ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
ĐINH THỊ NGA PHƯỢNG
PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ VIỆC LÀM
VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.50
TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2010
MỤC LỤC
Trang
1.1.
1.1.1.
1.1.1.1.
1.1.1.2.
1.1.2.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.2.3.
1.2.4.
1.2.5.
1.2.6.
Cấm cưỡng bức, ngược đãi người lao động
Bình đẳng trong lĩnh vực việc làm
Ưu đãi một số đối tượng đặc thù
Nhà nước khuyến khích mọi hoạt động tạo ra việc làm và hỗ trợ tạo
ra việc làm
Lược sử quá trình hình thành và phát triển pháp luật về việc làm
và giải quyết việc làm ở Việt Nam
Pháp luật về giải quyết việc làm thời kỳ trước khi có Bộ luật Lao
động
Pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm theo Bộ luật Lao động
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ VIỆC
LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM TRONG
THỜI KỲ HỘI NHẬP
Thực trạng pháp luật về lao động - việc làm
Thực trạng về lao động - việc làm
Thực trạng nguồn lao động
Hiện trạng về việc làm
Thực trạng pháp luật về lao động - việc làm
Thực trạng pháp luật về giải quyết việc làm ở Việt Nam
Về trách nhiệm giải quyết việc làm của nhà nước
Về trách nhiệm giải quyết việc làm của người sử dụng lao động
Giải quyết việc làm cho lao động dặc thù
Đối với lao động nữ
1
1
7
7
7
Chương 3: HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ VIỆC
LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM TRONG
THỜI KỲ HỘI NHẬP
3.1.
Sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm và
giải quyết việc làm ở Việt Nam
3.2.
Phương hướng hoàn thiện pháp luật lao động về việc làm và giải
quyết việc làm ở Việt Nam
3.3.
Một số kiến nghị cụ thể
3.3.1.
Về các quy định của pháp luật
3.3.2.
Về tổ chức thực hiện
KẾT LUẬN
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
2
76
81
88
88
93
97
97
106
113
3
cho nhóm lao động yếu thế, góp phần hỗ trợ người lao động tạo việc làm,
nhanh chóng ổn định cuộc sống.
Hòa theo xu thế chung của thời đại, Việt Nam đã gia nhập và chính
thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hội
nhập kinh tế quốc tế, bên cạnh các cơ hội, chúng ta cũng phải đối mặt với
những thách thức to lớn tác động tới việc làm và giải quyết việc làm cho
người lao động.
Nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩa của việc làm và giải quyết
việc làm, đã có nhiều tác giả đề cập đến vấn đề này, nhưng hiện nay chưa có
cơng trình nghiên cứu khoa học nào khái lược một cách hệ thống, cơ bản về
pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập,
trên cơ sở đó đề ra phương hướng hoàn thiện đáp ứng yêu cầu thời kỳ hội
nhập. Trong khi đó, việc nghiên cứu những bất cập, tồn tại, vướng mắc của
pháp luật trong thời kỳ hội nhập để hồn thiện pháp luật lao động, khơng
những có ý nghĩa lý luận và cịn có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với phát triển
thị trường lao động việc làm ở Việt Nam, tạo cơ sở pháp lý đối với việc làm
bền vững cho người lao động nói riêng, sự phát triển của quốc gia nói chung.
Vì những lý do nói trên, tơi đã chọn đề tài "Pháp luật lao động về việc
làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập" làm đề tài
luận văn thạc sỹ luật học của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Nghiên cứu chung về việc làm và giải quyết việc làm, chúng ta khơng
thể khơng tìm hiểu tác phẩm Về chính sách giải quyết việc làm ở Việt Nam
của PGS. Nguyễn Hữu Dũng - PTS. Trần Hữu Trung (chủ biên), Nhà xuất
bản Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1997. Một số sinh viên cũng đã chọn đề tài
pháp luật lao động về việc làm, giải quyết việc làm cho người lao động làm
khóa luận tốt nghiệp tuy nhiên đã nhiều năm trôi qua, với rất nhiều biến động
cứu trong những cơng trình khoa học tiếp theo.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
- Cách tiếp cận của đề tài và hướng nghiên cứu của đề tài có những
đóng góp nhất định vào việc nghiên cứu pháp luật lao động về việc làm và
giải quyết việc làm, nhất là trong thời kỳ hội nhập.
- Kết quả nghiên cứu có thể sử dụng làm tài liệu phục vụ và nghiên
cứu cho sinh viên, học sinh.
7
- Kết quả nghiên cứu cũng có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo cho
các nhà nghiên cứu, những nhà hoạch định chính sách và những ai quan tâm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về việc làm và giải quyết việc làm.
Chương 2: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về việc làm và
giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về việc làm và
giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập.
8
Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM
1.1. Quan niệm việc làm và giải quyết việc làm
1.1.1. Khái niệm việc làm, giải quyết việc làm
Nếu chú trọng mục đích của việc làm thì việc làm ln gắn với tiền
lương do vậy việc làm được định nghĩa "như một tình trạng trong đó có sự trả
cơng bằng tiền hoặc hiện vật do có sự tham gia tích cực có tính chất cá nhân
và trực tiếp vào nỗ lực sản xuất" - Theo Giang Mute.
Theo Guy Hân-tơn: "Việc làm theo nghĩa rộng là toàn bộ các hoạt
động kinh tế xã hội; nghĩa là tất cả những gì liên hệ đến cách thức kiếm sống
của con người kể cả các quan hệ xã hội và các tiêu chuẩn hành vi tạo thành
khuôn khổ của q trình kinh tế" [38].
Chính vì vai trị và tính chất phức tạp của vấn đề việc làm mà tại hội
nghị thống kê lao động quốc tế lần thứ 8 năm 1945 ở Giơnevơ và trong
khuyến nghị về thống kê lao động quốc tế năm 1975, vấn đề việc làm đã được
đưa ra. Nhưng người ta chỉ định nghĩa về người có việc làm, đó là những
người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
- Người đang làm một việc được trả cơng trong một thời gian ngắn, có
thể là một tuần lễ, một ngày.
- Người đã có chỗ làm việc nhưng có thời gian khơng đi làm, tạm thời
vắng mặt trong một thời gian nhất định do ốm đau, tai nạn, tạm nghỉ việc do
tranh chấp lao động hoặc các lý do khác.
Hiện nay, theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì khái niệm việc
làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động. Khi đó, việc
làm được phân thành hai loại: Có trả công (những người làm thuê, học
việc…) và không được trả cơng nhưng vẫn có thu nhập (giới chủ làm kinh tế
gia đình…). Vì vậy, việc làm được coi là hoạt động có ích mà khơng bị pháp
luật ngăn cấm có thu nhập bằng tiền (hoặc bằng hiện vật). Những người có
việc làm là những người làm một việc gì đó có được trả cơng, lợi nhuận, được
10
thanh toán bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang
Như vậy, dù được hiểu theo nhiều quan niệm khác nhau, nhưng có thể
thấy khái niệm việc làm bao gồm hai nội dung có tính điều kiện:
Nội dung thứ nhất đề cập việc làm là hoạt động lao động của con
người tạo ra nguồn thu nhập (điều kiện cần). Các hoạt động này thể hiện việc
làm luôn luôn gắn với thu nhập. Những hoạt động khơng mang lại thu nhập
thì không được coi là việc làm. Việc làm phải được coi là một phương kế
kiếm sống, là một hoạt động mà qua đó người ta được trả cơng (bằng tiền
hoặc hiện vật) và sống nhờ vào khoản tiền đó.
Nội dung thứ hai đề cập hoạt động ấy không bị pháp luật cấm (điều
kiện đủ). Nếu hoạt động lao động chỉ thỏa mãn điều kiện thứ nhất, thì dưới
góc độ pháp lý vẫn chưa đủ để coi là việc làm. Có những hoạt động tuy tạo ra
thu nhập, thậm chí rất cao nhưng khơng được coi là việc làm vì vi phạm điều
kiện thứ hai này như hoạt động buôn bán ma túy, chế tạo, buôn bán pháo...
Đây là một quan niệm mới về việc làm so với thời kỳ bao cấp của Việt
Nam trước đây. Việc quy định khái niệm về việc làm theo Điều 13 Bộ luật
Lao động đã làm thay đổi một cách căn bản vấn đề nhận thức về việc làm:
trước đây người ta cho rằng chỉ có làm việc trong khu vực nhà nước, khu vực
kinh tế tập thể mới được gọi là có việc làm, khơng thừa nhận là có việc làm khi
hoạt động ở các lĩnh vực khác; nhưng đến nay, với quan niệm này thì người lao
động đã đứng vào vị trí trung tâm, năng động và chủ động tự tạo việc làm cho
mình và cho người khác, ở tất cả các thành phần kinh tế, không thụ động, trông
chờ ỷ lại vào sự bố trí việc làm của Nhà nước. Do vậy, căn cứ vào trong tình
hình thực tiễn của Việt Nam hiện nay, quan niệm này là tương đối đầy đủ và
chính xác. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng đây là một quan niệm, "chưa
phải là một định nghĩa hoặc khái niệm đầy đủ về việc làm" [70]. Nó phù hợp
với thực tiễn Việt Nam đang ở giai đoạn thấp của sự phát triển, trong tương
lai cần có một định nghĩa chuẩn, chất lượng hơn về việc làm.
Vì vậy, trong thời kỳ hội nhập, theo chúng tôi, để đưa ra được khái
niệm chính xác hơn về việc làm, cần tìm hiểu thêm về các khái niệm có
niệm thất nghiệp, cũng cần lưu ý có các loại đối tượng chưa làm việc bao giờ
(thanh niên mới bước vào tuổi lao động nhưng chưa có việc làm) và mất việc,
chờ lao động, lao động dư thừa...
13
Khái niệm thiếu việc làm theo Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung
được hiểu là: trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp. Đó là
"tình trạng có việc làm, nhưng do ngun nhân khách quan, ngồi ý muốn của
người lao động, họ phải làm việc không hết thời gian theo luật định, hoặc làm
những công việc có thu nhập thấp, khơng đủ sống, muốn tìm thêm việc làm
bổ sung" [17].
Dưới giác độ của thị trường lao động, khái niệm người thất nghiệp
được định nghĩa rất khác nhau ở mỗi nước. Theo chúng tơi, dưới góc độ pháp
lý, "Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động,
hiện đang khơng có việc làm và đang đi tìm việc làm" [60]. Mặt khác, cũng
cần phân biệt giữa người không làm việc và người thất nghiệp. Về vấn đề này,
chúng tôi tán thành với ý kiến của Đỗ Năng Khánh: khái niệm "người không
làm việc" rộng hơn khái niệm "người thất nghiệp". Trong số người khơng làm
việc có thể bao gồm cả người thất nghiệp. Người khơng làm việc bao gồm cả
những người có khả năng lao động, trong độ tuổi lao động nhưng lại khơng có
nhu cầu tìm việc làm.
Cũng cần lưu ý rằng, khi phân tích những khái niệm trên, chúng ta
mới chỉ tính đến đối tượng nằm trong lực lượng lao động và trong độ tuổi lao
động. Theo kinh nghiệm của thế giới, để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động,
mỗi quốc gia phải lập sơ đồ lực lượng lao động riêng của mình. Việt Nam có
thể vận dụng kinh nghiệm quốc tế, nhưng có thể lấy tuổi giới hạn "từ 15 đến
55 đối với nữ và 15 đến 60 đối với nam" [17]. Song do đặc điểm của Việt
Nam, người có nhu cầu việc làm ngồi tuổi lao động rất lớn để đảm bảo đời
hoặc trình độ quản lý yếu kém thì nhiều việc làm được tạo ra nhưng khơng
duy trì được. Do vậy, tạo việc làm là một quá trình mà trong đó, việc tạo ra
chỗ làm việc và thu hút lao động vào làm việc mới chỉ là khâu đầu tiên của
q trình đó.
Chính vì vậy, để có thể khái qt một cách đầy đủ về tạo việc làm cần
phải hiểu tạo việc làm là một quá trình mà làm sao để kết hợp được hai yếu tố
về sức lao động và tư liệu sản xuất, tức là phải tạo ra được những điều kiện
cần thiết để hai yếu tố này phù hợp với nhau và tạo điều kiện cho nhau phát
triển, ở đây bao gồm các hoạt động:
15
Một là, tạo ra số lượng và chất lượng tư liệu sản xuất: số lượng và chất
lượng tư liệu sản xuất phụ thuộc vào vốn đầu tư và tiến bộ khoa học kỹ thuật
áp dụng trong sản xuất và khả năng quản lý, sử dụng đối với các tư liệu sản
xuất đó.
Hai là, tạo ra số lượng và chất lượng sức lao động: Số lượng của lao
động phụ thuộc vào quy mô của dân số, các quy định về độ tuổi lao động và
sự di chuyển của lao động. Chất lượng của lao động phụ thuộc vào sự phát
triển về y tế, thể thao và chăm sóc sức khỏe cộng đồng.
Ba là, hình thành mơi trường thuận lợi cho sự kết hợp của hai yếu tố
sức lao động và tư liệu sản xuất. Môi trường cho sự kết hợp hai yếu tố này
bao gồm hệ thống các chính sách phát triển kinh tế xã hội, chính sách khuyến
khích, thu hút người lao động, chính sách bảo hộ sản xuất, chính sách thất
nghiệp, chính sách khuyến khích đầu tư v.v...
Bốn là, thực hiện các các giải pháp nhằm duy trì việc làm ổn định và
có hiệu quả cao. Các giải pháp có thể kể tới trong nhóm này là các giải pháp
về quản lý điều hành, về thị trường các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất,
các biện pháp khai thác có hiệu quả các nguồn lực, duy trì và nâng cao chất
hợp này chủ yếu là cơng nghệ thích hợp, cơng nghệ sử dụng nhiều lao động.
Tất nhiên, giải quyết việc làm theo phạm vi rộng và hẹp trên đây có
quan hệ mật thiết với nhau, bổ sung và đan xen vào nhau, đều hướng vào mục
tiêu hàng đầu là sử dụng tối đa tiềm năng lao động xã hội. Song xét về mặt xã
hội, đối tượng giải quyết việc làm mà chúng ta cần đặc biệt quan tâm chính là
những người lao động do hậu quả của lựa chọn và áp dụng công nghệ tầng
cao gây nên (lao động dôi dư, bị sa thải, rơi vào tình cảnh thất nghiệp) và
những người chưa có việc làm, cũng như hiệu quả việc làm kém, thu nhập
thấp. Tức là nhấn mạnh tính chất xã hội, khía cạnh xã hội của nó, để khơng
dẫn đến những điểm nóng, điểm gay cấn về mặt xã hội.
Từ sự phân tích trên chúng ta có thể hiểu khái quát về giải quyết việc làm
như sau: Giải quyết việc làm là q trình tạo ra điều kiện và mơi trường bảo đảm
cho mọi người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, đang có nhu cầu
tìm việc làm với mức tiền công thịnh hành trên thị trường đều có cơ hội làm việc.
17
1.1.2. Tầm quan trọng của việc làm và giải quyết việc làm
Việc làm và giải quyết việc làm là một trong những vấn đề quan trọng
đối với mỗi quốc gia trên thế giới, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển
có lực lượng lao động lớn như Việt Nam. Giải quyết việc làm cho người lao
động trong sự phát triển của thị trường lao động là tiền đề quan trọng để sử
dụng có hiệu quả nguồn lao động, góp phần tích cực vào việc hình thành thể
chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu
vực và thế giới.
Về mặt kinh tế, việc làm và giải quyết việc làm là vấn đề được đặt ra ở
nhiều quốc gia, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Điều này không
chỉ có ý nghĩa đối với một bộ phận dân cư, những người thiếu việc làm và
thất nghiệp mà quan trọng hơn, nó tác động đến sự tăng trưởng và phát triển
Nước ta ln tồn tại tình trạng thất nghiệp và thiếu việc làm nghiêm
trọng, đại bộ phận dân cư có mức sống thấp, nhiều người lao động cần có việc
làm hoặc việc làm hiệu quả hơn. Giải quyết việc làm ở Việt Nam trong tình
trạng hiện nay có một ý nghĩa to lớn đối với q trình phát triển kinh tế, góp
phần đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và nâng cao thu nhập quốc dân.
Về mặt chính trị - xã hội, việc làm và giải quyết việc làm là một vấn
đề mang tính xã hội. Mỗi con người khi trưởng thành đều có nhu cầu và mong
muốn làm việc, đó là nhu cầu chính đáng và cũng là quyền lợi của người lao
động. Chính vì vậy, giải quyết việc làm đầy đủ cho người lao động có ý nghĩ
rất lớn đối với mỗi cá nhân và toàn xã hội.
Khi Chính phủ có chính sách tạo việc làm thỏa đáng, điều đó sẽ đem
đến sự cơng bằng trong xã hội, tạo công ăn việc làm cho tất cả lao động. Khi
mà mọi người lao động có thu nhập, họ không phải lo ăn bám, hạn chế được
sự phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội có thể giảm bớt. Ngược lại, nếu không
giải quyết tốt việc làm cho người lao động, hiện tượng thất nghiệp và thiếu
việc làm sẽ tăng lên. Điều này luôn gắn liền với sự gia tăng các tệ nạn xã hội
như cờ bạc, trộm cắp, ma túy... làm rối loạn trật tự an ninh xã hội, tha hóa
nhân phẩm người lao động. Thất nghiệp ở mức cao còn gây ra sự bất ổn định
về kinh tế và chính trị, có khi nó cịn là tác nhân gây ra sự sụp đổ của cả một
thể chế, làm mất niềm tin của người dân đối với Nhà nước và các chính Đảng.
19
Giải quyết việc làm gắn liền với quá trình phân công lao động theo
ngành và theo lãnh thổ. Nếu như khơng có các biện pháp tạo mở việc làm hợp
lý cho khu vực nông thôn, nhiều người lao động ở khu vực này sẽ ra thành thị
để tìm việc làm, gây sức ép cho khu vực thành thị trên tất cả các mặt như: nhà
cửa, điện nước, y tế, thậm chí gây ra cả những rối loạn về mặt xã hội.
Giải quyết việc làm trên phạm vi rộng còn bao gồm cả những vấn đề
1959 quy định: "Cơng dân nước Việt Nam dân chủ cộng hịa có quyền làm
việc. Nhà nước dựa vào sự phát triển có kế hoạch của nền kinh tế quốc dân,
dần dần mở rộng công việc làm, cải thiện điều kiện lao động và lương bổng
để bảo đảm cho cơng dân được hưởng quyền đó" và Hiến pháp sửa đổi bổ
sung năm 2001 tiếp tục khẳng định quyền làm việc là quyền cơ bản của công
dân: "Lao động là quyền và nghĩa vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế
hoạch tạo ngày càng nhiều việc làm cho người lao động" (Điều 53), mọi cơng
dân có quyền trong việc lựa chọn hình thức việc làm hợp pháp.
Có việc làm là nguyện vọng đáng trân trọng của con người. Con người
được tự do trong lao động là tiền đề để giải phóng sức lao động và phát huy
triệt để tiềm năng của con người. Mọi người có sức lao động đều có quyền có
việc làm, có quyền tiến hành bất cứ hoạt động nào mà tạo ra thu nhập cho bản
thân và gia đình với điều kiện hoạt động đó là hợp pháp, phù hợp với ngun
tắc: "Cơng dân có quyền làm những gì mà pháp luật khơng cấm". Với ý nghĩa
đó, pháp luật về giải quyết việc làm tạo ra hành lang pháp lý làm cơ sở cho
Nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội tiến hành các biện pháp giải
quyết việc làm, tạo thu nhập nâng cao đời sống cho người lao động, xây dựng
và phát triển quốc gia. Rõ ràng, việc làm và giải quyết việc làm là một trong
những cơ sở đầu tiên làm phát sinh các vấn đề pháp lý có liên quan tới quan
hệ lao động.
1.2. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về việc làm và giải quyết
việc làm
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về việc làm và giải quyết việc
làm được hiểu là những phương hướng, tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt và chi
phối toàn bộ hệ thống các quy phạm về việc làm và giải quyết việc làm.
21
Pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm đã và đang tồn tại ở nhiều
1.2.2. Nhà nước thống nhất quản lý về việc làm và giải quyết việc làm
Nguyên tắc này đã được quy định tại Điều 10 của Bộ luật Lao động.
Nhà nước thống nhất quản lý nguồn nhân lực và quản lý lao động bằng pháp
luật và có chính sách để phát triển, phân bố nguồn nhân lực, phát triển đa
dạng các hình thức sử dụng lao động và dịch vụ việc làm. Theo đó, Nhà nước
phải đảm bảo việc làm thơng qua hoạch định, xây dựng các chương trình phát
triển kinh tế - xã hội gắn với chính sách việc làm và lao động, đảm bảo cơ hội
làm việc bình đẳng, công bằng cũng như xây dựng, tạo lập các công cụ, thể
chế hỗ trợ trong lĩnh vực tạo và giải quyết việc làm.
1.2.3. Cấm cưỡng bức, ngược đãi người lao động
Nguyên tắc này được quy định tại Khoản 2 Điều 5 Bộ luật Lao động:
"Cấm ngược đãi người lao động, cấm cưỡng bức người lao động dưới bất kì
hình thức nào". Nội dung nguyên tắc này buộc Nhà nước cũng như người sử
dụng lao động không được buộc người lao động phải tiến hành những việc
làm trái với ý nguyện của họ và trong quá trình sử dụng lao động khơng được
có những hành vi có tính chất ngược đãi người lao động. Đây là một nguyên
tắc nhằm bảo vệ quyền lợi của người lao động. Bởi vì, trước hết người lao
động thuộc về số đông người trong xã hội. Hơn nữa, trong quan hệ lao động
các chủ thể có địa vị kinh tế khơng bình đẳng. Người sử dụng lao động có đầy
đủ các điều kiện về vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ kỹ thuật, khả năng kinh
doanh. Ngược lại, người lao động lại rơi vào vị thế yếu, họ chỉ có một tài sản
duy nhất đó là sức lao động để đổi lấy thu nhập, đảm bảo cuộc sống. Chính vì
vậy mà trong q trình lao động, người sử dụng lao động không được dùng vị
thế kinh tế của mình để ép buộc, cưỡng bức, ngược đãi người lao động phải
làm việc theo ý muốn của mình trái với quy định của pháp luật, vi phạm
quyền con người. Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản 2,
khoản 3 Điều 8 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên
hợp quốc mà Việt Nam gia nhập ngày 24 tháng 9 năm 1982 là:
Ngun tắc bình đẳng trong lĩnh vực việc làm một mặt đảm bảo quyền
lợi cho người lao động được có cơ hội việc làm, mặt khác tạo điều kiện để
24