Nghiên cứu thành phần loài mối (insecta isoptera) trong một số công trình di tích tỉnh thanh hóa và đề xuất biện pháp phòng trừ - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

TRẦN VĂN THÀNH

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI MỐI (INSECTA: ISOPTERA)
TRONG MỘT SỐ CÔNG TRÌNH DI TÍCH TỈNH THANH HÓA VÀ ĐỀ
XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC

Hà Nội - 2014


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG
ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN

TRẦN VĂN THÀNH

NGHIÊN CỨU THÀNH PHẦN LOÀI MỐI (INSECTA: ISOPTERA)
TRONG MỘT SỐ CÔNG TRÌNH DI TÍCH TỈNH THANH HÓA VÀ ĐỀ
XUẤT BIỆN PHÁP PHÒNG TRỪ

Chuyên ngành:
Mã số:

Động vật học
60 42 01 03

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC


Trần Văn Thành


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU......................................................................................................................................... 1
Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU....................................................................................... 3
1.1.

Tình hình nghiên cứu mối hại công trình kiến trúc trên thế giới...................... 3

1.2.

Tình hình nghiên cứu mối hại công trình kiến trúc tại Việt Nam.................. 14

1.3.

Tình hình nghiên cứu mối tại tỉnh Thanh Hóa................................................... 18

Chương 2. THỜI GIAN, ĐỊA ĐIỂM, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN
CỨU............................................................................................................................................... 19
2.1.

Thời gian, địa điểm nghiên cứu............................................................................. 19

2.2.

Khái quát điều kiện tự nhiên, lịch sử, xã hội khu vực nghiên cứu................21

2.3.




3.3.2. Loài Coptotermes gestroi..................................................................................... 46
3.3.3. Loài Odontotermes hainanensis......................................................................... 48
3.4.

Đề xuất biện pháp phòng trừ loài gây hại chính................................................ 50

3.4.1. Cơ sở khoa học phòng trừ mối............................................................................ 50
3.4.2. Đề xuất biện pháp phòng trừ hiệu quả.............................................................. 53
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ...................................................................................................... 56
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................................ 58


Danh mục bảng

Nội dung
Bảng 2.1. Danh sách địa điểm các di tích nghiên cứu
Bảng 3.1. Danh sách thành phần loài mối thu được trong các khu di tích
trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Bảng 3.2. Cấu trúc thành phần giống và loài mối trong các khu di tích
Bảng 3.3. Phân bố của loài mối theo điểm nghiên cứu
Bảng 3.4. Tỷ lệ bắt gặp của các loài mối trong tổng số 33 di tích điều tra
Bảng 3.5. Phân bố của mối theo không gian khu di tích nghiên cứu
Bảng 3.6. Phân bố của mối theo các vùng cảnh quan
Bảng 3.7. Thành phần loài mối gây hại đối với công trình kiến trúc trong
các di tích trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa
Bảng 3.8. Số lượng loài mối xâm hại đối với mỗi công trình di tích trong
khu vực điều tra
Bảng 3.9. Tỉ lệ bắt gặp mối gây hại trong các hạng mục của các công

Hình

Hình 3.6.

Khun

đùn ra
Hình 3.7.

Mối C
trong

Hình 3.8.

Hình

Hình 3.9.

Lỗ vũ

đường
Hình 3.10.

Trạm


MỞ ĐẦU
Mối là nhóm côn trùng xã hội được xếp vào bộ Cánh đều (Isoptera). Có
khoảng 2.900 loài mối đã được phát hiện trên thế giới và 141 loài được ghi nhận tại
Việt Nam [36]. Từ lâu con người đã quan tâm chú ý đến mối bởi khả năng phá hại

các di tích lịch sử là đền, đình, chùa, có nhiều vật liệu gỗ trong kiến trúc. Trải qua
thời gian, nhiều di tích đang phải đối mặt với nguy cơ bị xuống cấp do nhiều tác nhân
gây hại khác nhau, trong đó có sự gây hại của mối.
Vì vậy, để đánh giá được hiện trạng mối gây hại di tích trên địa bàn tỉnh Thanh
Hóa, góp phần nâng cao hiệu quả phòng chống mối cho công trình di tích nói chung
và di tích lịch sử văn hóa cấp quốc gia trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa nói riêng, chúng
tôi đã tiến hành thực hiện đề tài “Nghiên cứu thành phần loài mối (Insecta: Isoptera)
trong một số công trình di tích tỉnh Thanh Hóa và đề xuất biện pháp phòng trừ” với
các mục tiêu chính:
-

Xác định thành phần loài và đặc trưng phân bố của mối tại các di tích

trong tỉnh Thanh Hóa. Hiện trạng mối gây hại các di tích tại tỉnh Thanh Hóa.
-

Xác định các loài mối gây hại chính trong các di tích tại tỉnh Thanh Hóa.

-

Đề xuất một số biện pháp phòng trừ các loài mối gây hại chính.

Do hạn chế về thời gian nghiên cứu và hiểu biết nên kết quả trong luận văn
này mới chỉ là những tiếp cận bước đầu cho những nghiên cứu sâu hơn về sau.

2


Chương 1. TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1.


Microtermes,

Globitermes,

Odontotermes,

Schedorhinotermes và Microcerotermes). Tại Thái Lan, các loài mối được tìm thấy
trong các khu đô thị thuộc 5 giống (Coptotermes, Microcerotermes,

3


Macrotermes, Hypotermes và Odontotermes), trong đó loài phổ biến nhất là
Coptotermes gestroi [74], [75]. Tại Úc, có 7 giống mối được tìm thấy trong các tòa
nhà và các công trình kiến trúc, phổ biến là Coptotermes và Schedorhinotermes [76].
Để việc phòng chống mối gây hại đạt hiệu quả cao nhất, điều quan trọng là
phải dựa trên những hiểu biết về các đặc tính đặc trưng của các loài mối, đồng thời
cũng phải nắm rõ mối quan hệ của mối đối với môi trường sống xung quanh, các yếu
tố tự nhiên cũng như sự tương tác trong quần thể mối hoặc quần xã sinh vật trong khu
vực nghiên cứu xử lý [75].
Năm 1996, Sornuwat đã có nghiên cứu tổng hợp về mối Coptotermes gestroi
tại Thái Lan. Trong nghiên cứu này, tác giả đã tìm hiểu các đặc điểm sinh học và sinh
thái của mối như phạm vi kiếm ăn, quần thể kiếm ăn và hoạt động kiếm ăn của mối
C. gestroi, cũng như phản ứng của chúng với một số chất hóa học được sử dụng trong
việc phòng trừ mối. Số lượng cá thể kiếm ăn của loài mối này cũng trong một quần
6

tộc là khoảng từ 1,13 đến 2,75 × 10 cá thể. Sự biến động về số lượng cá thể kiếm ăn
trong mỗi quần tộc có thể tùy thuộc vào độ tuổi của chúng, điều kiện môi trường và

muộn hơn 1 – 2 tháng [40].
Năm 2012 tại hội nghị TRG 9, Ching-Chen Lee, Foong-Kuan Foo và ChowYang Lee đã thông báo kết quả nghiên cứu ảnh hưởng của số lượng cá thể mối và
kích thước hộp nuôi đến việc duy trì mối Macrotermes gilvus trong phòng thí
nghiệm, nhằm mục đích thử nghiệm các thuốc diệt trừ chúng [49]. Kok-Boon Neoh
và cộng sự (2009) đã nghiên cứu về hoạt động bay trong hai vùng phân bố của
Macrotermes gilvus và Macrotermes carbonarius tại Malaysia. Kết quả cho thấy,
mùa bay giao hoan của mối M. gilvus được ghi nhận trong vòng 7 tháng (từ tháng 3
đến tháng 9) trong khi ở M. carbonarius là từ tháng 11 đến tháng 1. Ngoài ra, các tác
giả còn nghiên cứu những điều kiện ảnh hưởng đến việc bay giao hoan của chúng
như áp suất không khí, độ ẩm, nhiệt độ, ánh sáng [54]. Đồng thời, chỉ ra được thành
phần đẳng cấp và kích cỡ tổ mối M. gilvus [55].
Đối với mối gỗ ẩm (Rhinotermitidae), hệ vi sinh vật trong ruột của chúng
đóng một vai trò rất quan trọng, phân giải thức ăn thành những thành phần đơn giản
hơn, giúp mối có khả năng tiêu hóa thức ăn. Chính vì vậy, việc nghiên cứu hệ vi sinh
vật trong ruột mối cũng đóng một vai trò hết sức quan trọng trong nghiên cứu phòng
trừ mối. Năm 2013, König và các cộng sự đã tổng hợp và nghiên cứu khu hệ
vi sinh vật phân giải cellulose trong ruột mối một cách toàn diện [46]. Hệ thống phát
sinh phân tử của quần xã vi sinh vật trong ruột mối Coptotermes formosanus
5


được nghiên cứu bằng cách sử dụng dòng gen 16S rRNA thông qua phương pháp
PCR. Kết quả cho thấy 94% các dòng vi khuẩn thuộc về các nhóm Bacteroidales,
Spirochaetes, các vi khuẩn gram dương (Clostridiales, Mycoplasmatales, Bacillales,
và Lactobacillales) [70].
Trong nhóm mối bậc cao thì mối có vườn cấy nấm được tập trung nghiên cứu
hơn cả. Một mặt vì chúng là nhóm mối gây hại chính cho rất nhiều công trình trong
đó có cả công trình kiến trúc, đê đập và cây trồng, mặt khác còn do chúng có tập tính
phức tạp trong sự thu nhận và chế biến thức ăn. Do có khả năng cộng sinh với nấm
Termitomyces trong tổ, chúng có phổ thức ăn từ cellulose rất rộng, tính thích nghi

dimorphus có khả năng chỉ là loài đồng dạng với C. formosanus do sự sai khác về
ADN chỉ lên đến 1% [93].
Các nghiên cứu về mối trên thế giới tập trung vào tìm kiếm các biện pháp
phòng trừ. Việc kiểm soát mối cho một công trình kiến trúc bao gồm sự kết hợp của
các biện pháp bảo vệ như các hàng rào hóa học, vật lý.
Các rào cản vật lý được áp dụng cho việc ngăn chặn mối xâm nhập vào các
công trình kiến trúc, phát hiện tổ mối cũng như để diệt trừ mối. Harrington (2004) đã
đưa ra một rào cản để ngăn chặn xâm nhập của mối trên bề mặt của một cấu trúc, bao
gồm một chất keo dính có khả năng cản trở và bẫy mối trên bề mặt [39]. Các nhà
khoa học cũng nghiên cứu sử dụng các biện pháp và thiết bị điện tử để bảo vệ các
công trình khỏi sự phá hoại của các đàn mối đi kiếm ăn bằng việc kiểm soát số lượng
và phạm vi hoạt động của chúng. Có một số lượng khá lớn các công nghệ chú trọng
vào việc sử dụng sóng điện từ để kiểm soát hoạt động, sự di chuyển và số lượng cá
thể của đàn mối đi kiếm ăn. Ví dụ như ở phát kiến của Pedersen (1995), tác giả đã
trình bày phương pháp xử lý mối qua cách tạo nhiệt làm nóng các khu vực có mối
sinh sống bằng năng lượng vừa phải của sóng điện từ [59]. Ở phát kiến của mình,
Lawrence (1993) mô tả một phương pháp và thiết bị sử dụng tần số quét để diệt mối.
Thiết bị là một dụng cụ tạo ra nguồn điện cao thế kết hợp với thiết bị truyền năng
lượng điện tử để xử lý mối [47]. Mankin (2002) đã sử dụng hệ thống máy âm xách
tay, tần số thấp để tìm mối hại các cây trong thành phố [52]. Từ các thử nghiệm thành
công ở hiện trường, họ cho biết hệ thống âm có khả năng phát hiện và kiểm tra mối
hại ngầm cho cây trong thành phố và xung quanh công trình, hỗ trợ việc tìm và kiểm
tra mối bên trong công trình. Ứng dụng năng lượng sóng siêu âm cũng đã được
nghiên cứu trong xử lý mối. Ví dụ như phát kiến do
7


Biederman (1996) mô tả phương pháp sử dụng sóng siêu âm để diệt quần tộc mối
[21]. Gần đây nhất là phát kiến số WO 2007/037899 của Amburgey, họ sử dụng một
nguồn điện tử có tần số nhỏ hơn 4000 Hz với cường độ 1miliwat - 1kw như là một

đối với động vật và con người nhưng lại ít độc với mối đất ngầm [50], [73]. Các
pyrethroid tổng hợp mặc dù có tác dụng trong việc tiêu diệt mối bằng phương pháp
tiếp xúc trực tiếp nhưng đặc tính xua đuổi của chúng khiến cho các mối thợ khác phát
hiện ra hóa chất và sẽ tránh xa các khu vực được xử lý [79]. Do đó, việc sử dụng các
thuốc diệt côn trùng không có tác dụng xua đuổi trong quá trình kiểm soát mối đất
ngầm đã trở nên rất phổ biến từ những năm cuối thập niên 90 và đầu những năm
2000. Một phần nào đó do tác động chậm của các thuốc diệt côn trùng cho phép mối
được xử lý có thể truyền các chất độc qua cá thể cùng tổ và dạng sinh sản thông qua
tương tác xã hội dẫn đến kết quả loại trừ được các tổ mối [34].
Những phản ứng bất thường của mối khi bị xử lý với thuốc diệt côn trùng đã
được nghiên cứu và ghi nhận. Năm 2007, Quarcoo đã tìm cách kiểm tra ảnh hưởng
của nồng độ thuốc và thời gian tiếp xúc với đất đã được xử lý thuốc đối với mối
ngầm Reticulitermes theo cá thể và theo nhóm. Khởi đầu của hành vi bất thường phụ
thuộc vào cả nồng độ và thời gian tiếp xúc với đất được xử lý bằng indoxacarb
[63]. Ab Majid, Abdul Hafiz (2008) đã nghiên cứu về hành vi kiếm ăn và đánh giá
tác động của hoạt chất imidacloprid trong việc kiểm soát mối ngầm [51]. Casarin và
cộng sự (2009) đã tiến hành 2 thử nghiệm sinh học lần lượt đánh giá hiệu quả của a
xít boric và fipronil chống lại các quần thể C. gestroi khác nhau. Dữ liệu cho thấy
mối chết nhanh khi nhiễm fipronil, kể cả với liều lượng nhỏ, vì thế fipronil không
phù hợp để sử dụng làm bả. Nghiên cứu hiện tại cho thấy độc chất tác động chậm của
a xít boric chống lại mối ngầm C. gestroi được khuyến cáo thử nghiệm rộng hơn trên
hiện trường [28].
Từ giữa những năm 90, hệ thống trạm bả diệt mối bắt đầu được sử dụng trong
việc phòng trừ mối nhằm thay thế các hợp chất chống mối dưới dạng lỏng do các
quan ngại về môi trường, đầu tiên là tại Mỹ. Các hệ thống trạm bả khác nhau với các
thiết kế và hoạt chất khác nhau đã được sử dụng ngày càng phổ biến, ví dụ như
Sentricon TM system (hoạt chất: hexaflumuron, Dow AgroSciences), FirstLine®
(hoạt chất: sulfuramid; FMC Corp.), hydramethylnon bait (hoạt chất: Chất ức chế
trao đổi chất, American Cyanamid Co.), Exterra® (hoạt chất: diflubenzuron,
Ensystex) [61]. Phương pháp này lợi dụng tập tính kiếm ăn và sự

Incisitermes minor trong phòng thí nghiệm. Hợp chất bả được dùng dưới dạng gel với
thành phần gồm hoạt chất (2,15% hydramethylnon) và chất hấp dẫn được sử
10


dụng để thử nghiệm. Nghiên cứu cho thấy việc sử dụng bả dạng gel có thể áp dụng
cho việc loại trừ mối gỗ khô và khuyến cáo nghiên cứu sâu hơn để áp dụng phương
thức này cũng như việc xây dựng hệ thống trạm bả để xử lý mối gỗ khô [43].
Mark Janowiecki (2012) đã nghiên cứu tác động của các tác nhân sinh trưởng
đến quần thế mối Reticulitermes flavipes, sử dụng các hóa chất kìm hãm sinh trưởng
để phòng trừ chúng [44]. Phát kiến của Nan-Yao Su và các cộng sự (2011) đã nghiên
cứu và đưa ra phương thức cho việc sử dụng hóa chất trong bả diệt mối bằng cách kết
hợp các hợp chất đẩy nhanh quá trình lột xác và các chất ức chế tổng hợp kitin. Sự
kết hợp này thể hiện sự tăng cường hoạt động của mối hơn hẳn so với hai nhóm hợp
chất riêng biệt [83].
Những năm gần đây, việc sử dụng các hợp chất hóa học trong phòng trừ mối
ngày càng được khuyến cáo hạn chế do các ảnh hưởng đến môi trường hoặc đối với
sức khỏe con người. Nhằm hạn chế những tác hại đó, những nghiên cứu về phòng trừ
mối gần đây có xu hướng nghiêng về việc sử dụng các phương pháp sinh học.
Trong phòng trừ sinh vật hại, việc sử dụng thiên địch là các loài ăn mồi được
chú ý đến đầu tiên. Trong số đó kiến là đối tượng được đặc biệt chú ý. Phần lớn các
nghiên cứu đều tập trung tìm hiểu xem loài kiến nào có hiệu quả nhất trong xử lý
mối, môi trường sống của mối và kiến, cách nuôi thả kiến vào tổ mối… Năm 1998,
Traun đã nghiên cứu đa dạng sinh học và sinh thái của mối ở Australia, trong đó
hướng đến nghiên cứu sử dụng kiến làm thiên địch trong phòng trừ mối [17]. Tuy
nhiên, việc này thường được áp dụng cho xử lý mối trong nông nghiệp hoặc ngoài tự
nhiên, đối với môi trường gần với con người thì kiến thường được coi là loài gây hại,
gây phiền nhiễu đến đời sống con người, do đó việc áp dụng chúng cần được nghiên
cứu nhiều hơn.
Một số hợp chất diệt mối được chiết xuất từ các loại thực vật có khả năng

được thử nghiệm là nấm, giun tròn kí sinh và vi khuẩn. Trong số các loài nấm được
nghiên cứu để phòng chống mối có 2 đối tượng được quan tâm nhiều hơn cả là
Beauveria bassiana và Metarhizium anisopliae lên nhiều giống mối như
Nasutitermes,

Coptotermes,

Reticulitermes,

Microtermes,

Macrotermes,

Hodotermopsis, Hodotermes, Prorhinotermes. Enzim và các hợp chất do 2 loài nấm
tạo ra cũng ảnh hưởng đến khả năng gây bệnh cho các côn trùng khác. Tính kháng
của mối đối với các loại nấm này cũng có thể bị ảnh hưởng bởi áp lực chọn lọc của
các hệ sinh thái nơi làm tổ của mỗi loài [23], [72], [92].
12


Cũng có nhiều tài liệu nghiên cứu về cách sử dụng một số loài giun tròn để
ngăn chặn sự tấn công của mối. Đã có 4 họ giun tròn được đưa vào chương trình
phòng chống các loại côn trùng sống trong đất. Chúng mang nhiều đặc điểm phù hợp
với mục đích phòng trừ sinh học và với các sản phẩm có giá trị kinh tế, được coi như
một dạng thuốc trừ sâu sinh học. Fujii (1975) đã xác nhận khi loài mối C. formosanus
bị nhiễm giun Steinernemar carpocapsae (Weiser) có tỉ lệ chết đạt tới 96% sau 7
ngày [31]. Từ kết quả thử nghiệm trong phòng thí nghiệm, Trudeau (1989) cũng
khẳng định tỷ lệ chết khá cao đối với loài Nasutitermes costalis và R. flaviceps bị lây
nhiễm Steinernemar carpocapsae [89]. Tuy nhiên, lượng giun tròn cần để gây chết
khoảng 50% mối thợ hai loài Coptotermes formosanus và Reticulitermes favipes là


Tình hình nghiên cứu mối hại công trình kiến trúc tại Việt Nam
Bên cạnh những nghiên cứu điều tra thành phần loài, xác định các loài gây hại

chính cho các đối tượng cần bảo vệ, các nghiên cứu chuyên sâu hơn về phân loại học
về tỉ lệ đẳng cấp và sự phân công lao động của mối cũng được tiến hành nhằm chính
xác hóa các loài mối còn chưa được xác định chắc chắn bằng phương pháp phân loại
hình thái và làm cơ sở đề xuất các biện pháp phòng trừ hợp lý.
Trong những năm gần đây, ứng dụng của sinh học phân tử trong phân loại mối
đang được từng bước thực hiện. Năm 1999, Ngô Trường Sơn và Lê Văn Triển đã áp
dụng phương pháp sắc kí khí biểu bì trong công tác định loại loài mối. Trịnh Đình
Đạt và cộng sự (2003, 2004) đã công bố kết quả nghiên cứu về đa dạng di truyền ở
một số loài mối, sử dụng hệ thống đa hình di truyền isozyme esteraza để so sánh giữa
hai loài M. annandalei và O. yunnanensis, hai loài M. gilvus và M. carbonarius ở
miền nam Việt Nam [3], [10]. Vào năm 2005, Trịnh Đình Đạt và các cộng sự đã tiến
hành xác định mức độ đa hình di truyền của một số loài mối giống Macrotermes bằng
kỹ thuật RAPD-PCR [13]. Để làm rõ hơn vấn đề đa hình trong quần thể mối, Nguyễn
Đức Khảm (2008) đã bàn luận trong nghiên cứu của mình về đặc điểm đồng hình và
dị hình trong cùng một loài ở mối và công tác phân loại mối dựa vào hình thái ngoài.
Trong đó nghiên cứu tập trung vào sự biến đổi kích thước rất lớn trong cùng một loài
của nhóm mối Coptotermes. Do đó đòi hòi các công trình nghiên cứu cơ bản để phân
biệt được các loài đồng hình và nhận thức được các dị hình trong cùng loài nhắm
khai thác các thông tin về sinh học của các loài đó để ứng dụng vào việc khai thác
những thuận lợi cũng như phương pháp phòng trừ [8].
Năm 2003, Nguyễn Văn Quảng đã tiến hành nghiên cứu tỉ lệ đằng cấp trong tổ
mối của loài M. annandalei và quá trình phân công lao động trong các hoạt động
14


kiếm ăn xây tổ. Tác giả đã cho thấy hoạt động của mối bên ngoài tổ chủ yếu do mối



là một dẫn liệu quan trọng trong phòng trừ Coptotermes formosanus vốn được xem là
loài mối chủ yếu gây hại cho các công trình kiến trúc và kho tàng.
Dựa trên những hiểu biết về sinh học, sinh thái mối, các biện pháp phòng trừ
mối cũng đã được các nhà khoa học quan tâm nghiên cứu trên toàn quốc. Các biện
pháp này ngày càng được cải tiến nhờ những nghiên cứu chuyên sâu về mối, đồng
thời tiếp thu những kiến thức có được trên thế giới.
Nguyễn Đức Khảm và Vũ Văn Tuyển (1985) đã viết cuốn “Mối và kỹ thuật
phòng chống mối”. Nội dung sách cung cấp các dẫn liệu quan trọng về sinh học mối,
mô tả khá đầy đủ và chuẩn hoá các phương pháp phòng chống mối cho công trình
xây dựng. Nguyễn Chí Thanh (1994) đã tu chỉnh và bổ sung để cho ra đời cuốn “sổ
tay phòng chống mối”, như một tài liệu phổ cập kiến thức để phòng trừ mối. Luận án
Tiến sĩ của Nguyễn Chí Thanh, 1995 được xem như một tổng kết đến thời gian này
về mối hại công trình kiến trúc ở Việt Nam, với ghi nhận 25 loài mối gây hại cho
công trình kiến trúc và kho tàng ở Việt Nam. Từ năm 1975 đến nay nhiều phương
pháp diệt các loài mối thuộc giống Coptotermes đã được các tác giả trong nước đề
cập đến trong các công trình nghiên cứu như Nguyễn Đức Khảm (1976, 1985),
Nguyễn Ngọc Kiểng (1987), Nguyễn Chí Thanh (1996), Vũ Văn Tuyển (1993).
Nguyễn Văn Quảng (1971) dùng phương pháp siêu âm phát hiện tổ mối, Lâm
Quang Thiệp (1973) dùng phương pháp điện trường để thăm dò tổ mối. Nguyễn Chí
Thanh đã nghiên cứu phòng chống mối cho các công trình xây dựng và kho tàng
trong các năm từ 1971 đến 1994, đưa ra được quy trình phòng trừ mối bằng phương
pháp lây nhiễm. Vũ Văn Tuyển (1985) đã liệt kê được 27 loài thuộc 3 họ mối phá
hoại nhà cửa tại 18 tỉnh trên cả hai miền Nam và Bắc. Phương pháp tìm tổ mối để
diệt trực tiếp của Nguyễn Đức Khảm và Vũ Văn Tuyển (1985) dựa trên cơ sở thu
nhận và khuyếch đại tín hiệu báo động của mối, khi gặp sự cố để phát hiện tổ mối
ngầm trong công trình kiến trúc. Đây là phương pháp được áp dụng khá phổ biến
trong những năm 80 của thế kỷ trước. Phương pháp này có hạn chế là việc tìm tổ tốn
công sức, tiền bạc, nhất là đối với các công trình có kết cấu phức tạp, giá thành khảo

Năm 2004, Nguyễn Tân Vương và cộng sự giới thiệu công trình nghiên cứu về
1 loại bả diệt mối mới với tên gọi BDM 04. Theo tác giả, loại bả này có hiệu quả cao
với giống mối Coptotermes gây hại chủ yếu đối với công trình kiến trúc tại Việt Nam.
Liều lượng sử dụng là 10- 20g/tổ và hiệu quả của bả phát huy trong thời gian
17


khoảng 15 – 30 ngày. Năm 2010, Viện Sinh thái và Bảo vệ công trình đã giới thiệu
một loại bả BDM 10 với hoạt chất là Hexaflumuron có hiệu quả cao đối với mối gây
hại công trình kiến trúc và đã được Cục Bảo vệ thực vật công nhận là tiến bộ kỹ
thuật. Hiện nay, loại bả này đang tiếp tục được hoàn thiện để có thể sớm trở thành
một sản phẩm được thương mại hóa trên thị trường.
Nghiên cứu phòng trừ mối ở Việt Nam còn chậm hơn so với trên thế giới.
Công tác phòng trừ các nhóm côn trùng này mới chỉ được thực hiện đơn lẻ, cục bộ
ở một số công trình đang bị chúng xâm hại. Biện pháp sử dụng phổ biến hiện nay vẫn
là sử dụng thuốc hóa học phòng trừ cho từng công trình cụ thể. Tuy nhiên, biện pháp
sử dụng bả và chế phẩm sinh học cũng đã được quan tâm nhiều hơn và bước đầu đã
cho thấy những ưu điểm trội hơn hẳn của mình trong công tác phòng chống mối ở
Việt Nam.
Riêng về mối gây hại trong các công trình di tích, đã có nhiều ghi nhận về tác
động của mối đến các công trình này như ở một số đền chùa trên cả nước, Hoàng
thành Hà Nội, đền Ngọc Sơn, phố cổ Hội An, cố đô Huế... Tuy nhiên nhưng các
nghiên cứu và xử lý mối trong các công trình phần lớn mới chỉ có tính chất cục bộ,
nhỏ lẻ đối với từng di tích. Các nghiên cứu có tính chất đầy đủ, hệ thống vẫn chưa
được quan tâm đúng mức. Chỉ có một số nghiên cứu điển hình về mối hại các khu di
tích được thực hiện tại Việt Nam như mối hại công trình tại phố cổ Hội An, Huế,
thánh địa Mỹ Sơn đã được thực hiện [37].
1.3.

Tình hình nghiên cứu mối tại tỉnh Thanh Hóa


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status