Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
1
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƢỜNG ĐẠI HỌC SƢ PHẠM
HÀ THUÝ ANH
TÍNH KHẨU NGỮ TRONG THƠ
NÔM NGUYỄN TRÃI
Chuyên ngành: Văn học Việt Nam
Mã số: 60.22.34 LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC NGỮ VĂN Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. Phạm Thị Phƣơng Thái
2.1.1.4. Số từ 31
2.1.1.5. Đại từ 32
2.1.2. Hư từ 34
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
3
2.2. Về phương diện cú pháp 37
2.2.1. Kết hợp từ ngữ trong sự đăng đối hài hòa 38
2.2.2. Sử dụng các kiểu câu cảm thán, câu nghi vấn 40
2.2.3. Sử dụng kết cấu của lối nói khẩu ngữ 43
2.3. Một số biện pháp tu từ 47
2.3.1. Cách so sánh ví von giàu hình ảnh 47
2.3.2. Sử dụng biện pháp ẩn dụ, hoán dụ 50
Tiểu kết 53
CHƢƠNG 3: HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA TÍNH KHẨU NGỮ TRONG
THƠ NÔM NGUYỄN TRÃI 55
3.1. Giá trị biểu hiện 55
3.1.1. Thể hiện con người cá nhân Nguyễn Trãi …… 56
3.1.2. Sức sống lâu bền của thơ Nôm Nguyễn Trãi 62
3.2. Nguồn gốc sử dụng từ ngữ mang tính khẩu ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi 68
3.2.1. Nhân tố khách quan 68
3.2.1.1. Ảnh hưởng văn học dân gian 68
3.2.1.2. Ảnh hưởng của văn thơ Nôm đời Trần 71
3.2.1.3. Vay mượn thi liệu Hán học 73
3.2.2. Nhân tố chủ quan 79
3.2.2.1. Tư tưởng nhân dân 79
3.2.2.2. Ý thức xây dựng nền văn hóa Việt 81
Tiểu kết 83
KẾT LUẬN 84
xem là "tác phẩm mở đầu nền thơ cổ điển" (6,tr.587).
Nếu như thơ văn chữ Hán nặng về chính trị, khi đọc ta như bay lên với khí
thế hoành tráng, kì vĩ và ngọn lửa bùng cháy như tấm lòng yêu nước và quyết tâm
diệt kẻ thù của Nguyễn Trãi thì thơ Quốc âm của Nguyễn Trãi lại nhẹ nhàng, bộc
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
5
lộ tâm tình của nhà thơ với cảm xúc đa dạng gắn bó với nhiều cảnh ngộ khác nhau
trong cuộc đời. Mỗi bài thơ bộc lộ một mảnh tâm tình. Như vậy nhìn từ nhiều
phương diện, Quốc âm thi tập là một di sản văn hóa quý báu, có nhiều đóng góp lớn
lao cho văn học nước nhà trên cả hai phương diện nội dung và nghệ thuật.
Ngay từ khi xuất hiện bản phiên âm và chú giải tác phẩm Quốc âm thi tập
của GS. Đào Duy Anh đã thu hút rất nhiều người nghiên cứu với những công trình
khoa học chi tiết đền từng đề tài, từng bài thơ, thậm chí đến từng câu chữ trong thơ.
Qua các công trình nghiên cứu, công lao và đóng góp của tác giả Quốc âm thi tập
đối với nền thơ ca tiếng Việt ngày càng được khẳng định. Tuy nhiên có thể nhận
thấy các ý kiến đánh giá chủ yếu xoay quanh phương diện nội dung tư tưởng của tác
phẩm. Về nghệ thuật mặc dù có một số công trình đề cập đến nhưng để chỉ ra được
những đặc sắc, cống hiến cụ thể thì chưa có.
Với 254 bài thơ Nôm được tập hợp trong Quốc âm thi tập đã thể hiện
Nguyễn Trãi là người rất coi trọng việc sử dụng ngôn ngữ dân tộc. Ta có thể nhận
thấy dấu ấn Hán học hiện ra trong tập thơ nhưng chính điều này đã cho thấy sự
thành công và cống hiến lớn lao của Nguyễn Trãi trong việc tiếp thu và Việt hóa
ngôn ngữ Hán để tạo nên thể thơ Đường luật dân tộc viết bằng ngôn ngữ văn học
dân tộc dựa trên ngôn ngữ nhân dân và ngôn ngữ văn học dân gian. Ngôn ngữ văn
học dân gian vốn được xây dựng trên cơ sở gọt giũa và cách điệu hóa ngôn ngữ
hàng ngày của nhân dân. Điều này có thể thấy rõ trong Quốc âm thi tập Nguyễn
Trãi đã đưa những khẩu ngữ hằng ngày của nhân dân và tận dụng những ưu điểm
của nó để tả cảnh, tả người, tả tình, tả vật. Và việc đưa khẩu ngữ vào trong thơ một
cách tài tình, Nguyễn Trãi đã tạo ra được những hình tượng thơ nhịp nhàng, uyển
nó trong hoàn cảnh nền văn học truyền thống thì tác phẩm gợi mở nhiều hướng tiếp
cận, nhiều vấn đề đáng chú ý kể cả về phương diện nội dung cũng như phương diện
nghệ thuật. Đặc biệt khi nghiên cứu văn học thì đối tượng nghiên cứu trước hết
chính là ngôn ngữ bởi vì ngôn ngữ là chất liệu, là nơi chứa thông tin, thể hiện ý định
của tác giả khi sáng tạo ra tác phẩm. Vì thế, tìm hiểu ngôn ngữ trong thơ Nôm
Nguyễn Trãi là một trong những điểm thu hút rất nhiều các nhà nghiên cứu. Sự
quan tâm chú ý của các nhà nghiên cứu đối với Quốc âm thi tập bắt đầu từ khi bản
phiên âm, chú giả của học giả Đào Duy Anh công bố năm 1956. Tuy nhiên sau khi
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
7
cuốn phiên âm, chú giải tái bản lần 2 (1976) thì phương diện ngôn ngữ mới được đề
cập một cách rộng rãi. Có thể điểm qua các tác giả với những công trình nghiên cứu
như: Thanh Lãng với Quốc âm thi tập [tr.22], Nguyễn Thiên Thụ với Ảnh hưởng và
địa vị của Nguyễn Trãi trong văn học Việt Nam [tr.42], Hoàng Văn Hành - Vương
Lộc với Mấy đặc điểm vốn từ tiếng Việt văn học thế kỉ XV qua "Quốc âm thi tập"
của Nguyễn Trãi [tr.10], Vương Lộc với Một vài hư từ trong Quốc âm thi tập
[tr.28], Xuân Diệu với Quốc âm thi tập, tác phẩm mở đầu cho nền thơ ca cổ điển
Việt Nam [tr.6], Hoàng Tuệ với Cống hiến của Nguyễn Trãi đối với tiếng Việt
[tr.46], Phạm Thị Phương Thái với Ngôn ngữ và thể thơ trong Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi
Tác giả Thanh Lãng ngay từ năm 1967 đã cho rằng, Nguyễn Trãi là ông tổ
của nền văn học cổ điển, là ông tổ của nghệ thuật dân tộc. Đồng thời xét từ khía
cạnh Nguyễn Trãi sử dụng chất liệu làm nên tác phẩm là ngôn ngữ từ dân gian -
"những kiểu nói của nhân dân (tục ngữ hay ca dao) tác động được tới nhân dân,
bằng việc đem tư tưởng tiếng nói của mình vào tiếng nói của nhân dân" [22, tr.805],
tác giả nhấn mạnh đến vai trò "khai sinh ra một nghệ thuật dùng ngôn ngữ dân gian
của Nguyễn Trãi" [22, tr.805]. Tuy Thanh Lãng là người nêu ra vấn đề nhưng ông
chưa đi sâu tìm hiểu lí giải về hiện tượng đó.
Đồng quan điểm với Thanh Lãng, Nguyễn Thiên Thụ ngay đầu bài viết của
ngữ văn học dân gian trên cơ sở ngôn ngữ nhân dân và ngôn ngữ của văn học dân
gian" [14, tr.275]. Đồng thời tác giả cũng lí giải ngôn ngữ trong văn học dân gian
vốn đã xây dựng trên cơ sở của sự gọt giũa và cách điệu hóa ngôn ngữ hàng ngày
của nhân dân. Với việc Nguyễn Trãi "đưa khẩu ngữ hàng ngày vào thơ ca và tận
dụng khả năng của khẩu ngữ ấy để tả cảnh, tả lòng, tả người, tả vật" [14,tr.258] đã
làm cho "hình tượng thơ nhịp nhàng, uyển chuyển và đầy màu sắc dân tộc".
Trong luận án tiến sĩ "Ngôn ngữ và thể thơ trong Quốc âm thi tập của
Nguyễn Trãi", tác giả Phạm Thị Phương Thái khi đưa ra những nhận định của mình
về việc xây dựng ngôn ngữ tiếng Việt văn hóa từ ngôn ngữ thông tục của Nguyễn
Trãi đã viết, "Là một nhà văn hóa, tư tưởng có tầm nhìn chiến lược, Nguyễn Trãi ý
thức sự cần thiết xây dựng ngôn ngữ văn hóa" và "hạt nhân cơ bản của ngôn ngữ
thơ Nôm Nguyễn Trãi là tiếng Việt"[41,tr.101]. Tác giả đã lí giải nguyên nhân dẫn
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
9
đến ý thức đó chính là do đòi hỏi của xã hội cũng như ảnh hưởng và tiềm năng diễn
đạt của ngôn ngữ bình dân nên đã thôi thúc Nguyễn Trãi đưa khẩu ngữ vào trong
tác phẩm của mình. Như vậy việc vận dụng lời ăn tiếng nói, lối diễn đạt trong đời
sống hàng ngày vào thơ Nôm đã cho thấy Nguyễn Trãi là người có ý thức đưa khẩu
ngữ vào trong văn học viết. Đồng thời nhà thơ đã đưa tiếng Việt giao tiếp thành
tiếng Việt văn hóa. Qua đó tác giả Phạm Thị Phương Thái khẳng định, "Với Quốc
âm thi tập, Nguyễn Trãi đã có công rất lớn trong việc xây dựng ngôn ngữ văn học,
ngôn ngữ văn hóa từ ngôn ngữ giao tiếp thông thường" [41,tr.104].
Tác giả Xuân Diệu trong bài viết "Quốc âm thi tập, tác phẩm mở đầu nền thơ
cổ điển Việt Nam" đã đánh giá cao những đóng góp về mặt ngôn từ của tập thơ và
dành một phần nghiên cứu về "hành văn" trong thơ Nguyễn Trãi. Tác giả khẳng
định, về mặt ngôn ngữ, Quốc âm thi tập " là một kho chất liệu cho ta nghiên cứu lời
nói câu viết của tổ tiên làm ngót sáu trăm năm trước" [14,tr.618]. Theo ông,
Nguyễn Trãi lấy hình tượng và ý tứ trong những câu tục ngữ ngày xưa hoặc dựa vào
lối sáng tạo của tục ngữ để tạo ra những câu thơ vào loại thành công nhất, vào loại
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở khảo sát, thống kê, so sánh, phân tích lí giải các đặc điểm của tính
khẩu ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi, đề tài sẽ đưa ra những nhận định, đánh giá
khoa học về mức độ ảnh hưởng và cách thức sử dụng những thi liệu của khẩu ngữ
trong Quốc âm thi tập. Kết quả của nó sẽ đóng góp phần nào vào việc đánh giá toàn
diện và sâu sắc hơn về Quốc âm thi tập, về tác giả Nguyễn Trãi từ góc độ ngôn ngữ
trong nền văn học viết bằng tiếng Việt.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu tính khẩu ngữ ở nhiều góc độ thể hiện (từ vựng, cú pháp, biện pháp
tu từ) được thể hiện trong thơ Nôm đó là đóng góp lớn lao của Nguyễn Trãi trong
nền thơ ca viết bằng ngôn ngữ dân tộc.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tƣợng nghiên cứu
Như tên gọi của đề tài, luận văn sẽ tập trung tìm hiểu những biểu hiện đặc
trưng của tính khẩu ngữ trong thơ Nôm Nguyễn Trãi.
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
11
Để đảm bảo tính khách quan, khoa học trong việc đánh giá những đóng góp
của Quốc âm thi tập trong tiến trình thơ Nôm về phương diện ngôn ngữ (tính khẩu
ngữ), chúng tôi sẽ đặt tập thơ này trong sự đối sánh với một số tác phẩm thơ trước
và sau Nguyễn Trãi.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu những đặc điểm biểu hiện của tính khẩu ngữ
trong 254 bài thơ Nôm.
5. Phƣơng pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi sẽ vận dụng tổng hợp một số phương
pháp chính sau:
- Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại được sử dụng để có được những
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
13
Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG CÓ LIÊN QUAN
1.1. Tác giả Nguyễn Trãi
1.1.1. Thời đại Nguyễn Trãi
Trong tiến trình lịch sử xã hội, mỗi thời đại đều tạo ra những con người vĩ
đại. Vào cuối thế kỉ XIV, đất nước ta ở vào tình trạng rối ren và phức tạp. Đây là
giai đoạn lịch sử với nhiều biến cố thăng trầm.Từ cuối đời nhà Trần sang nhà Hồ,
thời kì đấu tranh quyết liệt chống giặc Minh xâm lược cho đến hết hai đời vua đầu
tiên nhà Lê Chính trong hoàn cảnh ấy, lịch sử đã phôi thai và kết tinh vẻ đẹp của
thời đại trong con người toàn tài Nguyễn Trãi - nhà văn hóa xuất sắc của Việt Nam
với các tư cách anh hùng dân tộc - nhà văn - nhà tư tưởng - nhà chính trị - quan
chức, nhà ngoại giao - nhà sử học và địa lý học.
Thời kì cuối thế kỉ XIV, các ông vua vãn Trần đắm chìm trong cuộc sống xa
hoa, không lo triều chính chỉ lo hưởng thụ vì thế đã trở thành những ông vua nhu
nhược, hèn yếu. Lợi dụng tình hình đó, Hồ Quý Li đã thao túng quyền lực của nhà
Trần. Đến năm 1400, Hồ Quý Li chính thức cướp ngôi nhà Trần, lập lên nhà
Hồ.Sau khi lên làm vua, Hồ Quý Li tiến hành cải cách nhiều mặt của đời sống xã
hội nhằm đưa nhà nước phong kiến thể kỉ XIV ra khỏi cơn khủng hoảng như: hạn
chế ruộng đất của quý tộc, đánh thuế theo tài sản, phát hành tiền giấy, di dân đi khai
hoang Tuy nhiên những biện pháp cải cách táo bạo không làm khởi sắc được bộ
mặt héo úa tàn lụi của xã hội vãn Trần để lại. Bởi những cải cách ấy về thực chất
vẫn duy trì những đặc quyền của quý tộc quan liêu mà không mang lại lợi ích thiết
thực cho nhân dân cho nên nó không thể bắt rễ được vào trong quần chúng. Vì thế
cơ đồ nhà Hồ sụp đổ nhanh chóng sau sáu năm vào tay quân Minh là tất yếu.
Sau khi cướp được nước ta, giặc Minh ra sức đàn áp và khủng bố nhân dân ta
về mọi mặt. Nhân dân ta rơi vào cảnh khốn cùng, bao cảnh tang tóc, điêu linh thật
Vì sớm nhận ra ở Nguyễn Trãi một nhân cách đặc biệt, dám nói, dám làm, một tài
năng xuất chúng trong sự nghiệp cải cách đất nước nên Hồ Quý Li đã tin tưởng ở
Nguyễn Trãi rất nhiều. Nhưng tiếc rằng, Nguyễn Trãi chưa có dịp bộc lộ tài năng thì
giặc Minh xâm lược nước ta. Năm 1407, nhà Hồ bị giặc Minh đánh bại. Cha con Hồ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
15
Quý Li và nhiều bề tôi của nhà Hồ trong đó có phụ thân của Nguyễn Trãi bị bắt về
Trung Quốc. Nghe tin, ông vội vàng cùng em trai đi theo chăm sóc cha. Sau khi
nghe lời khuyên của cha, Nguyễn Trãi trở về "tìm cách rửa nhục cho nước, trả thù
cho cha thì mới là đạo hiếu".
Khi trở về ông bị tướng giặc bắt và giam lỏng ở thành Đông Quan. Mặc dù
quân giặc dùng nhiều mưu mua chuộc nhưng ông nhất quyết không ra làm quan cho
giặc. Thời gian ở thành Đông Quan (từ 1406 - 1414) là khoảng thời gian Nguyễn
Trãi tìm tòi, nghiên cứu, suy nghĩa sách lược đánh quân Minh. Sau khi trốn khỏi
thành Đông Quan, Nguyễn Trãi tìm đến với Lê Lợi - vị chủ soái phong trào Tây
Sơn và dâng Bình Ngô sách. Được tin dùng Nguyễn Trãi trở thành một trợ thủ đắc
lực, tin cậy luôn sát cánh cùng Lê Lợi.
Trong cuộc kháng chiến chống quân Minh với cương vị Tuyên Phụng đại
phu Hàn lâm thừa chỉ, ông đã cùng Lê Lợi xây dựng một đường lối quân sự, chính
trị táo bạo và đúng đắn, giúp quân ta dành hết thắng lợi từ trận này sang trận khác.
Có thể nói trong 10 năm kháng chiến chống Minh, Nguyễn Trãi cùng với nghĩa
quân đã trải qua muôn vàn khó khăn gian khổ, thiếu thốn những đây cũng là giai
đoạn rực rỡ, huy hoàng nhất trong cuộc đời ông. Tài năng của ông được đánh giá
đúng, khí phách ngang tàng của ông có chốn để vẫy vùng thỏa chí.
Sau cuộc kháng chiến thắng lợi đầy oanh liệt, triều đình non trẻ nhà Lê vừa
được thành lập đã nhanh chóng rơi vào khủng hoảng, mâu thuẫn trong nội bộ tầng
lớp thống trị phát sinh. Do tầm nhìn hạn hẹp, do quá lo lắng cho quyền lợi của
hoàng gia, Lê Lợi đã ngăn cản Nguyễn Trãi phát huy hết tài năng ý nguyện của
mình. Cho nên chức vụ của Nguyễn Trãi tuy cao nhưng không đủ quan trọng để thi
Sau thảm họa tru di tam tộc, tác phẩm của Nguyễn Trãi bị thất lạc hoặc bị
hủy nhiều. Tuy nhiên với một khối lượng lớn sáng tác còn lại thì có thể khẳng định,
Nguyễn Trãi là tác giả xuất sắc về nhiều thể loại văn học, trong sáng tác chữ Hán và
chữ Nôm, trong văn chính luận và thơ trữ tình. Tác phẩm của ông còn lại, về phần
Hán văn có những quyển như, Quân trung tư mệnh tập, Bình Ngô đại cáo, Ức Trai
thi tập, Chí Linh sơn phú, Băng Hồ di sự lục, Lam Sơn thực lục, Dư địa chí, Văn kia
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
17
Vĩnh Lăng, Văn loại. Sáng tác chữ Nôm có Quốc âm thi tập gồm 254 bài thơ viết
theo thể Đường luật hoặc Đường luật xen lục ngôn (sáu chữ).
Trong văn học trung đại Việt Nam, Nguyễn Trãi là nhà văn chính luận lỗi lạc
nhất. Ông đã để lại một khối lượng khá lớn văn chính luận, Quân trung từ mệnh
tập, Bình Ngô đại cáo, chiếu biểu dưới thời Lê Nguyễn Trãi là người đầu tiên đã
có ý thức dùng văn chính luận như một vũ khí chiến đấu có hiệu quả nhất cho cuộc
đấu tranh vì độc lập dân tộc, vì quyền lợi nhân dân, vì lý tưởng nhân nghĩa. Văn
chính luận Nguyễn Trãi có giá trị mẫu mực, cổ điển và là cột mốc đánh dấu sự phát
triển của văn chính luận dân tộc.
Ngoài ra về văn chính luận của Nguyễn Trãi phải kể đến những tác phẩm,
Chí Linh sơn phú, Băng hồ di sự lục, Truyện Nguyễn Phi Khanh, Văn bia Vĩnh
Lăng, Lam Sơn thực lục, Dư địa chí
Trên lĩnh vực thơ ca, cống hiến của Nguyễn Trãi vào lịch sử văn học cũng
lớn lao không kém văn xuôi; có khi qua thơ chữ Hán và thơ chữ Nôm chúng ta mới
thật sự hiểu hết ông - một tâm hồn phong phú và tế nhị, phóng khoáng và sáng tạo.
Về sáng tác thơ chữ Hán, người ta luôn nhắc tới Ức Trai thi tập. Tác phẩm
gồm 105 bài thơ ngũ ngôn và thất ngôn và do Trần Khắc Kiệm sưu tập, đề tựa năm
1480. Thơ chữ Hán Nguyễn Trãi giàu tính chất trữ tình tả cảnh thiên nhiên, tả cảnh
di tích lịch sử, tả tâm tình, và đặc biệt người đọc dường như hiểu nhiều điều về
thân thế, cảnh ngộ và niềm tâm sự sâu lắng trong hồn thơ Nguyễn Trãi. Có thể nói,
trong văn học Việt Nam, thơ chữ Hán của Nguyễn Trãi là một tác phẩm đặc sắc và
đức luân lí và đặc biệt chứa đựng những tâm sự sâu kín của con người cá nhân
Nguyễn Trãi. Chẳng hạn Nguyễn Trãi không chỉ sống với khát vọng, đòi hỏi của
riêng mình mà còn đòi hỏi cho người khác. Ông ao ước có một xã hội mà :
Lẽ có Ngu cầm đàn một tiếng
Dân giàu đủ khắp đòi phương. ( Bài 170)
Về nghệ thuật : Quốc âm thi tập là tài liệu văn học cổ nhất hiện nay còn lưu
giữ được của nền văn học quốc âm. Tác phẩm là kho chất liệu về những lời nói của
ông cha ta thời trung đại và Nguyễn Trãi được mệnh danh là ông tổ của nền văn học
cổ điển, ông tổ của nền nghệ thuật dân tộc. Thành tựu lớn nhất tập thơ Quốc âm là
xây dựng ngôn ngữ văn học dân tộc trên cơ sở ngôn ngữ của nhân dân, ngôn ngữ
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
19
văn học dân gian và sự vay mượn sáng tạo thi liệu Hán học. Có thể nói với 254 bài thơ,
Nguyễn Trãi được xem là nhà thơ lớn đầu tiên viết thơ Nôm, đồng thời cũng là người
sáng tác thơ Nôm đoản thiên có số lượng nhiều bậc nhất trong nền thơ cổ điển dân tộc.
Với Quốc âm thi tập, Nguyễn Trãi đã đem đến một cách nghĩ Việt, một tâm hồn thơ
Việt Nam. Quốc âm thi tập là sự thể hiện một bước trong quá trình xây dựng "thi pháp
Việt Nam” và đặt nền móng cho thơ ca dân tộc ở giai đoạn tiếp theo.
1.2. Giới thuyết về vấn đề nghiên cứu
1.2.1. Khái niệm về khẩu ngữ
Không một nền văn học nào trên thế giới có thể tồn tại và phát triển mà
không phản ánh con người dân tộc mình bằng chính thứ ngôn ngữ mà dân tộc đó
đang sử dụng và lưu giữ. Hay nói cách khác, văn chương nghệ thuật muốn phản ánh
chân thực hiện thực cuộc sống thì phải dùng chính lời ăn tiếng nói hàng ngày - khẩu
ngữ của nhân dân làm chất liệu. Khi đi vào văn học viết, tiếng nói ấy mang cả điệu
hồn dân tộc vào trong đó. Có lẽ vì thế nên các nhà văn, nhà thơ lớn ở bất kì thời đại
nào cũng đều ý thức sâu sắc việc đưa khẩu ngữ vào trong tác phẩm của mình. Nhận
thức được tầm quan trọng của việc đưa khẩu ngữ vào trong sáng tác văn học, các
nhà nghiên cứu đã quan tâm và chú ý nghiên cứu về khẩu ngữ.
giao tiếp, năng lực ngôn ngữ của người giao tiếp và nó chỉ tồn tại ở dạng nói.
Khác với các quan niệm trên, các tác giả trong các công trình, Phong cách
học tiếng Việt, Cơ sở ngôn ngữ học và tiếng Việt, Phong cách học và đặc điểm tu từ
trong tiếng, Ngữ văn 10 (tập 1) sách nâng cao cũng đưa ra khái niệm khẩu ngữ
nhưng với tư cách là phong cách sinh hoạt hàng ngày. Có thể dẫn ra quan niệm của
Đinh Trọng Lạc trong Phong cách học tiếng Việt như sau, "Phong cách sinh hoạt
hàng ngày (SHHN) là khuôn mẫu thích hợp để xây dựng lớp phát ngôn (văn bản)
trong đó thể hiện vai của người tham gia giao tiếp trong sinh hoạt hằng ngày"(16,
tr.122). Đồng thời tác giả cũng chỉ rõ vai của người tham gia giao tiếp trong sinh
hoạt hằng ngày có thể là "vai của người ông, người bà, vai của bố, mẹ, con, cháu,
anh, em, bạn, đồng nghiệp, đồng hành tất cả những ai với tư cách cá nhân trao
đổi tư tưởng, tình cảm của mình với người khác"(16, tr.122). Vì thế phong cách sinh
hoạt được chia ra hai biến thể, Sinh hoạt hằng ngày tự nhiên (thông tục) và sinh
hoạt hằng ngày văn hóa (thông dụng).
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
21
Sau khi tham khảo trong các cuốn sách trên các khái niệm về khẩu ngữ,
chúng tôi hiểu khẩu ngữ là ngôn ngữ cửa miệng của người dân. Xét về phạm vi
khẩu ngữ không phụ thuộc vào lãnh thổ hay tổ chức xã hội. Bởi là ngôn ngữ cửa
miệng của người dân cho nên khẩu ngữ là kiểu diễn đạt trong giao tiếp hàng ngày,
mang tính chất tự nhiên, thoải mái và sinh động, giàu cảm xúc, ít chau chuốt khác
với kiểu diễn đạt theo quy cách.
1.2.2. Đặc điểm của khẩu ngữ
1.2.2.1. Đặc điểm về từ ngữ
Muốn nhận diện và phân biệt các đối tượng người ta thường dựa vào những
đặc điểm riêng của từng đổi tượng để nhận diện và phân biệt. Vì vậy, khi tiến hành
chỉ ra đặc điểm của từ khẩu ngữ đồng nghĩa với việc chỉ ra các nét riêng biệt của
lớp từ này so với các ngôn ngữ khác.
Do đặc trưng của lớp từ khẩu ngữ là những từ được dùng trong giao tiếp
Một đặc điểm nổi bật của khẩu ngữ về mặt ngữ pháp là hay dùng những câu
hỏi, những câu cảm thán, những câu nói trực tiếp, những câu đưa đẩy với tính sinh
động cụ thể của nó. Ví dụ: xem xét đoạn hội thoại sau:
"- Chí Phèo đấy hở? Lè bè vừa thôi chứ, tôi không phải là cái kho.
- Cầm lấy mà cút đi cho rảnh. Rồi làm mà ăn chứ cứ báo người ta mãi thế à.
- Tao không đến đây xin 5 hào.
- Thôi cầm lấy vậy. Tôi không còn hơn. Hắn vênh cái mặt lên rất là kiêu ngạo:
- Tao đã bảo tao không đòi tiền.
- Giỏi! Hôm nay mới thấy anh không đòi tiền. Thế anh cần gì?
- Tao muốn làm người lương thiện!
- Ồ tưởng gì! Tôi chỉ cần anh lương thiện cho thiên hạ nhờ.
- Không được! Ai cho tao lương thiện? Làm thế nào cho mất được những mảnh
chai trên mặt này? Tao không thể là người lương thiện nữa. Biết không ! Chỉ còn
một cách biết không ! Chỉ còn một cách là cái này, biết không!".
(Nam Cao - Chí Phèo)
Trong đoạn hội thoại trên có các kiểu câu sau: Câu cầu khiến, " Lè bè vừa
thôi chứ, tôi không phải là cái kho", " Cầm lấy mà cút đi cho rảnh", " Tôi chỉ cần
anh lương thiện cho thiên hạ nhờ". Câu nghi vấn, " Thế anh cần gì?", " Ai cho tao
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
23
lương thiện?", " Làm thế nào cho mất được những mảnh chai trên mặt này?". Câu
trần thuật, "Tao không đến đây xin 5 hào", " Tao đã bảo tao không đòi tiền", " Tao
không thể là người lương thiện nữa".
Khẩu ngữ sử dụng những cấu trúc cú pháp riêng mà các ngôn ngữ khác ít
dùng như:
+ Dùng cấu trúc với nhiều từ ngữ chêm xen như: thì, là, rất là, coi như, ấy
là Với cách nói chêm xen này khiến câu văn trở nên dài dòng phù hợp với kiểu
"vừa nói vừa nghĩ" của nhân vật giao tiếp. Ví dụ:
"Xảy mẹ ra một cái là khổ ngay, con ạ. Ấy là mới rời tao ra hơn một tháng
tĩnh tại mà lúc nào cũng hàm chứa cái góc cạnh, khác thường. Trong thơ Hồ Xuân
Hương màu sắc lúc nào cũng được đẩy tới tối đa: trắng phau phau, xanh rì, chín
mõm mòm, đỏ lòm lòm:
"Một trái trăng thu chín mõm mòm
Nảy vừng quế nguyệt đỏ lòm lòm". (Hồ Xuân Hương - Hỏi trăng)
Biện pháp nói quá đã góp phần tạo cho câu văn thêm sinh động giàu sức biểu cảm.
Tóm lại, đặc điểm ngôn ngữ của khẩu ngữ được thể hiện qua, đặc điểm về từ
vựng, đặc điểm về cú pháp, đặc điểm về sử dụng biện pháp tu từ.
1.2.3. Vai trò của khẩu ngữ trong tác phẩm văn học.
Trước hết để hiểu vài trò của khẩu ngữ trong tác phẩm văn học, ta phải đi từ
vai trò của ngôn ngữ nói chung đối với tác phẩm.
Trong cuốn "Bàn về văn học", Nxb Văn học, 1965, tập 2. trang 206, Maxim
Gorki đã khẳng định, "Yếu tố đầu tiên của văn học là ngôn ngữ, công cụ chủ yếu
của nó và cùng các sự kiện, các hiện tượng của đời sống - là chất liệu văn học".
Ngôn ngữ là công cụ, là yếu tố đầu tiên và quan trọng trong quá trình nhà văn sáng
tạo ra tác phẩm.
Trong tác phẩm văn học có thể có nhiều loại ngôn ngữ - trang trọng, đài các
hay giản dị, bình dân. Người nghệ sĩ tùy theo cái "tạng" và tùy từng trường hợp mà
lựa chọn hệ thống ngôn từ cho phù hợp. Có thể nói khẩu ngữ là máu thịt của thể loại
văn xuôi. Văn xuôi sử dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày, ngôn ngữ sinh động đúng
như nó đang diễn tiến để làm chất liệu xây dựng tác phẩm. Điều này không thể thấy
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên http://www.lrc-tnu.edu.vn
25
trong thơ ca truyền thống. Bởi thơ ca truyền thống chịu sự quy định của hệ thống thi
pháp trung đại - coi trọng hệ thống ngôn ngữ có tính công thức, ước lệ, tượng trưng,
tính sùng cổ và nệ cổ, nghiêng về uyên bác và có tính cách điệu hóa. Bên cạnh đó là
đối tượng sáng tạo và tiếp nhận chủ yếu là ở tầng lớp trên của xã hội. Cho nên về cơ
bản văn học trung đại ít sử dụng ngôn ngữ bình dân. Ngôn ngữ bình dân đặc biệt là
khẩu ngữ tuy có xuất hiện nhưng do chưa được chú ý sử dụng nên hiệu quả nghệ