ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN KIM ANH
TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH LỚP 6 THÔNG QUA DẠY HỌC VĂN BẢN
TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
HÀ NỘI - 2020
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC
NGUYỄN KIM ANH
TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG
CHO HỌC SINH LỚP 6 THÔNG QUA DẠY HỌC VĂN BẢN
TRUYỆN HIỆN ĐẠI VIỆT NAM
LUẬN VĂN THẠC SĨ SƢ PHẠM NGỮ VĂN
CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƢƠNG PHÁP DẠY HỌC
BỘ MÔN NGỮ VĂN
Mã số: 8.14.01.11
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học: TS. DƢƠNG TUYẾT HẠNH
HÀ NỘI - 2020
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Bộ GD&ĐT
Bộ Giáo dục và Đào tạo
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
KNS
Kĩ năng sống
KTDH
Kĩ thuật dạy học
KTĐG
Kiểm tra, đánh giá
PPDH
Phƣơng pháp dạy học
UNICEF
MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN ............................................................................................................. i
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ........................................................................ ii
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ..................................................................v
MỞ ĐẦU .....................................................................................................................1
1. Lý do chọn đề tài .................................................................................................1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề...................................................................................3
3. Mục đích nghiên cứu ...........................................................................................8
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu .......................................................................8
5. Nhiệm vụ nghiên cứu ..........................................................................................9
6. Phƣơng pháp nghiên cứu .....................................................................................9
7. Cấu trúc luận văn .................................................................................................9
CHƢƠNG 1 ..............................................................................................................11
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI ................................................11
1.1. Cơ sở lí luận....................................................................................................11
1.1.1. Một số vấn đề về Kĩ năng sống ...............................................................11
1.1.2. Một số vấn đề về dạy học tích hợp ..........................................................15
1.1.3. Cơ sở tích hợp giáo dục Kĩ năng sống cho học sinh trong môn Ngữ văn ở
Trung học cơ sở .................................................................................................19
1.1.4. Tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học văn bản truyện hiện đại
cho học sinh lớp 6 ..............................................................................................26
1.2. Cơ sở thực tiễn................................................................................................33
1.2.1. Thực trạng của việc dạy học Ngữ văn ở Trung học cơ sở .......................33
1.2.2. Thực trạng việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học Ngữ văn
và trong dạy học văn bản truyện hiện đại Việt Nam .........................................34
Tiểu kết chƣơng 1......................................................................................................39
CHƢƠNG 2 ..............................................................................................................40
MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH HỢP GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC
SINH LỚP 6 THÔNG QUA DẠY HỌC VĂN BẢN ...............................................41
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ ...........................................................................80
TÀI LIỆU THAM KHẢO .........................................................................................82
PHỤ LỤC
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG VÀ BIỂU ĐỒ
Bảng 1.1. Văn bản truyện hiện đại Việt Nam trong chƣơng trình Trung học cơ sở ............ 24
Bảng 1.2. Kĩ năng sống tích hợp trong văn bản truyện hiện đại Việt Nam lớp 6 ................ 31
Bảng 1.3. Mức độ nhận thức của giáo viên và học sinh về Kĩ năng sống ........................... 35
Bảng 1.4. Sự tiếp nhận thông tin liên quan đến Kĩ năng sống của học sinh Trung học
cơ sở ..................................................................................................................... 36
Bảng 1.5. Đánh giá của học sinh về mức độ thƣờng xuyên đƣợc thực hiện tích hợp
giáo dục kĩ năng sống qua hoạt động dạy học văn bản truyện hiện đại Việt
Nam...................................................................................................................... 38
Bảng 3.1. Mẫu thực nghiệm................................................................................................. 64
Bảng 3.2. Ý kiến của giáo viên sau khi dự giờ dạy thực nghiệm ........................................ 77
Bảng 3.3. Kết quả điều tra hứng thú học tập của học sinh qua giờ dạy thực nghiệm.......... 77
Bảng 3.4. Những Kĩ năng sống rút ra sau khi học xong văn bản “Bài học đƣờng đời
đầu tiên” - Tơ Hồi .............................................................................................. 78
Biểu đồ 1.1. Đánh giá của học sinh về mức độ quan trọng của việc giáo dục Kĩ năng
sống trong môn Ngữ văn ..................................................................................... 38
v
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Ngày nay, với sự phát triển và những biến động to lớn của nền kinh tế,
gia tăng ở lứa tuổi THCS.Vì vậy, trên thế giới đã có nhiều quốc gia và vùng
lãnh thổ đã đƣa việc giáo dục kĩ năng sống vào chƣơng trình giáo dục ở nhiều
lứa tuổi. Việt Nam cũng đã đánh giá đƣợc tầm quan trọng của việc giáo dục
KNS cho học sinh. Với đối tƣợng học sinh THCS, đặc biệt là học sinh lớp 6,
các em vừa chuyển từ cấp tiểu học lên, cịn bắt đầu một chu trình học mới với
nhiều bỡ ngỡ thì việc giáo dục KNS là vơ cùng thiết thực. Tuy nhiên, việc
lồng ghép kĩ năng sống vào giảng dạy chƣa mang lại nhiều hiệu quả vì có
phần thiếu sinh động và có phần sáo mịn, chƣa thu hút và tác động nhiều đến
các em học sinh.
Có thể coi Ngữ văn là một trong những môn học gần gũi với đời sống
nhất, văn học phản ánh cuộc sống, văn học đƣợc viết nên từ những hiện
tƣợng, sự kiện trong cuộc sống. Không môn học nào rèn luyện kĩ năng sống
cho học sinh tốt bằng môn Ngữ văn. Học văn là nhân học - tức là cách làm
ngƣời. Thông qua đó, ta có cách ứng xử, giao tiếp phù hợp với văn hóa Việt.
Tuy nhiên, hiện nay mơn Ngữ văn chƣa thực sự gây đƣợc hứng thú với học
sinh. Ở Trung học cơ sở, đặc biệt là lớp 6 (Kì 2), các tác phẩm văn học hiện
đại chiếm dung lƣợng khá lớn. Mỗi tác phẩm đều giúp học sinh hình thành
đƣợc một số kĩ năng sống nhất định bởi khoảng cách gần về thời đại sống.
Nhƣng nhìn vào thực tế giảng dạy, có thể nhận thấy chúng ta chƣa thực sự
khai thác hết tiềm năng của những tác phẩm truyện hiện đại này trong việc
giáo dục giá trị sống cho học sinh. Đây sẽ là một điều vô cùng đáng tiếc khi
bỏ lỡ nguồn tài nguyên lớn giúp học sinh có đƣợc hành trang quý báu để bƣớc
vào đời.
Nhƣ vậy, việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học nói chung
và tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học tác phẩm văn học nói riêng ở
2
nhà trƣờng Trung học cơ sở là vô cùng cần thiết. Điều đó địi hỏi ngƣời giáo
viên phải ln có tƣ duy linh hoạt, tích cực, ln tìm tịi để có thể tích hợp
mang tính tồn diện thì khơng thể khơng tính đến tiêu chí đánh giá kĩ năng
sống của ngƣời học.
Ba tổ chức lớn WHO, UNICEF, UNESCO đã cùng thống nhất xây
dựng các KNS cơ bản và chƣơng trình giáo dục KNS cho giới trẻ, lứa tuổi
thanh thiếu niên hiện nay. Từ cơ sở này, các nhà nghiên cứu đến từ Mỹ, Liên
Xô, Bungari… nhƣ J.H.Fichter, P.Tugarivov, Dramalier đã bắt đầu tìm hiểu
và đƣa vấn đề giá trị sống vào những chuẩn mực đạo đức của con ngƣời.
Chính vì vậy, rất nhiều tài liệu nghiên cứu về việc giáo dục KNS cho giới trẻ
ra đời nhƣ: Tài liệu tập huấn về kĩ năng sống của UNICEF (2004) [39], Tài
liệu của Diane TillMan Những hoạt động giá trị sống cho thiếu niên [33], Tài
liệu tập huấn kĩ năng cơ bản trong tham vấn, G.Bandzeladze (1985) [15].
Giáo dục KNS cho giới trẻ, lứa tuổi HS hiện nay đang đƣợc quan tâm
trên thế giới, tuy nhiên, mỗi quốc gia lại có những định hƣớng khác nhau.
Ở Lào, bắt đầu từ năm 1997, KNS đƣợc đề cập với các nội dung liên
quan đến giáo dục phòng chống HIV/AIDS đào tạo trong chƣơng trình chính
quy, và khơng chính quy (đối với các trƣờng sƣ phạm đào tạo giáo viên).
Campuchia đƣa vấn đề giáo dục KNS vào nhà trƣờng rất sớm, tích hợp
vào các bài học của các mơn cơ bản từ lớp 1 đến lớp 12. KNS trở thành vấn đề
quan trọng của cuộc sống bởi nó hƣớng tới những vấn đề quan trọng nhƣ: kĩ
năng cơ bản cho con ngƣời trong đời sống hàng ngày và kĩ năng nghề nghiệp.
Ở Malaysia, Bộ Giáo dục và các cơ quan coi KNS là môn kĩ năng của
cuộc sống và cũng đƣợc thực hiện nhƣ một môn học từ Tiểu học.
Các tổ chức ở Úc đã nghiên cứu và xuất bản cuốn “Kỹ năng hành
nghề cho tƣơng lai” (2002) tập trung vào việc phát huy tiềm năng cá nhân để
có đƣợc việc làm và đóng góp vào định hƣớng chiến lƣợc của tổ chức.
Ở Ruwanda, giáo dục KNS hƣớng đến giải quyết các vấn đề xung đột,
tự nhận thức, tinh thần cộng đồng… từ đó đề cao lịng u hịa bình.
4
trung tâm giáo dục KNS ra đời nhƣ Tâm Việt, TGM Corporation,
Breakthrough Power,… thu hút đƣợc các bậc phụ huynh đăng kí cho con em
mình. Giáo dục KNS đã trở thành mục tiêu hƣớng tới của quốc gia. Trên các
websites, diễn đàn, vấn đề KNS cũng đƣợc thành lập, bàn luận sôi nổi đáp
ứng nhu cầu của giới trẻ.
Trong những nghiên cứu đầu tiên mang tính hệ thống về KNS và giáo
dục KNS ở Việt Nam phải kể đến tác giả Nguyễn Thanh Bình. Với rất nhiều
các bài báo, các đề tài nghiên cứu khoa học cấp bộ và giáo trình, tài liệu tham
khảo nhƣ cuốn giáo trình “Chuyên đề Giáo dục kĩ năng sống”, bài viết “Thử
nghiệm một số chủ đề giáo dục kỹ năng sống cho học sinh trung học phổ
thơng” tác giả đã góp phần đáng kể vào việc tạo ra những hƣớng nghiên cứu
về KNS và giáo dục KNS trong nhà trƣờng.
Ban đầu, việc giáo dục KNS trong nhà trƣờng đƣợc thơng qua các
hoạt động ngồi giờ lên lớp nhƣ trong các bài viết của tác giả Đặng Vũ Hoạt,
Hà Thế Ngữ. Tuy nhiên việc làm này vẫn cịn ít đƣợc quan tâm nghiên cứu.
Để đáp ứng nhu cầu thực tiễn về lý thuyết và phƣơng pháp giáo dục kĩ năng
sống, một số nghiên cứu đã ra đời nhƣ cuốn Giáo dục giá trị sống và kĩ năng
sống cho học sinh trường Trung học phổ thông (Nguyễn Thị Mỹ Lộc, Đinh
Thị Kim Thoa, Trần Văn Tính, Vũ Phƣơng Liên, NXB Đại học Quốc gia Hà
Nội, 2010) [25]. Và đặc biệt, cuốn Giáo dục kĩ năng sống trong môn Ngữ văn
ở trường Trung học phổ thông (Lê Thu Thủy, Nguyễn Thị Hồng Vân, NXB
Giáo dục Việt Nam, 2010) [36] đƣợc biên soạn nhằm giúp cho nhà trƣờng
thực hiện giáo dục, rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh có hiệu quả.
Gần đây, đã có một số luận án tiến sĩ và luận văn thạc sĩ đề cập đến đề
tài giáo dục KNS nhƣ: Luận án Tiến sĩ Giáo dục học của tác giả Phan Thanh
Vân: Giáo dục kĩ năng sống cho học sinh trung học phổ thông thơng qua họat
động giáo dục ngồi giờ lên lớp, Trƣờng Đại học Giáo dục - Đại học Quốc
gia Hà Nội [38]. Trong đề tài này tác giả luận án tập trung nghiên cứu các kĩ
6
KNS cho học sinh thông qua dạy học tác phẩm văn học, tuy nhiên hầu hết
những luận văn trên mới chỉ đề cập đến giáo dục KNS cho đối tƣợng học sinh
THPT mà chƣa đề cập sâu đến đối tƣợng học sinh THCS.
Ngồi việc giáo dục KNS thì dạy học tích hợp trong mơn Ngữ văn cũng
thu hút đƣợc sự quan tâm của các nhà nghiên cứu và đã đạt đƣợc một số thành
tựu nhất định. Có thể kể đến các sách nhƣ Phương pháp dạy học văn, tập 1 và
tập 2, (Phan Trọng Luận (Chủ biên), NXB Giáo dục, 1999) [25], Tích hợp
trong dạy học Ngữ văn ở trường phổ thơng (Kiều Mai, Tạp chí dạy và học
ngày nay, 10/2007) [28], Chương trình Ngữ văn trong nhà trường phổ thông
Việt Nam (Đỗ Ngọc Thống, NXB Giáo dục, 2011) [35],… Tuy nhiên, trong
những tài liệu trên, các tác giả mới chỉ đề cập đến những yêu cầu đổi mới
chƣơng trình Ngữ văn và sự cần thiết của việc đổi mới phƣơng pháp dạy học
tích hợp ba phân mơn của mơn Ngữ văn.
Nhƣ vậy, giáo dục kĩ năng sống cho con ngƣời nói chung và cho học
sinh nói riêng đã đƣợc các nƣớc trên thế giới và Việt Nam quan tâm khai thác,
nghiên cứu dƣới các góc độ khác nhau, nhƣng vấn đề tích hợp kĩ năng sống
vào việc giảng dạy những tác phẩm truyện hiện đại Việt Nam cho học sinh
lớp 6 thì chƣa có đề tài nào nghiên cứu, vì thế chúng tơi chọn đề tài này để
góp phần cụ thể hóa việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống thông qua dạy học
môn Ngữ văn cho học sinh Trung học cơ sở.
3. Mục đích nghiên cứu
Giáo dục KNS cho HS thông qua việc dạy văn bản truyện hiện đại
Việt Nam, góp phần nâng cao chất lƣợng dạy học mơn Ngữ văn, phát huy tính
tích cực, chủ động của HS.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Việc tích hợp giáo dục kĩ năng sống trong dạy học văn bản truyện
hiện đại Việt Nam.
9
Chƣơng 2. Một số biện pháp tích hợp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh
lớp 6 thông qua dạy học văn bản truyện hiện đại Việt Nam
Chƣơng 3. Thực nghiệm sƣ phạm
10
CHƢƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Một số vấn đề về Kĩ năng sống
1.1.1.1. Khái niệm Kĩ năng sống
Kĩ năng sống là một khái niệm đƣợc sử dụng rộng rãi trong các lĩnh
vực hoạt động khác nhau và có nhiều quan niệm xoay quanh thuật ngữ này.
Theo WHO (năm 1993), xem xét từ góc độ sức khỏe, KNS là khả
năng cần có của con ngƣời để cuộc sống đƣợc lành mạnh, an tồn. Vì thế,
hiểu rộng ra, đây là khả năng mỗi cá nhân ứng phó, thích ứng một cách tích
cực trƣớc những yêu cầu và thách thức của cuộc sống hiện nay.
UNESCO (2003) cho rằng kĩ năng sống gắn với những năng lực cá
nhân, là khả năng con ngƣời thực hiện đầy đủ các chức năng và tham gia vào
cuộc sống hàng ngày gắn với 4 trụ cột của giáo dục: Học để biết - Học để làm
- Học để tự khẳng định mình - Học để cùng chung sống.
Tổ chức UNICEF (Thái Lan) lại tìm hiểu KNS liên quan đến việc hình
thành thái độ và kĩ năng của con ngƣời. Đây là khả năng phân tích tình huống,
hành vi và cách ứng xử cũng nhƣ khả năng tránh đƣợc những tình huống nào đó.
Theo tác giả Xkhomni thì: “KNS là khả năng con ngƣời thực hiện
những hành vi thích ứng với thách thức và những đòi hỏi của cuộc sống, KNS
đi sâu thể hiện những vấn đề cụ thể của đời sống - đó lại là những vấn đề
chính, bức thiết cần trang bị cho con ngƣời để họ ứng phó với những thay đổi
của xã hội từng ngày. Chính vì vậy, UNESCO đã để xuất cần bổ sung các
KNS quan trọng nhƣ: vệ sinh (vệ sinh cá nhân, vệ sinh thực phẩm), sức khỏe:
thể chất, dinh dƣỡng, sinh sản; bảo vệ trẻ em: phịng chống bạo lực, bn bán
trẻ em và phụ nữ; các vấn đề về giới, phòng tránh rƣợu, thuốc lá và ma túy;
phịng ngừa thiên tai; hịa bình và giải quyết xung đột; gia đình và cộng đồng;
giáo dục công dân; bảo vệ thiên nhiên và môi trƣờng;…
12
Nhƣ vậy, theo UNESCO, WHO, và UNICEF có thể xem KNS gồm
các kĩ năng cốt lõi, cụ thể nhƣ sau [39]
+ Kĩ năng giải quyết vấn đề
+ Kĩ năng giao hiệu quả
+ Kĩ năng giao tiếp ứng xử cá nhân
+ Kĩ năng ra quyết định
+ Kĩ năng suy nghĩ/ tƣ duy phê phán
+ Kĩ năng thể hiện sự cảm thông
+ Kĩ năng tƣ duy sáng tạo
+ Kĩ năng ứng phó với căng thẳng và cảm xúc
+ Kĩ năng tự nhận thức/ tự trọng và tự tin của bản thân, xác định giá trị
Ở nƣớc ta, trong những năm vừa qua, KNS đƣợc phân loại theo các
mối quan hệ, bao gồm các nhóm:
- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với chính mình
- Nhóm các kĩ năng nhận biết và sống với ngƣời khác
- Nhóm các kĩ năng ra quyết định một cách có hiệu quả
Trên đây chỉ là một trong các cách phân loại KNS còn việc phân loại
KNS phụ thuộc vào quan điểm, nhận thức của mỗi tác giả, nó mang tính
Giáo dục KNS càng trở nên cấp thiết với thế hệ trẻ bởi họ có nhiệm vụ
quan trọng quyết định sự phát triển của tƣơng lai đất nƣớc. KNS giúp cho các
em thực tự tin, vững vàng hơn để thực hiện tốt trách nhiệm cao cả của bản
thân mình, đóng góp cơng sức cho gia đình, cộng đồng và xã hội.
Tuy nhiên, xã hội ngày nay có q nhiều tiêu cực, cám dỗ, những lơi
kéo, kích động. Đây là điều kiện không thuận lợi cho HS bởi các em đang ở
lứa tuổi thích tìm tịi, khám phá, ham hiểu biết nhƣng lại thiếu kinh nghiệm
sống, thiếu hiểu biết xã hội và ít va vấp thực tế. Nếu không đƣợc giáo dục
KNS cùng với những thực trạng trên, các em dễ sa vào các hành tiêu cực, bạo
lực, sự tha hóa về nhân cách. Hiện nay, độ tuổi vƣớng vào tệ nạn xã hội ngày
14
càng trẻ hóa, khơng ít các em học sinh trung học nghiện hút, bỏ học, ăn chơi
sa đọa, nghiện game, bạo lực,…
Nhƣ vậy, có thể thấy, việc giáo dục KNS cho thế hệ trẻ là rất quan
trọng, giúp các em hồn thiện bản thân, rèn luyện hành vi có trách nhiệm với
gia đình, cộng đồng và Tổ quốc; giúp các em phát triển tồn diện, có bản lĩnh,
vững vàng hơn và thành công hơn trong cuộc sống.
Giáo dục KNS cho HS, với bản chất là hình thành cho các em năng lực
cần thiết để đáp ứng sự phát triển và sự nghiệp cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa
đất nƣớc là phù hợp với mục tiêu giáo dục, nhằm thực hiện mục tiêu giáo dục.
Để dạy KNS phù hợp với đổi mới phƣơng pháp giáo dục, cần phát huy ƣu thế
của các phƣơng pháp và kĩ thuật dạy học tích cực.
Hiện nay, đã có rất nhiều nƣớc trên thế giới quan tâm đến việc đƣa
KNS vào nhà trƣờng, trong đó có hơn 140 nƣớc đã đƣa vào chƣơng trình
chính khóa ở các cấp học. KNS đang là xu hƣớng giáo dục chung mà nhiều
quốc gia hƣớng tới. Ở nƣớc ta, có những cách thực hiện giáo dục KNS nhƣ:
- Xây dựng KNS thành một môn học để giáo dục cho học sinh nhƣ các
đƣợc hiểu là sự gắn kết các đối tƣợng nghiên cứu, giảng dạy, học tập của cùng
một kế hoạch để đảm bảo tính thống nhất, hài hịa của hệ thống dạy học nhằm
đạt mục tiêu đã đề ra một cách hiệu quả nhất.
* Dạy học tích hợp
Xu hƣớng phát triển chƣơng trình giáo dục phổ thơng hiện nay ở
nhiều nƣớc trên thế giới chính là dạy học tích hợp. Đối với nƣớc ta, từ những
năm 90 của thế kỉ XX đến nay, vấn đề xây dựng mơn học tích hợp đang đƣợc
tập trung nghiên cứu, thử nghiệm, áp dụng ở nhiều trƣờng phổ thông trong
các bậc học. Và thực tiễn đã chứng minh, tích hợp giúp làm tăng hiệu quả của
các hoạt động giáo dục.
Việc định nghĩa chƣơng trình tích hợp đã là đề tài bàn luận từ đầu thế
kỉ XXI, theo Trần Trung Ninh (Trƣờng ĐHSP Hà Nội), hơn một trăm năm
16
qua, các nhà lí thuyết đã đƣa ra ba loại hoạt động tích hợp cơ bản: tích hợp đa
mơn, tích hợp liên mơn và tích hợp xun mơn.
Tích hợp đa mơn là hình thức giảng dạy các mơn học riêng rẽ nhƣng
chúng lại liên quan với nhau, có chung một nhận định hƣớng về nội dung và
phƣơng pháp dạy học dù mỗi mơn lại có chƣơng trình riêng. Xoay quanh một
chủ đề, đề tài chung, các GV sẽ cùng thiết kế nội dung dạy học, tạo điều kiện
cho ngƣời học vận dụng tổng hợp các kiến thức của các môn học có liên quan.
Theo tiếp cận liên mơn, giáo viên sẽ tổ chức chƣơng trình học tập
xoay quanh nội dung: các chủ đề, khái niệm, kĩ năng liên ngành, liên mơn.
Với đặc điểm của các bộ mơn có nội dung gần gũi với nhau, nhiều môn học
liên quan sẽ đƣợc kết hợp thành một mơn học mới có hệ thống với những chủ
đề nhất định, xuyên suốt trong nhiều cấp học. Ví dụ: Mơn “Nghiên cứu xã hội
học và mơi trƣờng” có vẻ rất mới mẻ, khác lạ nhƣng đƣợc kết hợp từ các mơn
Địa lí, Lịch sử, Sinh học, Xã hội, Giáo dục cơng dân, Hóa học, Vật lí. Trong
mơn học và hƣớng vào việc phát triển KNS cho học sinh, kích thích trí tị mị,
ham muốn tìm hiểu, giải quyết vấn đề từ đó tạo động lực cho việc học.
Vốn tri thức của mỗi ngƣời là vơ cùng phong phú, nó đƣợc tích hợp từ
nhiều lĩnh vực của khoa học, theo tác giả Đinh Quang Báo - thƣờng trực ban
chỉ đạo đề án đổi mới chƣơng trình và SGK giáo dục phổ thơng sau năm 2015
thì việc dạy học tích hợp đã trở thành nguyên lí cơ bản của giáo dục hiện đại,
phần nội dung môn học trong sách giáo khoa cần đƣợc trình bày lại, khơng
nên theo đơn vị bài học, tiết học, mà nên xây dựng thành các chủ đề nội dung
ứng với các tình huống thích hợp.
Tích hợp trong dạy học tạo nên cách tiếp cận mới từ nội dung sang
hƣớng phát triển năng lực ngƣời học, đây là bƣớc tiến quan trọng của khoa
học giáo dục. Xu hƣớng này góp phần hình thành, rèn luyện cho HS các kĩ
năng cần thiết nhƣ: tƣ duy, phân tích, tổng hợp, khái quát và trừu tƣợng hóa
trong giáo dục.
18