ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA SƢ PHẠM
HOÀNG BÁ THƢỞNG
MỘT SỐ BIỆN PHÁP QUẢN LÍ BỒI DƢỠNG CHUN MƠN
CHO GIÁO VIÊN HỆ BỔ TÚC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
THÀNH PHỐ HẢI PHỊNG
ĐỀ CƢƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Chun ngành: QUẢN LÍ GIÁO DỤC
Mã số: 60 14 05
HÀ NỘI - 2008
MỤC LỤC
Trang
1
MỞ ĐẦU
CHƢƠNG 1:
1
1.1. Một số khái niệm
1
1.2. Quan điểm của Đảng, Nhà nƣớc ta
32
CHƢƠNG 2
34
2.1. Tổng quan về tình hình phát triển kinh tế xã hội
34
thành phố Hải Phòng
2.2. Thực trạng ngành học giáo dục thƣờng xuyên Hải Phịng
36
2.3. Thực trạng cơng tác quản lí bồi dƣỡng chun môn
50
cho giáo viên hệ bổ túc trung học phổ thông thành phố Hải Phịng
2.3.1. Cơ cấu, bộ máy quản lí
50
2.3.2. Công tác tổ chức, lập kế hoạch và chỉ đạo
50
bồi dƣỡng chun mơn
2.3.3. Quản lí nội dung, chƣơng trình
1
3.2.1. Nâng cao nhận thức của cán bộ quản lý và giáo viên
67
về sự cần thiết của việc bồi dƣỡng chuyên môn
3.2.2.Tổ chức và chỉ đạo công tác bồi dƣỡng chun mơn
70
cho giáo viên
3.2.3.Tăng cƣờng quản lí thực hiện qui chế chuyên môn cho giáo viên 73
3.2.4. Đảm bảo các điều kiện cần thiết
77
cho công tác bồi dƣỡng chuyên môn
3.2.5. Quan tâm đến chính sách đối với giáo viên
78
và cơng tác tuyển dụng
3.2.6. Phát triển cơng tác xã hội hố giáo dục
80
3.2.7. Kiểm tra - đánh giá và khen thƣởng công tác
84
bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên.
BTTHCS
Bổ túc trung học cơ sở
BTTHPT
Bổ túc trung học phổ thông
BTVH
Bổ túc văn hố
CSVC
Cơ sở vật chất
CNTT
Cơng nghệ thơng tin
GD&ĐT
Giáo dục và đào tạo
GV
Giáo viên
GDCQ
TBDH
Thiết bị dạy học
THPT
Trung học phổ thông
TT GDTX
Trung tâm giáo dục thƣờng xuyên
XMC
Xoá mù chữ
3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Chúng ta đang sống trong thế kỷ XXI, thế kỉ của khoa học và công nghệ
hiện đại. Đất nƣớc ta đang bƣớc vào thời kỳ cơng nghiệp hố, hiện đại hố
với mục tiêu đến năm 2020 đƣa Việt Nam từ một nƣớc nông nghiệp cơ bản
trở thành một nƣớc công nghiệp, hội nhập với cộng đồng quốc tế. Viễn cảnh
sơi động, tƣơi đẹp đó địi hỏi khơng ít thách thức đối với ngành Giáo dục Đào tạo. Do đó ngành phải có những đổi mới căn bản, mạnh mẽ, phải tìm
kiếm các giải pháp để nâng cao chất lƣợng giáo dục toàn diện, nâng cao chất
lƣợng con ngƣời để vƣơn lên ngang tầm với sự phát triển chung của khu vực
và thế giới.
Nghị quyết Trung ƣơng 4 khoá VII của Đảng cũng đã chỉ rõ: “Cần phải
Một trong những vấn đề mang tính chất quyết định đến sự thành bại của
sự nghiệp giáo dục đó là vai trò của ngƣời thầy. Sản phẩm của họ khác với
sản phẩm của các loại hình lao động khác ở chỗ sản phẩm này tích hợp cả
nhân tố tinh thần và vật chất, đó là “nhân cách - sức lao động”. Sứ mệnh của
giáo viên, đội ngũ giáo viên có ý nghĩa cao cả đặc biệt. Họ là bộ phận lao
động tinh hoa của đất nƣớc. Lao động của họ trực tiếp và gián tiếp thúc đẩy
sự phát triẻn của đất nƣớc, cộng đồng đi vào trạng thái phát triển bền vững.
Một ngày thiếu giáo dục, đất nƣớc không thể tồn tại đuợc, giáo dục khơng có
ngƣời thầy khơng thể vận động đƣợc. Ngƣời ta luôn nhận thấy rằng thành
công của các cuộc cải cách giáo dục phụ thuộc dứt khốt vào “ý chí muốn
thay đổi” cũng nhƣ chất lƣợng giáo viên. Khơng có hệ thống giáo dục nào có
thể vƣơn cao quá tầm những giáo viên làm việc cho nó. Sáng kiến giáo dục
mà cội nguồn của nó nằm trong sự cam kết của đội ngũ giáo viên không
những bao hàm triển vọng của sự thành cơng mà cịn cả sự kiên định. Nhiều
kết quả nghiên cứu khoa học đã chứng minh rằng, một học sinh trung bình
trong một năm học làm việc với giáo viên giỏi sẽ tiến bộ nhanh hơn so với sự
tiến bộ của học sinh trung bình làm việc với giáo viên kém trong cả một cấp
học. Nhƣ vậy, vị trí của ngƣời giáo viên là hết sức quan trọng, họ không chỉ là
ngƣời cung cấp tri thức mà cịn góp phần đắc lực trong việc hình thành nhân
5
cách của ngƣời học sinh. Nhất là đối với học sinh học tại các trung tâm giáo
dục thƣờng xuyên: sức học yếu, có ngƣời vừa đi học vừa đi làm, nhiều độ tuổi
trong cùng một lớp... vì vậy trình độ tiếp thu của học viên phụ thuộc rất nhiều
vào phƣơng pháp truyền thụ của thầy. Do yêu cầu của việc đổi mới chƣơng
trình giáo dục phổ thơng hiện nay, từ thực tế trình độ năng lực chun mơn
giáo viên khơng đồng đều, còn nhiều yếu kém, chƣa đồng bộ về cơ cấu, chậm
đổi mới về phƣơng pháp, việc quản lí bồi dƣỡng chuyên môn cho giáo viên hệ
BT THPT trên cả nƣớc nói chung và ở Hải Phịng nói riêng còn chƣa đáp ứng
mang tính đặc thù đó đƣợc gọi là hoạt động quản lý. “Quản lý là những tác
động của chủ thể quản lý trong việc huy động, phát huy, kết hợp, sử dụng,
điều chỉnh, điều phối các nguồn lực (nhân lực, vật lực, tài lực) trong và ngoài
tổ chức (chủ yếu là nội lực) một cách tối ƣu nhằm đạt mục đích của tổ chức
với hiệu quả cao nhất”.
F.W TayLor cho rằng: “Quản lý là biết chính xác điều bạn muốn người
khác làm và sau đó thấy rằng họ đã hồn thành công việc một cách tốt nhất
và rẻ nhất” [4].
Theo thuyết quản lý hành chính của Henry Fayol thì: “Quản lý hành chính
là dự báo và lập kế hoạch, tổ chức và điều khiển, phối hợp và kiểm tra” [4].
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc: “ Hoạt động quản lý là
tác động có định hướng, có chủ đích của chủ thể ( người quản lý) đến khách
thể quản lý ( người bị quản lý), nhằm làm cho tổ chức vận hành và đạt được
mục đích của tổ chức” [5, tr.1].
8
Theo tác giả Đặng Quốc Bảo: “Quản lý giáo dục theo nghĩa tổng quát là
hoạt động điều hành phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm thúc đẩy mạnh mẽ
công tác đào tạo thế hệ trẻ theo yêu cầu phát triển xã hội” [2].
Tuỳ theo cách phân loại khác nhau mà chúng ta có những khái niệm khác
nhau về các lĩnh vực quản lý khác nhau. Phân loại về quản lý là vô cùng đa
dạng và phức tạp.
Mặc dù đa dạng, phức tạp và có nhiều khái niệm khác nhau nhƣ đã dẫn ở
trên, nhƣng chúng ta có thể nhận thấy điểm chung của quản lý và các khái
niệm đã đề cập là:
- Quản lý bao giờ cũng có mục tiêu. Hoạt động quản lý đƣợc thực hiện
với một tổ chức hay một nhóm xã hội. Đây là điểm hội tụ cho những hoạt
động cùng nhau của xã hội loài ngƣời.
thực hiện có chất lƣợng và hiệu quả mục tiêu phát triển giáo dục, đào tạo thế
hệ trẻ mà xã hội đặt ra cho ngành Giáo dục.
- Quản lý giáo dục là sự tác động liên tục, có tổ chức, có hƣớng đích của
chủ thể quản lý lên hệ thống giáo dục nhằm tạo ra tính trồi (emergence) của hệ
thống ; sử dụng một cách tối ƣu các tiềm năng, các cơ hội của hệ thống nhằm
đƣ hệ thống đến mục tiêu một cách tốt nhất trong điều kiện đảm bảo sự cân
bằng với mơi trƣờng bên ngồi ln ln biến động.
Dù có khác nhau về từ ngữ trong các định nghĩa, nhƣng bản chất của quản
lý giáo dục là vận hành các hoạt động GD đạt đến mục tiêu đã định. QLGD là
hoạt động điều hành, phối hợp các lực lƣợng xã hội nhằm đẩy mạnh công tác
đào tạo theo yêu cầu phát triển xã hội. Đó là hệ thống những tác động có mục
đích, có kế hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý, là sự điều hành hệ thống
giáo dục quốc dân, các trƣờng trong hệ thống GD quốc dân nhằm thực hiện
mục tiêu: nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dƣỡng nhân tài.
* Nội dung quản lý Nhà nước về giáo dục
Quản lý nhà nƣớc về giáo dục là việc các cơ quan nhà nƣớc các cấp thực
hiện quyền lực cơng của mình theo quy định của pháp luật, để điều hành các
hoạt động giáo dục trong phạm vi toàn xã hội nhằm đạt đƣợc các mục tiêu của
nhà nƣớc. Điều 100 của Luật Giáo dục đã quy định với quản lý nhà nƣớc về
10
giáo dục nhƣ sau: “Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục. Chính
phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng
đến quyền và nghĩa vụ của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương
về cải cách nội dung chương trình của cả một cấp học; hàng năm báo cáo Quốc
hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục” [27].
Bộ GD&ĐT chịu trách nhiệm trƣớc Chính phủ thực hiện quản lý nhà
nƣớc về giáo dục.
Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ GD&ĐT thực hiện quản lý nhà
- Quy định việc tặng các danh hiệu thi đua cho những ngƣời có nhiều
công lao đối với sự nghiệp giáo dục;
- Thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giáo dục, giải quyết
khiếu nại, tố cáo và xử lý các hành vi vi phạm luật về giáo dục [27].
Quản lý cơ sở giáo dục là hệ thống những tác động có mục đích, có kế
hoạch, hợp quy luật của chủ thể quản lý (các cấp quản lý của hệ thống giáo
dục) nhằm làm cho các cơ sở giáo dục vận hành theo nguyên lý giáo dục để
đạt tới mục tiêu giáo dục đặt ra. Quản lý cơ sở giáo dục thực chất là quản lý
tất cả các mặt, các khía cạnh liên quan đến hoạt động giáo dục và đào tạo
trong phạm vi cơ sở giáo dục.
Có thể phân tích nhà trƣờng nhƣ một hệ thống gồm 6 thành tố cơ bản kết
hợp chặt chẽ với nhau:
- Mục tiêu giáo dục;
- Nội dung giáo dục;
- Phƣơng pháp giáo dục;
- Giáo viên;
- Học viên;
- Cơ sở vật chất và thiết bị dạy học.
Tóm lại: Nội dung quản lý nhà nƣớc về giáo dục thƣờng xuyên và cơ sở
giáo dục thƣờng xuyên cũng bao hàm những nội dung quản lý nhà nƣớc về
giáo dục nhƣ trên.
1.1.2. Bồi dưỡng và bồi dưỡng chuyên môn
1.1.2.1. Bồi dưỡng
12
Theo quan niệm của UNESCO: Bồi dƣỡng có ý nghĩa là nâng cao nghề
nghiệp, quá trình này chỉ diễn ra khi cá nhân và tổ chức có nhu cầu nâng cao
kiến thức hoặc kĩ năng chuyên môn - nghiệp vụ cho bản thân nhằm đáp ứng
nhu cầu lao động nghề nghiệp [37].
1.1.2.3. Bồi dưỡng chuyên môn
- Đây là quá trình tác động của các nhà quản lý giáo dục đến tập thể
GV, tạo cơ hội cho các giáo viên tham gia các hoạt động dạy học, giáo
dục, học tập trong và ngoài nhà trƣờng để cập nhật, bổ sung kiến thức,
kỹ năng chuyên môn - nghiệp vụ; bồi dƣỡng tƣ tƣởng, tình cảm nghề nghiệp
nhằm nâng cao phẩm chất và năng lực sƣ phạm đáp ứng yêu cầu ngày càng
cao của sự nghiệp GD-ĐT.
- Có nhiều loại hình bồi dƣỡng cho GV, tuy nhiên theo chúng tơi thì có 4
loại hình cơ bản nhƣ sau:
+ Hoạt động bồi dƣỡng chuẩn hoá và nâng chuẩn.
+ Hoạt động bồi dƣỡng thƣờng xuyên theo chu kì.
+ Hoạt động bồi dƣỡng cập nhật tại trƣờng của tập thể sƣ phạm .
+ Hoạt động tự bồi dƣỡng của cá nhân.
Trong thực tế, các Trung tâm GDTX thƣờng tiến hành theo hình thức bồi
dƣỡng cụ thể sau:
+Bồi dƣỡng tƣ tƣởng chính trị đạo đức, lí tƣởng nghề nghiệp.
+ Bồi dƣỡng chun mơn - nghiệp vụ sƣ phạm.
+ Bồi dƣỡng kĩ năng hoạt động và nghệ thuật tiếp cận cá biệt và ứng xử
trƣớc những tình huống sƣ phạm.
Từ đó có thể nói: Bồi dƣỡng chuyên môn cho GV là con đƣờng, là cách
thức tốt nhất để khai thác mọi tiềm năng và phát huy nội lực của tập thể đội
ngũ GV trong nhà trƣờng nhằm thực hiện có kết quả mọi nhiệm vụ giáo dục,
thực hiện tốt các mục tiêu, yêu cầu đào tạo của nhà trƣờng.
1.1.2.4. Quản lý việc bồi dưỡng chuyên môn cho giáo viên
14
- Mục đích của hoạt động quản lý bồi dƣỡng chuyên môn là không ngừng
nâng cao năng lực chuyên môn, nghiệp vụ cho các tổ viên, đáp ứng ngày càng
sự giáo dục dành cho hay tiến hành bởi những ngƣời đã hồn thành vịng giáo
dục ban đầu trong thời niên thiếu. Với tƣ cách trên, trong nhiều trƣờng hợp,
thuật ngữ này đƣợc coi là đồng nghĩa với “giáo dục ngƣời lớn” (aduet
education).
Tuy nhiên, đây là một khái niệm mà nội hàm của nó đang phát triển và
hồn thiện dần. Khái niệm GDTX trong mỗi thời gian cũng đƣợc hiểu theo
cách khác nhau và ở mỗi nƣớc cũng có cách hiểu khác nhau.
Để thúc đẩy GDTX phát triển cả về quy mô và chất lƣợng, UNESCO khu
vực Châu Á Thái Bình Dƣơng đã xây dựng một quan niệm về GDTX tƣơng
đối phù hợp với các nƣớc trong vùng.
Trong khuôn khổ của “chƣơng trình giáo dục cho mọi ngƣời: Châu Á
Thái Bình Dƣơng, GDTX đƣợc hiểu là “ một khái niệm rộng lớn, bao gồm
tất cả các cơ hội học tập và mọi ngƣời muốn hoặc cần có sau xố mù chữ
và giáo dục tiểu học”.
Theo quan niệm này GDTX là một khái niệm rộng, bao gồm cả GDCQ
(formal education), GDKCQ (non-formal education) và GDPCQ (informal
educations) cho những ngƣời lớn hoặc thanh niên cần và có nhu cầu sau khi
biết chữ hoặc tƣơng đƣơng tiểu học, không bao gồm XMC (illiteracy
eradication). Định nghĩa này ta có thể hiểu là:
- GDTX là dành cho ngƣời lớn (hoặc ngƣời đƣợc xã hội coi là ngƣời lớn).
- GDTX đáp ứng các nhu cầu mong muốn học tập của mọi ngƣời.
- GDTX có thể bao gồm những bộ phận do các bộ phận giáo dục chính
quy, giáo dục khơng chính quy.
- GDTX đƣợc định nghĩa là “cơ hội tham gia vào quá trình học tập suốt
đời sau khi kết thúc tiểu học hoặc tƣơng đƣơng”.
Định nghĩa trên cũng chứa đựng một gợi ý là XMC không thuộc lĩnh vực
“GDTX”. Với quan niệm này của UNESCO khu vực thì GDTX và GDKCQ
khơng đồng nhất với nhau. GDTX là một khái niệm rộng, nó vừa là GD chính
16
17
1.1.3.2. Trung tâm Giáo dục thường xuyên
Trung tâm GDTX đƣợc coi là đồng nghĩa với Trung tâm giáo dục ngƣời
lớn. Hai thuật ngữ này đƣợc hiểu là diễn ra những hoạt động có tổ chức cho
việc giáo dục ngƣời lớn.
Trong Hội nghị về Trung tâm GDTX đƣợc tổ chức tại Sri Lanca tháng 11
năm 1994 đã định nghĩa: “Trung tâm GDTX là tổ chức giáo dục địa phƣơng,
ngoài hệ thống giáo dục chính quy, thuộc các làng hoặc các cộng đồng thành
phố, thƣờng đƣợc quản lý bởi nhân dân địa phƣơng, có nhiệm vụ cung cấp
nguồn lực cho sự phát triển địa phƣơng và việc học tập định hƣớng theo gia
đình và cung cấp thơng tin về câu hỏi: Cái gì? Làm sao? ở đâu? Khi nào? Các
cá nhân có thể tham gia vào các hình thức học tập khác nhau của GDTX”.
Ở nƣớc ta, Trung tâm GDTX đƣợc hiểu là tổ chức căn bản của hệ thống
GDTX. Vai trò của Trung tâm GDTX trong hệ thống GDTX cũng tƣơng tự
nhƣ vai trò của nhà trƣờng trong hệ thống giáo dục chính quy truyền thống.
Trung tâm GDTX vừa là nơi trực tiếp, vừa là đầu mối liên kết với các tổ
chức khác nhau trong cộng đồng cung cấp các cơ hội học tập cho những
ngƣời khơng có điều kiện học trong nhà trƣờng chính quy. Các Trung tâm
GDTX đƣợc bố trí thành một mạng lƣới, mỗi Trung tâm GDTX phục vụ cho
một địa bàn dân cƣ. Hiện nay trong hệ thống GDTX của nƣớc ta có các Trung
tâm GDTX cấp tỉnh và Trung tâm GDTX cấp huyện. Tuy nhiên quan hệ giữa
các Trung tâm GDTX này không phải là quan hệ “trên, dƣới” trong quản lý.
1.1.4. Giáo viên, giáo viên Bổ túc trung học phổ thông
1.1.4.1. Giáo viên
Ngày 02/12/1998, Luật Giáo dục đầu tiên của nƣớc Cộng hoà Xã hội chủ
nghĩa Việt Nam đƣợc ban hành và xác định rõ:
- Nhà giáo là ngƣời làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục trong nhà trƣờng
hoặc các cơ sở giáo dục khác.
Chỉ thị 97 của Ban Bí thƣ Trung ƣơng Đảng, ngày 18/5/1965 đã nêu rõ:
“Công tác bổ túc văn hoá phải đƣợc đặt ra cấp thiết hơn trƣớc và bƣớc vào
một thời kỳ phát triển mới. Trên miền Bắc, toàn dân đã đƣợc huy động thành
một lực lƣợng sản xuất và chiến đấu hùng hậu, đang đòi hỏi có một trình độ
19
văn hóa cao hơn để nhanh chóng tiếp thu đƣợc kỹ thuật sản xuất, nghiệp vụ
quản lý cũng nhƣ hiểu biết cần thiết về chiến tranh nhân dân và quốc phịng
tồn dân”. Từ đó việc học BTVH đƣợc phát triển rộng rãi; nội dung học tập
cũng đƣợc xác định phù hợp với từng loại đối tƣợng. Ngày 29/9/1996 Hội
đồng Chính phủ có chỉ thị số 114-CP xác định đầy đủ hơn về nội dung dạy học bổ túc văn hoá: “Nội dung học tập phải tinh giản thiết thực, phải kết hợp
chặt chẽ việc học văn hóa với kỹ thuật và chính trị, vừa đảm bảo kiến thức
khoa học cơ bản cần thiết, vừa gắn liền với thực tiễn sản xuất, chiến đấu và
đời sống”. Chỉ thị 110-CP ngày 13/71968 của HĐ Chính phủ đã bổ sung
thêm: “Nội dung bổ túc văn hoá phải phù hợp đến từng loại đối tƣợng, ngƣời
đứng tuổi chỉ cần học những kiến thức trực tiếp cho công tác sản xuất, thanh
niên học tƣơng đối tồn diện hơn”.
Sau thời kì xố mù chữ và bổ túc văn hố, Nhà nƣớc bổ sung thêm ngồi
BTVH cịn tổ chức học theo quy trình cấp lớp, tổ chức giảng dạy học tập tri
thức phổ thông cơ bản gắn với nghề nghiệp quy định cấp lớp. Từ đó chuyển đổi
từ trƣờng BTVH đơn chức năng thành trung tâm GDTX đa chức năng để đáp
ứng nhu cầu học tập của nhân dân.
- Nghị quyết Trung ƣơng 4 khoá VII đã khẳng định: Cần phải thực hiện
một nền GDTX cho mỗi ngƣời, xác định học tập suốt đời là quyền lợi và trách
nhiệm của mỗi công dân. Đổi mới giáo dục bổ túc và đào tạo tại chức, khuyến
khích phát triển các loại hình GD-ĐT khơng chính quy, khuyến khích tự học.
Mở rộng dạy học ngoại ngữ.
- Nghị quyết Trung ƣơng 2 khoá VIII cũng đƣa ra chủ trƣơng nhằm thực
hiện công bằng xã hội: “tạo điều kiện để ai cũng đƣợc học hành”, “tạo cơ hội
tập đƣợc.
Phát triển GDTX nhằm thực hiện giáo dục cho mọi ngƣời với ý tƣởng học
tập suốt đời để tiến tới xã hội hố học tập. ở đó mọi thành viên của xã hội đều
bình đẳng về quyền học tập để nâng cao trình độ học vấn, nâng cao chất lƣợng
cuộc sống. Và vì thế, GDTX khơng thể chỉ dựa vào Nhà nƣớc mà phải biết dựa
vào cộng đồng, do cộng đồng mà phát triển các loại hình học tập phù hợp và
21
xem nhƣ là một hình thức huy động mọi tiềm năng của cộng đồng để xây dựng
xã hội học tập.
- Đến năm 2010 có 90% số xã có trung tâm học tập cộng đồng; trung tâm giáo
dục thƣờng xuyên, trung tâm ngoại ngữ, tin học đƣợc thành lập ở tất cả các huyện.
- Đến Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X trong nghị quyết của Đại hội
phần định hƣớng phát triển về giáo dục và đào tạo tiếp tục khẳng định đổi mới
tƣ duy giáo dục một cách nhất quán, từ mục tiêu, chƣơng trình, nội dung,
phƣơng pháp đến cơ cấu hệ thống tổ chức, cơ chế quản lý để tạo đƣợc chuyển
biến cơ bản và toàn diện của nền giáo dục nƣớc nhà, tiếp cận với trình độ giáo
dục của khu vực và thế giới; khắc phục cách đổi mới chắp vá, thiếu tầm nhìn
tổng thể, thiếu kế hoạch đồng bộ. Xây dựng nền giáo dục của dân, do dân và
vì dân; bảo đảm cơng bằng về cơ hội học tập cho mọi ngƣời, tạo điều kiện để
toàn xã hội học tập và học tập suốt đời.
- Nghị quyết 90 CP ngày 24/11/1993 đã nêu: “GDTX là một trong năm phân
hệ trong cơ cấu khung của hệ thống giáo dục quốc dân với các chức năng dạy
BTVH, dạy nghề, ngoại ngữ, tin học”. Đến năm 1998 theo Luật Giáo dục thì
GDTX chuyển thành phƣơng thức GDKCQ là một bộ phận của hệ thống GD quốc
dân.
- Điều 44 của Luật Giáo dục cũng đã khẳng định: “Giáo dục thường
xuyên giúp mọi người vừa làm vừa học, học liên tục, học suốt đời nhằm hoàn
tranh xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa, thực hiện mục
tiêu dân giàu nƣớc mạnh, xã hội công bằng, dân chủ văn minh.
1.2.2. Quan điểm của UNESCO về Giáo dục thường xuyên
Đó là học suốt đời, xã hội học tập. ý kiến đƣợc UNESCO nêu lên lần đầu
tiên cách đây hơn 30 năm trong báo cáo nổi tiếng học tập để tồn tại. Theo báo
cáo đó của UNESCO, một xã hội học tập là một xã hội trong đó tất cả các tổ
chức trong xã hội đều là ngƣời cung cấp giáo dục chứ không riêng gì các cơ
quan trách nhiệm chủ yếu là giáo dục. Một khía cạnh của một xã hội học tập
là tồn thể cơng dân đều phải học tập và qn triệt để lợi dụng các cơ hội do
xã hội học tập cung cấp.
23
Theo APPEAL, Hội thảo tiểu khu vực của UNESCO về giáo dục thƣờng
xuyên họp tại Canberra, Australia, trong tháng 11 năm 1987 đã định nghĩa
giáo dục thƣờng xuyên là “một khái niệm rộng rãi bao gồm toàn thể các cơ hội
học tập mà mọi ngƣời đều mong muốn hoặc cần có sau xố mù chữ cơ bản và
giáo dục tiểu học”. Định nghĩa này bao hàm những điểm sau đây:
- Giáo dục thƣờng xuyên dành cho ngƣời lớn đã biết chữ.
- Nó đáp ứng những nhu cầu và mong muốn.
- Nó có thể bao gồm những kinh nghiệm do giáo dục chính qui, khơng chính
qui và phi chính quy cung cấp.
- Nó đƣợc định nghĩa là “cơ hội” học tập suốt đời sau khi học xong bậc tiểu
học hoặc tƣơng đƣơng.
Giáo dục thƣờng xuyên đƣợc coi nhƣ sự mở rộng chủ yếu của xoá mù chữ
và giáo dục tiểu học nhằm thúc đẩy sự phát triển tài nguyên con ngƣời.
1.3. Vị trí của Giáo dục thƣờng xuyên trong hệ thống giáo dục quốc dân
Ngành học giáo dục thƣờng xuyên nằm trong hệ thống giáo dục quốc dân
Việt Nam. Ngành học giáo dục thƣờng xuyên có nhiệm vụ bồi dƣỡng kiến thức