đồng thời là người tổ chức thực hiện đường lối chính trị của Ðảng. Mọi
đường lối, chính sách của Ðảng và pháp luật của Nhà nước đều vì lợi ích của
nhân dân, có sự tham gia ý kiến của nhân dân”.
Đại hội XI: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của
Đảng; đẩy mạnh toàn diện công cuộc đổi mới; xây dựng hệ thống chính trị