BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Vũ Thu Thảo
THẾ GIỚI CỎ CÂY
TRONG THƠ NƠM NGUYỄN TRÃI
DƯỚI GĨC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
NGƠN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HĨA VIỆT NAM
Thành phố Hồ Chí Minh - 2019
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Vũ Thu Thảo
THẾ GIỚI CỎ CÂY
TRONG THƠ NƠM NGUYỄN TRÃI
DƯỚI GĨC NHÌN PHÊ BÌNH SINH THÁI
Chun ngành
: Văn học Việt Nam
Mã ngành
: 8220121
LUẬN VĂN THẠC SĨ
TP. Tây Ninh, ngày 29 tháng 3 năm 2019
Tác giả
Vũ Thu Thảo
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU ................................................................................................................. 1
Chương 1. NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG ................................................................ 14
1.1. Nguyễn Trãi và thơ chữ Nôm ........................................................................ 14
1.1.1. Thời đại ................................................................................................... 14
1.1.2. Con người - cuộc đời .............................................................................. 15
1.1.3. Thơ chữ Nôm Nguyễn Trãi..................................................................... 17
1.2. Tiền đề triết học về mối quan hệ thiên – nhân và hình ảnh thiên nhiên
trong thơ ca trung đại Việt Nam .................................................................... 20
1.2.1. Triết học tam giáo trong quan hệ giữa con người và tự nhiên................ 20
1.2.2. Hình ảnh thiên nhiên trong thơ ca trung đại Việt Nam .......................... 22
1.3. Lý luận về phê bình sinh thái trong văn học.................................................. 28
1.3.1. Khái lược lý luận phê bình sinh thái ....................................................... 29
1.3.2. Phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học và sự liên quan với
đề tài ........................................................................................................ 36
Tiểu kết chương 1 ................................................................................................... 40
Chương 2. THẾ GIỚI CỎ CÂY TRONG THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI
VÀ NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA THẨM MỸ SINH THÁI .............. 42
2.1. Cỏ cây với vẻ đẹp tự nhiên, đa dạng.............................................................. 42
Văn học Việt Nam thế kỷ XXI nở rộ với nhiều khuynh hướng văn học góp
phần làm mở rộng và đa dạng hơn nguồn đề tài cho văn học và nghiên cứu văn học
thời kì mới. Cùng với lý thuyết phê bình nữ quyền, phê bình sinh thái ở Việt Nam
dần trở thành một trào lưu phê bình năng động, tiến bộ, nhất là trong giai đoạn xã
hội hiện đại khi mà con người phải đối mặt với nhiều nguy cơ sinh thái – nguồn gốc
của mọi sự biến đổi khí hậu và khủng hoảng mơi trường. Trước tình trạng thế giới
tự nhiên ngày một xấu đi, phê bình sinh thái đã làm đúng vai trị và nhiệm vụ của
nó, làm cho con người phải nhìn nhận lại cách sống của mình, từ đó hình thành một
lối ứng xử hài hịa, gần gũi với tự nhiên.
Thái độ sống chan hòa, trân trọng tự nhiên từ lâu đã xuất hiện trong đời sống
văn hóa của người xưa và được biểu hiện cụ thể qua các tác phẩm của họ. Trong số
các nhà thơ trung đại, Nguyễn Trãi được xem là một tác gia nổi bật hơn cả. Các tác
phẩm của ơng đều có một vị trí quan trọng và giá trị to lớn trong nền văn học nước
nhà. Bên cạnh mảng thơ về lòng ưu ái, Nguyễn Trãi còn viết nhiều và viết hay về
mảng thơ thiên nhiên. Thiên nhiên hiện ra trong thơ ông ẩn chứa nét đẹp tự nhiên,
hài hòa, đầy sức sống đặc biệt là những vần thơ về các loài thảo mộc. Không phải
ngẫu nhiên mà trong thơ Nôm, ông dành ra hẳn một mục để nói về cỏ cây đồng thời
cũng cho chúng xuất hiện rải rác trong các bài thơ của những mục khác. Tình cảm
với cỏ cây đã đại diện cho tấm lòng trân quý, yêu mến thiên nhiên, tạo vật của
Nguyễn Trãi. Đó cũng chính là tinh thần mà phê bình sinh thái nỗ lực tìm kiếm và
khám phá.
Cỏ cây dù chỉ là một phần của thiên nhiên nhưng thơng qua đó, người đọc
thấy được tâm hồn tinh tế và cao thượng của Ức Trai. Tuy xuất hiện khá nhiều trong
thơ Nôm nhưng hiện nay vẫn chưa có các cơng trình nghiên cứu riêng biệt về cỏ cây
đồng thời nhìn chúng dưới lý thuyết phê bình sinh thái. Nhận thấy giá trị và ý nghĩa
nhiều mặt của cỏ cây trong thơ Nơm Nguyễn Trãi dưới góc nhìn phê bình sinh thái,
chúng tơi thực hiện đề tài này hy vọng góp thêm một cái nhìn mới về thế giới tự
nhiên trong thơ Nguyễn Trãi. Sau nữa, với đề tài này, chúng tôi cũng muốn đề xuất
triết học sinh thái và nói đến nhiệm vụ của nó là “thơng qua văn học để thẩm định
3
lại văn hóa nhân loại, tiến hành phê phán – nghiên cứu tư tưởng, văn hóa, mơ hình
phát triển xã hội của loài người” (Đỗ Văn Hiểu, 2012). Bên cạnh đó, bản dịch cịn
giới thiệu q trình phát triển của phê bình sinh thái qua việc liệt kê các phong trào
phê bình sinh thái trên thế giới đến khi thống nhất thành khuynh hướng phê bình
sinh thái chung.
Bài Những tương lai của phê bình sinh thái và văn học của Karen Thornber
do tác giả Hải Ngọc dịch đã đem đến một cách nhìn mới cho phong trào này. Karen
Thornber trong cơng trình nghiên cứu của mình đã sáng tạo ra khái niệm
ecoambiguity (sự mơ hồ sinh thái) và xem nó như khái niệm phản ánh đặc trưng cho
các diễn ngôn về mơi trường, tự nhiên trong văn hóa Đơng Á. Theo bà, văn hóa
Đơng Á vốn có tư tưởng gắn bó với tự nhiên, nhưng chính tư tưởng này một phần
nào đó đã mang đến sự ngộ nhận trong ý thức và cách ứng xử đối với môi trường tự
nhiên dẫn tới sự bất cơng mơi trường. Qua đó, nhân loại cần phải nhận thức rõ hơn
về sự phức tạp trong mối quan hệ giữa con người và môi trường ở các nền văn hóa.
Bà cũng đề nghị khi tìm hiểu phê bình sinh thái, người nghiên cứu cần phải nắm rõ
ý thức hành tinh (planet consciousness) – là một ý niệm chỉ không gian rộng nhất,
ko bị chia cắt, chiếm dụng “bao trùm cả sự sống con người và cả sự sống của các
thành tố vô nhân (nonhuman)” (Hải Ngọc, 2013) – để có thể hiểu hơn về tinh thần
sinh thái.
Bản dịch Nghiên cứu văn học trong thời đại khủng hoảng môi trường của
Cheryll Glotfelty do Trần Thị Ánh Nguyệt dịch đã đề cập đến tầm quan trọng của
phê bình sinh thái trong nghiên cứu văn học. Cuối thế kỷ XX, khi sự sống Trái đất
đang bị đe dọa thì sự ra đời của ngành nghiên cứu văn học sinh thái đã trở thành vấn
đề cấp thiết. Trong gợi dẫn, Cheryll Glofelty đã diễn giải định nghĩa phê bình sinh
thái và quá trình hình thành phê bình sinh thái ở Mĩ. Ngồi ra, bà cịn cho rằng phê
bình đang trở thành một khuynh hướng nghiên cứu“liên ngành, đa văn hóa và
bên cạnh sinh thái học tự nhiên và sinh thái học xã hội. Lý giải ra, phê bình sinh
thái tinh thần là kiểu phê bình văn học lấy tư tưởng sinh thái làm trung tâm, xem
đời sống tinh thần xã hội là bối cảnh của sáng tạo văn học.” (Trần Đình Sử, 2015).
Phê bình sinh thái tinh thần liên quan đến các phạm trù tinh thần, môi trường sinh
thái tinh thần, sự sáng tạo của con người. Cả ba phạm trù này đều có quan hệ mật
thiết tạo nên sinh thái tinh thần cho sáng tác văn nghệ vì văn học bao giờ cũng là
5
sản phẩm của môi trường sinh thái tinh thần nên văn học nhất thiết cần phải quan
tâm đến vấn đề văn hóa xã hội, đặc biệt là vấn đề sinh thái tinh thần của con người.
Tác giả Đỗ Văn Hiểu trong một bài viết khác là Tính “khả dụng” của phê
bình sinh thái một lần nữa lại nhấn mạnh sự hài hịa giữa con người và tự nhiên,
xem đó là cơ sở lý luận của phê bình sinh thái, tuy nhiên “khơng nên cực đoan đề
cao lợi ích sinh thái cũng như khơng nên cực đoan đề cao lợi ích của con người bất
chấp nguy cơ sinh thái, và cần phải chú ý đến lợi ích của con người đồng thời chú ý
đến lợi ích của chỉnh thể sinh thái, tiến tới xác lập quan niệm thống nhất hữu cơ
giữa lợi ích của nhân loại và lợi ích của chỉnh thể sinh thái.” (Đỗ Văn Hiểu, 2016)
đồng thời ông cũng cho rằng cần phải kết hợp phương pháp nghiên cứu văn hóa và
nghiên cứu nội tại khi khảo sát văn bản văn học để đảm bảo tính thực tiễn và tính
thẩm mĩ.
Cơng trình nghiên cứu Con người và tự nhiên trong văn xi Việt Nam sau
năm 1975 dưới góc nhìn phê bình sinh thái của Trần Thị Ánh Nguyệt và Lê Lưu
Oanh được xem là chuyên luận phê bình sinh thái đầu tiên được xác nhận một cách
thuyết phục. Trong cơng trình, các tác giả đã giới thiệu rất cụ thể về lý thuyết phê
bình sinh thái trên thế giới và Việt Nam từ khái niệm đến các tiêu chí của phê bình
văn học sinh thái, diễn giải cụ thể mối quan hệ giữa con người và tự nhiên trong văn
học từ xưa tới nay làm tiền đề cho sự phát triển của nghiên cứu phê bình sinh thái ở
Việt Nam. Ngồi ra, khi đi sâu vào phân tích nhiều tác phẩm cụ thể, cả hai tác giả
đều thấy được một cảm hứng phê phán từ điểm nhìn sinh thái qua các khía cạnh ý
cứu thơ Nguyễn Trãi mà chúng tơi tìm được, đó là:
Luận văn Thạc sĩ Tìm hiểu thiên nhiên trong Quốc âm thi tập và Ức Trai thi
tập của Nguyễn Trãi từ góc nhìn sinh thái của Lê Thị Thảo (2015) đã xem thiên
nhiên trong thơ chữ Hán và chữ Nôm của Nguyễn Trãi như một môi trường sống lý
tưởng của tác giả. Cái môi trường ấy không chỉ chứa đựng một hệ sinh vật phong
phú, một sự chuyển vận của thế giới tự nhiên mà cịn là nơi chốn tìm về của tác giả
trong những lúc bĩ cực. Ngoài ra, tác giả còn thấy rằng, thiên nhiên trong thơ
Nguyễn Trãi cũng mang đậm tính triết lý qua các khía cạnh như: một môi sinh
thuần khiết, lý tưởng; chuẩn mực đạo đức, thẩm mỹ; đối tượng tụng ca, thưởng
ngoạn. Tuy nhiên trong cơng trình nghiên cứu này, người viết tuy vận dụng góc
nhìn sinh thái để nhìn thiên nhiên như là “môi sinh” của tác giả nhưng chưa đề cập
7
đến mối quan hệ giữa thiên nhiên với con người theo như tinh thần của phê bình
sinh thái.
Tác giả Trần Thị Kim Phướng trong cơng trình nghiên cứu Con người và
thiên nhiên trong thơ Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm dưới góc nhìn sinh thái đã
nhìn thấy sự phong phú, đa dạng của động, thực vật trong trang thơ chữ Hán và chữ
Nơm của hai ơng. Đó là một hệ sinh thái gồm những “cây” và những “con” được
miêu tả chân thực, sinh động như chính bản tính tự nhiên của nó. Khơng chỉ thế,
chúng cịn “xuất hiện với mật độ có khi rậm rạp, đơng đúc, có khi thưa thớt, ít ỏi
giống như sự phân bố thực tại của chúng trong hệ sinh thái tự nhiên” (Trần Thị
Kim Phướng, 2017). Ngồi ra, tác giả cịn nhận thấy một mối liên hệ sâu sắc giữa
con người và tự nhiên trong thơ của Nguyễn Trãi, Nguyễn Bỉnh Khiêm. Đối với họ,
thiên nhiên đã trở thành bạn bè, người thân, hàng xóm… cùng chung sống hịa hợp,
gắn bó với nhau. Chính trong cách ứng xử với tự nhiên, người viết không chỉ thấy
được thái độ trân trọng, trìu mến vạn vật mà cịn rút ra được thơng điệp về sự tơn
trọng, bình đẳng với thế giới tự nhiên của hai nhà thơ.
2.2. Cỏ cây trong các cơng trình nghiên cứu về thơ Nơm Nguyễn Trãi
hóa để phục vụ đời sống vật chất và tinh thần con người. Và qua việc xây dựng hệ
thống hình ảnh những cây mía, cây chuối, cây đa già, cây dâm bụt... bên cạnh
những tùng, cúc, trúc, mai..., tác giả cho thấy “mối quan hệ giàu giá trị nhân văn
chủ nghĩa giữa thiên nhiên và lao động sản xuất của con người.” (Đặng Thanh Lê,
1980). Nhà nghiên cứu cịn phát hiện rằng những bài thơ nói về cây cỏ còn mang ý
nghĩa ẩn dụ cho tuổi xanh, tình u, tài năng, khí tiết con người, hoặc triết lý Nho,
Phật.
Với bài viết Quốc âm thi tập, tác phẩm mở đầu nền thơ quốc ngữ Việt Nam,
tác giả Xuân Diệu đã phát hiện rằng Nguyễn Trãi khác hẳn với các nhà Nho xưa
“khi miêu tả sinh động và thắm thiết những loại rau cỏ sản vật của quê hương
mình.” (Xn Diệu, 1980). Trong khi đó, nhà phê bình Hoài Thanh trong bài viết
Một vài nét về con người Nguyễn Trãi lại nhận định rằng: “Nguyễn Trãi khơng phải
vì chán đời mới quay ra yêu cỏ cây, sông núi mà ở ơng, tình cảm trìu mến, u cỏ
cây sơng núi cùng với yêu đời xét cho cùng vẫn là một.” (Hoài Thanh, 1980).
Bài viết Địa vị của Nguyễn Trãi trong quá trình phát triển của lịch sử văn
học Việt Nam của Nguyễn Văn Hoàn đã nhận thấy: Nguyễn Trãi đã đưa những từ
ngữ “tầm thường” – tên của các loại cỏ cây như xoan, chuối, muống, mùng, mía, đa,
9
niềng niễng… đã chịu vắng bóng khá lâu trong văn học, khoảng bốn trăm năm sau
khi ơng mất thì những hình ảnh này mới xuất hiện trong thơ của Hồ Xuân Hương,
Nguyễn Khuyến, Tú Xương và tiêu biểu nhất là trong thơ ca nói về đời sống thực.
Điều này cho thấy Nguyễn Trãi đã “thoát khỏi những thi liệu cao quý trong văn học
cổ để rồi đưa những cây cỏ - những sản vật quê hương bình thường của cuộc sống
vào trong thơ một cách hiền hòa nhưng vẫn phảng phất thi vị” (Nguyễn Văn Hoàn,
1980).
Với bài viết Về con người cá nhân trong thơ Nguyễn Trãi, tác giả Nguyễn
Hữu Sơn nhận thấy các bài thơ vịnh cảnh, vịnh vật trong thơ Nơm là sự chiếu ứng
với khí tiết của người quân tử. Và trong những bài thơ này “hình bóng tác giả chỉ
chung với thiên nhiên, cỏ cây được tác giả nhắc đến khá nhiều bởi chúng khơng chỉ
có vẻ đẹp khác nhau mà cịn có “mối quan hệ thân thiết và cảm động” (Phạm Thị
Ngọc Hoa, 2012) với nhà thơ. Dù cuộc đời của Nguyễn Trãi gặp nhiều điều bất như
ý nhưng tuyệt nhiên trong thơ ơng khơng có cảnh buồn tê tái. Qua cơng trình, tác
giả đã lí giải sâu sắc về quan niệm thẩm mỹ và phương thức nghệ thuật để từ đó có
được cái nhìn tổng quan hơn về cỏ cây trong thơ Nơm Nguyễn Trãi.
Ngồi các cơng trình nghiên cứu trên, cỏ cây còn xuất hiện trong các bài cảm
nhận riêng biệt nhằm phục vụ cho công việc giảng dạy trong nhà trường hoặc bổ trợ
cách cảm thụ thơ Nguyễn Trãi cho người đọc. Chúng tơi khảo sát và tìm hiểu những
bài viết này qua hai tập sách là: Nguyễn Trãi, nhà văn và tác phẩm trong trường
phổ thông của tác giả Lê Bảo, xuất bản năm 1998, Nhà xuất bản Giáo dục và Tiếp
cận thơ văn Nguyễn Trãi của tác giả Đoàn Thị Thu Vân, xuất bản năm 2001, Nhà
xuất bản trẻ, Hội nghiên cứu và giảng day văn học TP. HCM.
Các bài viết trong hai cuốn sách trên thường nói về một loại cây trong số các
loại cỏ cây hoặc đặt cỏ cây ấy trong cái nhìn với mùa xuân, với tình u hoặc trong
ý vị thiền. Có các bài như: Một bài thơ của Nguyễn Trãi: Ba tiêu của Xuân Diệu
(1980), Cảm quan mùa xuân trong thơ Nôm Nguyễn Trãi của Nguyễn Hữu Sơn
(1985), Một bài thơ tình của Nguyễn Trãi của Cao Hữu Lạng (1985), Cây chuối của
Nguyễn Đình Chú (1991), Thơ Nguyễn Trãi – mùa xuân và hoa của Cao Hữu Lạng
(1994), Trúc của Bùi Văn Nguyên (1994), Tùng của Lê Trí Viễn và Đồn Thu Vân
(1994), Tùng – Một bài thơ tâm huyết của Nguyễn Trãi của Trần Đình Sử (1995),
Tìm hiểu ý vị thiền trong bài thơ cây chuối của Nguyễn Trãi của Phạm Tú Châu
(1998). Những bài viết trên của các tác giả đã đi sâu vào việc phân tích ý nghĩa cỏ
11
cây và có sự gặp gỡ nhau trong việc nhận thấy cỏ cây không chỉ mang nét đẹp tự
nhiên mà cịn mang nét đẹp kín đáo ở phẩm chất và khí tiết hữu dụng vì nước, vì
dân, qua đó có thể thấy được cái đẹp tâm hồn nhà thơ. Bên cạnh đó, trong cách nhìn
về thiên thiên, các tác giả còn nhận thấy thơ viết về các loại thảo mộc trong mùa
Phương pháp phân tích, tổng hợp: với phương pháp này chúng tơi sẽ tiến
hành phân tích những đặc điểm của cỏ cây với tư cách là một biểu hiện thẩm mỹ
quan của Nguyễn Trãi, từ đó tổng hợp lại để thấy được ý thức sinh thái và giá trị
nhân văn cao đẹp trong tư tưởng, quan niệm sống cũng như nhân cách con người
nhà thơ.
Phương pháp lịch sử - xã hội: nói đến thơ, nhất là thơ xưa, bao giờ cũng hàm
chứa bối cảnh thời đại xã hội mà nhà văn, nhà thơ sinh sống. Vì thế, khi nhắc đến
mối tương giao giữa cỏ cây với nhà thơ cần phải sử dụng phương pháp này để thấy
được lý do vì sao tác giả lại gắn bó với thế giới giới tự nhiên như vậy.
Phương pháp tiểu sử - thực chứng: phương pháp này giúp chúng tôi dùng
những yếu tố về cuộc đời con người của Nguyễn Trãi để giải thích những ảnh
hưởng của chúng đến thơ của Nguyễn Trãi.
Phương pháp phê bình sinh thái: đây là phương pháp nghiên cứu mới, chúng
tôi sẽ tham chiếu vào việc khảo sát các bài thơ xuất hiện hình ảnh cỏ cây để có được
một góc nhìn mới thế giới tự nhiên trong thơ Nơm Nguyễn Trãi.
Bên cạnh đó, chúng tơi cịn sử dụng các thao tác thống kê, phân loại để giúp
các ý kiến phân tích, nhận định đủ cơ sở thực tế và sức thuyết phục.
5. Đóng góp của đề tài
Trong cơng trình nghiên cứu này, chúng tơi mong muốn dùng lý thuyết phê
bình sinh thái để mang đến một cái nhìn mới về thơ thiên nhiên Nguyễn Trãi, nhất
là thơ viết về cỏ cây bởi nhận thấy đối tượng này cũng chiếm giữ một vị trí quan
trọng trong các sáng tác của ơng. Cỏ cây khi được nhìn qua lăng kính của phê bình
sinh thái khơng chỉ là biểu hiện của thẩm mỹ sinh thái mà còn là một đối tượng có
mối giao cảm sâu sắc với tác giả.
Hơn nữa, với cơng trình nghiên cứu này, chúng tơi cũng muốn đề xuất một
thái độ sống hòa hợp, gần gũi với tự nhiên như cách mà Nguyễn Trãi đã thể hiện
qua tác phẩm của mình. Trong xã hội hiện đại, con người ngày càng có biểu hiện xa
13
1.1. Nguyễn Trãi và thơ chữ Nôm
1.1.1. Thời đại
Nguyễn Trãi sống trong thời đại cuối thế kỷ XIV – nửa đầu thế kỷ XV. Đây
là thời đại diễn ra sự suy thoái của hai nhà Trần, Hồ và sự phát triển đến đỉnh cao
của nhà Hậu Lê.
Cuối thế kỷ XIV, giai cấp phong kiến nhà Trần bước vào giai đoạn suy yếu.
Các vị vua cuối triều Trần từ Trần Nghệ Tông đến Trần Thiếu Đế đều là những vị
vua bạc nhược, u mê và khơng có tài cầm quyền. Tất cả quyền lực triều chính đều
nằm trong tay Hồ Quý Ly. Sau khi Nghệ Tông mất, Hồ Quý Ly đã giết vua Thuận
Tông và ép vua Trần Thiếu Đế (con vua Trần Thuận Tông, cháu nội vua Trần Nghệ
Tông, cháu ngoại Hồ Quý Ly) nhường ngôi cho mình. Năm 1400, Hồ Q Ly lên
ngơi, lập ra nhà Hồ, niên hiệu là Thánh Nguyên, quốc hiệu Đại Ngu, nhưng ngay
sau đó lại nhường ngơi cho con thứ là Hồ Hán Thương và lên làm Thái Thượng
Hoàng.
Là vị vua đầu tiên của triều đại mới, Hồ Quý Ly đã tiến hành cải cách các
lĩnh vực hành chính, kinh tế, quân sự đồng thời dời đô từ kinh thành Thăng Long về
Thanh Hóa. Trong khoảng thời gian trị vì, ông còn đem quân đánh Chiêm Thành và
chiếm được nhiều châu huyện lúc bấy giờ. Thế nhưng, nhà Hồ chưa được thành lập
bao lâu, giặc Minh thừa dịp tình thế xã hội nước ta có nhiều xáo trộn biến đổi làm
cho lịng dân li tán, thế nước khơng n đã viện cớ “phù Trần diệt Hồ” nhằm xua
quân sang xâm lược. Năm 1406, tướng Trương Phụ của nhà Minh chỉ huy mở cuộc
xâm lược vào nước ta. Quân nhà Hồ tích cực chống cự nhưng nhanh chóng gặp thất
bại. Năm 1407, cha con Hồ Quý Ly và các triều thần nhà Hồ đều bị quân Minh bắt
và đưa về Trung Quốc.
Dưới ách cai trị của nhà Minh, nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân Đại Việt
liên tiếp nổ ra ở khắp cả nước. Tuy nhiên, những cuộc khởi nghĩa này chỉ duy trì
trong thời gian ngắn rồi lại bị quân Minh đàn áp và thất bại.
15
16
thống yêu nước thương dân và tình cảm nhân hậu rộng mở” từ cha và ông ngoại. Tư
tưởng này theo suốt cuộc đời Nguyễn Trãi và được thể hiện rõ nét qua các tác phẩm
của ông.
Thuở nhỏ, Nguyễn Trãi sống với mẹ và ông ngoại ở dinh quan Tư đồ, sau
dời về Côn Sơn. Khi mẹ và ông ngoại đều mất, ông về sống với cha ở Nhị Khê.
Năm 1400, ông thi đỗ Thái học sinh và cùng cha ra làm quan dưới triều Hồ, phụ
giúp Hồ Quý Ly thi hành cải cách về kinh tế, chính trị, văn hóa nhằm đưa đất nước
phát triển hơn.
Năm 1407, nhà Minh cướp nước ta, Nguyễn Phi Khanh cũng nằm trong số
quan lại bị giặc bắt mang sang Trung Quốc. Nguyễn Trãi cùng em trai đi theo với ý
định sang bên kia biên giới để chăm sóc cha trong khoảng thời gian bị cầm tù. Khi
đến biên ải, nghe lời cha khuyên dạy, ông ở lại “đền nợ nước, báo thù nhà”, nhưng
lại bị giặc Minh bắt giữ và giam lỏng tại thành Đơng Quan. Sau đó, ơng tìm cách
thốt ra và đi nhiều nơi để tìm kiếm vị minh chủ phị tá diệt giặc. Năm 1418, Lê Lợi
khởi nghĩa tại Lam Sơn, Nguyễn Trãi tìm gặp Lê Lợi, dâng Bình Ngơ sách. Ông
theo Lê Lợi kháng chiến, giữ nhiều chức vụ quan trọng, được Lê Lợi tin tưởng cho
làm quân sư và thảo những thư từ, mệnh lệnh quan trọng của nghĩa quân Lam Sơn.
Năm 1427, giặc Minh rút về nước. Năm 1428, nhà Lê được thành lập.
Nguyễn Trãi bắt đầu thực hiện lý tưởng xây dựng đất nước nhưng chưa được bao
lâu thì bị nghi oan và bị bắt giam, sau đó lại được thả nhưng khơng được tin dùng
như trước. Năm 1433, Lê Thái Tổ mất, vua Lê Thái Tông lên ngơi tuổi cịn non trẻ,
bọn gian thần ln đặt điều gièm pha ơng với vua. Đau buồn vì thói đời cay đắng và
cũng vì lý tưởng khơng thể tiếp tục được thực hiện, ông xin về ở ẩn tại Cơn Sơn
(năm 1437, 1438).
Nguyễn Trãi là một con người có lịng “ưu dân ái quốc” sâu đậm. Tuy về
Cơn Sơn sống thanh nhàn, hướng lòng về cuộc sống chân quê, nhưng càng gần gũi
với nhân dân, ơng càng thấm thía hơn ai hết cuộc sống cơ cực, vất vả của họ, đồng
được giới nghiên cứu đánh giá là tác phẩm xưa nhất bằng tiếng Việt còn giữ được
đến ngày nay. Tập thơ là nguồn tài liệu quý báu để nghiên cứu ngôn ngữ và văn học
dân tộc.
Việc sưu tầm văn bản thơ Nôm Nguyễn Trãi cho đến nay đã dần hoàn thiện.
Từ sau vụ thảm án Lệ Chi Viên, số lượng thơ của Nguyễn Trãi bao gồm cả Quốc
18
âm thi tập cũng bị tiêu hủy và thất lạc rất nhiều. Đến năm Quang Thuận thứ tám,
vua Lê Thánh Tông sau khi giải oan và khôi phục cho ông đã hạ chỉ cho Trần Khắc
Kiệm sưu tầm lại những di cảo thơ văn của ông. Tiếp theo đến mấy trăm năm thăng
trầm của lịch sử từ nhà Lê cho đến đầu nhà Nguyễn, bản sưu tầm thơ ông của
Nguyễn Khắc Kiệm cũng bị thất lạc. Mãi đến thời vua Minh Mạng, Tự Đức, các
nhà Nho như Nguyễn Năng Tĩnh, Dương Bá Cung, Ngơ Thế Vinh cùng chung sức
tìm kiếm và sưu tập, lại đem khắc ván in. Bộ sách có tên chung là Ức trai thi tập
gồm 7 quyển. Quốc âm thi tập nằm trong quyển thứ bảy.
Một điều cần lưu ý là tập thơ Quốc âm thi tập sưu tầm được không phải là
nguyên bản của Nguyễn Trãi mà là do người đời sau chép lại, theo bản cũ đã nát mà
chép hoặc do người đọc cho mà chép, cứ như thế qua nhiều thời kỳ khác nhau được
chép đi chép lại cho nên có nhiều dị bản chưa thống nhất với nhau về mặt từ ngữ.
Không chỉ thế, khi sưu tầm, khảo đính Quốc âm thi tập của Nguyễn Trãi, các nhà
nghiên cứu cịn nhận thấy có sự nhập nhằng bởi có một số bài thơ Nơm của Nguyễn
Trãi xuất hiện trong tập thơ Bạch Vân thi tập của Nguyễn Bỉnh Khiêm. Trong bản
chép tay Bạch Vân thi tập gồm 100 bài thì có đến 20 bài có chép trong Quốc âm thi
tập, bản in của Nguyễn Trãi; các bài ở hai bên giống hệt nhau, có khi khác một hay
nhiều câu, có khi chỉ khác đơi chữ. Theo các học giả sưu tầm thì bản in có trước bản
chép tay nên có thể người sưu tầm thơ Nguyễn Bỉnh Khiêm muốn đưa thêm tác
phẩm của người khác vào để thêm số trang cho tập sách chứ không phải là nguyên
bản của Nguyễn Bỉnh Khiêm đã mất từ lâu.
Năm 1956, nhà xuất bản Văn Sử Địa đã in bản sách Quốc âm thi tập do cụ