(Luận văn thạc sĩ) biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự việt nam (trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh hà nam) - Pdf 70

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI LONG HƯNG

BIƯN PH¸P NGĂN CHặN áP DụNG ĐốI VớI NGƯờI
CHƯA THàNH NIÊN TRONG Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Nam)

LUN VN THC S LUẬT HỌC

HÀ NỘI - 2015


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

BÙI LONG HƯNG

BIƯN PH¸P NGĂN CHặN áP DụNG ĐốI VớI NGƯờI
CHƯA THàNH NIÊN TRONG Tố TụNG HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở số liệu thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Nam)

Chuyờn ngnh: Lut Hỡnh sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS NGUYỄN NGỌC CHÍ

HÀ NỘI - 2015

Khái niệm biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa
thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam.................................... 6

1.1.1.

Khái quát biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS Việt Nam........ 6

1.1.2.

Người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam................... 11

1.2.

Những đặc điểm của biện pháp ngăn chặn đối với người
chưa thành niên trong Tố tụng hình sự Việt Nam ....................... 18

1.2.1.

Phải căn cứ vào qui định chung về biện pháp ngăn chặn của Luật
tố tụng hình sự Việt Nam .................................................................. 18

1.2.2.

Những đặc điểm riêng khi áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với
người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam ................... 19

1.3.

Các qui định của pháp luật quốc tế về biện pháp ngăn chặn đối
với người chưa thành niên phạm tội trong tố tụng hình sự ........... 29

chưa thành niên ................................................................................. 48

2.2.2.

Tình hình áp dụng biện pháp tạm giữ ............................................... 54

2.2.3.

Tình hình áp dụng biện pháp tạm giam ............................................ 57

2.2.4.

Tình hình áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú ........................ 60

2.2.5.

Tình hình áp dụng biện pháp bảo lĩnh .............................................. 64

2.2.6.

Tình hình áp dụng biện pháp đặt tiền hoặc tài sản để bảo đảm ........ 66

2.3.

Nhận xét về việc biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người
chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam tại địa bàn
tỉnh Hà Nam..................................................................................... 69

2.3.1.



Nâng cao nhận thức của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về
trật tự xã hội trong việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối
với người chưa thành niên................................................................. 86

3.2.2.

Làm tốt công tác thanh tra, kiểm tra việc áp dụng các biện pháp
ngăn chặn trong tố tụng hình sự nhằm đảm bảo các quyền cơ
bản của công dân ............................................................................... 88

3.2.3.

Tuyên truyền giáo dục pháp luật cho quần chúng nhân dân nâng
cao ý thức chấp hành pháp luật là điều kiện để đảm bảo việc áp
dụng các biện pháp ngăn chặn .......................................................... 88

KẾT LUẬN .................................................................................................... 90
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ..................................................... 92


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN VĂN
BLHS:

Bộ luật Hình sự

BLTTHS:

Bộ luật Tố tụng hình sự


1. Tính cấp thiết của đề tài
Tỉnh Hà Nam chính thức được tái thành lập năm 1997, có địa giới
hành chính nhỏ hẹp, dân cư khơng đơng nhưng ngày càng phát triển nhanh,
vững chắc, khá toàn diện trên tất cả các lĩnh vực kinh tế - chính trị - an ninh
- quốc phòng... Tuy nhiên, tội phạm do người chưa thành niên có chiều
hướng gia tăng, với tính chất, mức độ nguy hiểm ngày càng nghiêm trọng
đòi hỏi các cấp, các ngành, các lực lượng chức năng phải cùng "vào cuộc"
để ngăn chặn, kiềm chế, từng bước làm giảm loại tội phạm này.
Trên thực tế, việc quy định và áp dụng đúng đắn các biện pháp ngăn
chặn, phòng ngừa trong Bộ luật Tố tụng hình sự Việt Nam được coi là sự đảm
bảo cao nhất cho quá trình phát hiện tội phạm để người phạm tội không thể
tiếp tục thực hiện các hành vi phạm tội cũng như trốn tránh, cản trở việc điều
tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Ở đây, lại có một vấn đề đặt ra là việc thực
hiện các biện pháp ngăn chặn, phịng ngừa mang yếu tố nhạy cảm khá cao vì
liên quan đến quyền, lợi ích của cơng dân, quyền bất khả xâm phạm về thân
thể, chỗ ở, bí mật đời tư... nên vẫn còn bộc lộ một số hạn chế nhất định, hậu
quả dẫn đến việc bỏ lọt tội phạm, làm oan người vô tội, vi phạm những
nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa, xâm phạm đến các quyền cơ bản của
cơng dân... Vì vậy việc nắm vững những quy định trong Chương V và
Chương XXXII "về thủ tục tố tụng đối với người chưa thành niên" của Bộ
luật Tố tụng hình sự năm 2003 là nhân tố quan trọng, cần thiết và có giá trị để
các Điều tra viên vận dụng tốt vào thực tiễn hoạt động nghiệp vụ, tránh được
những sai sót đáng tiếc xảy ra và góp phần nâng cao hiệu quả phịng ngừa,
ngăn chặn tội phạm do người chưa thành niên thực hiện.
Trong những năm vừa qua, lý luận về áp dụng các biện pháp ngăn chặn

1


trong điều tra các vụ án hình sự do người chưa thành niên gây ra chưa được

rất cần thiết, vừa có tính lý luận, vừa có tính thực tiễn, góp phần đảm bảo thực
hiện đúng pháp luật trong lĩnh vực này trên địa bàn tỉnh Hà Nam.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích
Từ việc nghiên cứu lý luận và thực trạng áp dụng các biện pháp ngăn
chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam của lực
lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội Công an tỉnh Hà Nam trong
giai đoạn từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2015, đề tài chỉ ra những mặt tích
cực, hạn chế, nguyên nhân tồn tại, đề xuất một số giải pháp chủ yếu để hoàn
thiện lý luận và góp phần nâng cao hiệu quả, chất lượng trong việc áp dụng
các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự
Việt Nam trên địa bàn tỉnh.
3.2. Nhiệm vụ
Để đạt được mục đích trên, trong quá trình nghiên cứu tác giả tập trung
giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau:
- Làm rõ khái niệm và đặc điểm về các biện pháp ngăn chặn áp dụng đối
với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam của lực lượng Cảnh
sát điều tra tội phạm về trật tự xã hội.
- Đánh giá việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn đối với người chưa
thành niên được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự trên cơ sở đó rút ra
những tồn tại, thiếu sót, vướng mắc trong q trình áp dụng luật trên cơ sở
thực tiễn tỉnh Hà Nam.
- Khảo sát, đánh giá thực trạng việc áp dụng các biện pháp ngăn chặn
đối với người chưa thành niên của lực lượng Cảnh sát điều tra tội phạm về trật
tự xã hội Công an tỉnh Hà Nam từ năm 2010 đến tháng 6 năm 2015.
- Đề xuất các giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn trong thời gian tới đối với người chưa thành niên.

3




pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên và các vấn đề nghiệp vụ để
đảm bảo các biện pháp đó.
- Hồn thiện hệ thống pháp luật tố tụng hình sự về việc áp dụng các
biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt
Nam. Kết quả nghiên cứu của đề tài cịn có thể dùng làm tài liệu tham khảo
nghiên cứu và cho cán bộ làm cơng tác điều tra, đấu tranh phịng chống loại
tội phạm này.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Một số vấn đề lý luận về các biện pháp ngăn chặn áp dụng
đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 2: Quy định của pháp luật và thực trạng áp dụng biện pháp
ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật và giải pháp nâng cao hiệu quả áp
dụng biện pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên trong tố tụng hình
sự Việt Nam.

5


Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ BIỆN PHÁP NGĂN CHẶN
ÁP DỤNG ĐỐI VỚI NGƯỜI CHƯA THÀNH NIÊN
TRONG TỐ TỤNG HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm biện pháp ngăn chặn áp dụng đối với người chưa
thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.1. Khái quát biện pháp ngăn chặn trong pháp luật TTHS Việt Nam

hoặc có thể tiếp tục phạm tội.
- Cấm đi khỏi nơi cư trú là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự,
được áp dụng đối với bị can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng nhằm bảo đảm sự có
mặt của họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng.
- Bảo lĩnh là biện pháp ngăn chặn trong tố tụng hình sự thay thế cho
biện pháp tạm giam được các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng đối với bị
can, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có người bảo lãnh khơng để bị can, bị cáo
phạm tội hoặc cản trở điều tra, truy tố, xét xử và nhằm bảo đảm sự có mặt của
họ theo giấy triệu tập của các cơ quan tiến hành tố tụng.
- Đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để đảm bảo là biện pháp ngăn chặn
trong tố tụng hình sự để thay thế biện pháp tạm giam do CQĐT, VKS, Tòa án
áp dụng đối với bị can, bị cáo để bảo đảm sự có mặt của họ theo giấy triệu tập
của các cơ quan tiến hành tố tụng và ngăn ngừa họ có hoạt động cản trở việc
giải quyết vụ án.
Những biện pháp ngăn chặn nêu trên phải được áp dụng bởi những
người có thẩm quyền như: Chánh án, Phó Chánh án Tồ án các cấp; Thẩm
phán giữ chức vụ Chánh tồ, Phó Chánh tồ Tịa phúc thẩm Toà án nhân dân
tối cao; Hội đồng xét xử; Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát các
cấp; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, trong trường hợp này,
lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành;

7


Người chỉ huy quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương, người chỉ
huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới, người chỉ huy tàu bay, tàu biển
hoặc chỉ huy trưởng vùng cảnh sát biển. Riêng việc bắt người trong trường
hợp phạm tội quả tang, bắt người đang bị truy nã thì mọi cơng dân đều có
quyền bắt.
Khi đưa ra khái niệm biện pháp ngăn chặn, khoa học pháp lý ở nước ta

chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét xử; Sẽ
tiếp tục phạm tội; Cần bảo đảm thi hành án. Theo đó thì:
Thứ nhất, để kịp thời ngăn chặn tội phạm
Kịp thời ngăn chặn tội phạm, để tội phạm khơng xảy ra, khơng tiếp tục
xảy ra, khơng hồn thành để gây ra nguy hiểm cho xã hội là một việc làm cần
thiết. Do đó BLTTHS quy định để kịp thời ngăn chặn tội phạm là một căn cứ
áp dụng biện pháp ngăn chặn.
Để kịp thời ngăn chặn tội phạm thường được sử dụng để bắt người
trong trường hợp khẩn cấp (Khi có căn cứ cho rằng người nào đó đang chuẩn
bị thực hiện tội phạm rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng) hoặc bắt người
phạm tội quả tang (Khi thấy một người đang thực hiện tội phạm).
Thứ hai, khi có căn cứ chứng tỏ bị can, bị cáo sẽ gây khó khăn cho việc
điều tra, truy tố, xét xử
Những người bị tình nghi thực hiện tội phạm hay đã bị truy cứu trách
nhiệm hình sự nếu khơng bị áp dụng các biện pháp ngăn chặn phần lớn sẽ gây
nhiều khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng nên việc áp dụng các biện
pháp ngăn chặn là cần thiết. Khi họ có các hành vi gây khó khăn thì việc giải
quyết vụ án của các cơ quan tiến hành tố tụng gặp nhiều khó khăn và việc tìm
ra sự thật khách quan của vụ án gặp nhiều cản trở thậm chí khơng thực hiện
được. Việc gây khó khăn của họ thể hiện ở việc trốn tránh triệu tập của các cơ
quan tiến hành tố tụng, làm sai lệch hoặc thủ tiêu chứng cứ, bàn bạc, câu kết
với những người tham gia tố tụng khác khai báo gian dối, tạo chứng cứ giả…

9


Do vậy khi có căn cứ nêu trên các cơ quan tiến hành tố tụng phải áp
dụng các biện pháp ngăn chặn hoặc thay đổi các biện pháp ngăn chặn đối với
bị can, bị cáo, người đã thực hiện hành vi phạm tội để đáp ứng được nhiệm vụ
giải quyết vụ án hình sự, xác định được sự thật khách quan của vụ án.

hoặc sẽ tiếp tục phạm tội thì Hội đồng xét xử sẽ ra quyết định bắt tạm giam để
tạm giam bị cáo để đảm bảo thi hành án.
1.1.2. Người chưa thành niên trong tố tụng hình sự Việt Nam
1.1.2.1. Người chưa thành niên
Người chưa thành niên là thuật ngữ phổ biến được sử dụng trong đời
sống cũng như trong các ngành khoa học nghiên cứu. Dưới nhiều góc độ
nghiên cứu cũng như mục đích nghiên cứu khác nhau mà ở mỗi ngành khoa
học lại có cách hiểu riêng về thuật ngữ này. Theo Từ điển Tiếng Việt: “Vị
thành niên là người chưa đến tuổi được pháp luật công nhận là công dân với
đầy đủ các quyền và nghĩa vụ hay nói cách khác là người chưa đủ 18 tuổi”.
Định nghĩa này phù hợp với tinh thần của Công ước của Liên Hợp Quốc về
quyền trẻ em thông qua ngày 20/11/1989: “Trong phạm vi của Công ước này,
trẻ em có nghĩa là những người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp
dụng với trẻ em đó quy định tuổi thành niên sớm hơn” [15, Điều 1]. Theo
cách hiểu thông thường, từ “trẻ em” nghĩa là người chưa thành niên, hay vị
thành niên. Thế nhưng trong Công ước này trẻ em lại bao gồm tất cả những
người chưa phải người lớn. Công ước nhấn mạnh rằng tất cả những ai dưới 18
tuổi thì được hưởng mọi quyền lợi đã được ghi nhận trong Công ước.
Tuy nhiên những quy định khác nhau về khái niệm người chưa thành
niên lại nằm trong các văn bản pháp luật truyền thống của các quốc gia trên
thế giới. Sở dĩ có sự quy định khác nhau như vậy là do xuất phát từ truyền
thống lịch sử văn hóa cũng như các quan niệm về đạo đức, phong tục tập quán
của các quốc gia khác nhau. Mặt khác, còn do điều kiện kinh tế - xã hội, sự
phát triển về sinh học của con người, đặc biệt là chính sách pháp luật và yêu
cầu của thực tiễn cơng tác đấu tranh phịng chống tội phạm của mỗi quốc gia
cũng có sự khác nhau.

11




khi con người đạt đến một độ tuổi nhất định và năng lực đó sẽ được hồn
thiện ở một độ tuổi tiếp theo. Người chưa thành niên, hay vị thành niên hoặc
có nơi coi là trẻ em về thể chất và tâm sinh lý đã có sự phát triển đáng kể, có
khả năng hiểu biết nhất định để có những xử sự phù hợp với quy định của
pháp luật. Theo nguyên tắc công bằng của pháp luật, họ phải chịu trách nhiệm
về hành vi do chính mình thực hiện.
“Người chưa thành niên phạm tội” là thuật ngữ sử dụng trong khoa học
PLHS, PLTTHS và các khoa học gần gũi khác. Mặc dù BLTTHS và BLHS
đều có dành một chương riêng để quy định về người chưa thành niên phạm
tội, nhưng lại đều khơng có khái niệm lập pháp chính thức thế nào là người
chưa thành niên phạm tội. BLHS 1985 cũng như BLHS 1999 khi nói tới
người chưa thành niên phạm tội chỉ đưa ra một khái niệm gián tiếp thơng qua
việc quy định độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Điều 12 BLHS năm 1999 thì người từ đủ 16 tuổi trở lên mới phải chịu
trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, còn người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16
tuổi thì chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố
ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. BLHS năm 1999 cũng quy định:
“Người chưa thành niên từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi phải chịu trách nhiệm
hình sự theo những quy định của chương này [21, Điều 68].
Với quy định trong các điều khoản trên có thể hiểu người chưa thành
niên phạm tội bao gồm những người từ đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 18 tuổi.
Nhưng cũng cần phải lưu ý rằng: Người chưa thành niên trong PLHS Việt
Nam phải được nhìn nhận chính xác từ hai góc độ khơng nên đồng nhất thuật
ngữ “người chưa thành niên” trong PLHS với thuật ngữ “người chưa thành
niên phạm tội”. Ở góc độ thứ nhất, người chưa thành niên là người bị hại,
người xúi giục, “người chưa thành niên” sẽ bao gồm tất cả những người ở độ
tuổi dưới 18 tuổi. Nhìn từ góc độ thứ hai, người chưa thành niên bằng năng

13

14


phù hợp với nội dung điều ước quốc tế tiến bộ của nhân loại mà chúng ta đã
gia nhập vừa phù hợp với đặc điểm kinh tế xã hội, sự phát triển về thể chất,
tinh thần con người Việt Nam và kinh nghiệm đấu tranh phòng chống tội
phạm ở nước ta.
Thuật ngữ “người chưa thành niên phạm tội” vốn đã phức tạp lại càng
phức tạp thêm vì vấn đề này khơng chỉ có ý nghĩa về phương diện đạo đức pháp lý mà cịn có ý nghĩa về phương diện thực tế hoặc thống kê. Trong thực
tế, còn tồn tại nhiều vướng mắc gây tranh cãi khi xác định một cá nhân có phải
là người chưa thành niên phạm tội hay khơng. Trước hết phải kể đến khó khăn
vướng mắc trong việc xác định độ tuổi của một người khi thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội trong những trường hợp không rõ ràng về ngày, tháng,
năm sinh. Thứ hai là khó khăn trong việc xác định hành vi nguy hiểm cho xã
hội mà người chưa thành niên thực hiện có phải là tội phạm hay khơng phải tội
phạm vì rất khó phân biệt tội phạm với các loại vi phạm khác. Chẳng hạn, hành
vi trộm cắp một chiếc xe đạp của người khác chỉ trở thành tội phạm khi xác
định chính xác giá trị của chiếc xe từ hai triệu đồng trở lên, nếu khơng, hành vi
đó chỉ là một vi phạm hành chính. Cuối cùng là khó khăn, vướng mắc trong
việc xác định một cách chính xác, phù hợp với thực tế tổng số vụ và người
chưa thành niên phạm tội hàng năm. Con số người chưa thành niên phạm tội
phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trước hết là mức độ kiểm soát tội phạm; hiệu quả
của công tác phát hiện, xử lý tội phạm. Các tội phạm do người chưa thành niên
thực hiện được phát hiện chỉ là một phần mà chúng ta biết được trong số rất
nhiều vụ phạm pháp hình sự đã và đang xảy ra. Mặt khác, các vụ phạm tội
được ghi nhận vào sổ thống kê lại chưa bằng một nửa số vụ người chưa thành
niên phạm tội bị phát hiện. Mặc dù các con số thống kê hình sự về số lượng các
vụ án và số lượng người chưa thành niên chỉ là phần tội phạm rõ trong tổng thể
các tội phạm do người chưa thành niên thực hiện. Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể



16


niên thỏa mãn những quy định pháp lý về người bị bắt, người bị tạm giữ, bị
can, bị cáo nhưng họ đang ở độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến chưa đủ 18 tuổi. Vì
vậy, những thủ tục đối với người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là
người chưa thành niên phải được tiến hành theo thủ tục đặc biệt được quy
định tại chương XXXII BLTTHS Việt Nam năm 2003. Từ những phân tích
trên có thể hiểu: Người chưa thành niên trong tố tụng hình sự là người bị
bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo đang trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến
dưới 18 tuổi ở thời điểm các cơ quan có thẩm quyền tiến hành các hoạt
động tố tụng hình sự đối với họ.
Như vậy, khái niệm người chưa thành niên phạm tội và khái niệm
người bị bắt, người bị tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên có
những điểm khác nhau xuất phát từ thời điểm phát sinh quan hệ pháp luật mà
trong đó người chưa thành niên là chủ thể. Quy định đối với người chưa thành
niên phạm tội trong BLHS chỉ áp dụng đối với đối tượng là người chưa thành
niên ở thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội. Còn người bị bắt, người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo là người chưa thành niên bị coi là những người bị tình
nghi trong quá trình tố tụng giải quyết vụ án. Những quy định áp dụng đối với
họ chỉ được thực hiện vào thời điểm họ bị bắt, bị tạm giữ, tạm giam, bị khởi
tố, truy tố, xét xử và phải vào thời điểm mà họ là người chưa thành niên.
Từ những phân tích trên có thể đưa ra khái niệm biện pháp ngăn chặn
áp dụng đối với người chưa thành niên trong TTHS Việt Nam như sau: “Biện
pháp ngăn chặn đối với người chưa thành niên là biện pháp cưỡng chế TTHS
được quy định trong pháp luật TTHS, do người có thẩm quyền ở các cơ quan
THTT hoặc các cơ quan khác được giao một số hoạt động tố tụng áp dụng
đối với bị can, bị cáo, người phạm tội quả tang, người có lệnh truy nã hoặc
người bị nghi phạm tội trong độ tuổi từ đủ 14 tuổi đến dưới 18 tuổi tại thời

nơi cư trú, bảo lĩnh, đặt tiền hoặc tài sản có giá trị để bảo đảm.

18



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status