Pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm ở việt nam trong thời kỳ hội nhập - Pdf 69

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT

ĐINH THỊ NGA PHƯỢNG

PHÁP LUẬT LAO ĐỘNG VỀ VIỆC LÀM
VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM Ở VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Chuyên ngành: Luật Kinh tế
Mã số: 60.38.50

TÓM TẮT LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Hà Nội - 2010


MỤC

Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Mục lục
MỞ ĐẦU
Chương 1: KHÁI QUÁT CHUNG VỀ
QUYẾT VIỆC LÀM
Quan niệm việc làm và giải quyết việc
Khái niệm việc làm, giải quyết việc làm
Khái niệm việc làm
Khái niệm giải quyết việc làm
Tầm quan trọng của việc làm và giải qu
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật
việc làm

1.1.2.
1.2.
1.2.1.
1.2.2.
1.2.3.
1.2.4.
1.2.5.
1.2.6.
1.3.
1.3.1.
1.3.2.

2.1.
2.1.1.
2.1.1.1.
2.1.1.2.
2.1.2.
2.2.
2.2.1.
2.2.2.
2.2.3.
2.2.3.1.

1


2.2.3.2.
2.2.4.

Đối với lao động là người tàn tật

chế kinh tế thị trường, đồng thời tận dụng lợi thế để phát triển, tiến kịp khu
vực và thế giới.
Nhận thức rõ tầm quan trọng của vấn đề, chiến lược phát triển kinh tế
- xã hội Việt Nam giai đoạn 2001 - 2010 đã được thông qua tại Đại hội đại
biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng: "Giải quyết việc làm là yếu tố quyết định
để phát huy nhân tố con người, ổn định và phát triển kinh tế, làm lành mạnh
xã hội, đáp ứng nguyện vọng chính đáng và yêu cầu bức xúc của nhân dân".
Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X cũng đã xác định rõ: "Phát
triển thị trường lao động trong mọi khu vực kinh tế, tạo sự gắn kết cung - cầu
lao động, phát huy tính tích cực của người lao động trong học nghề, tự tạo và
tìm việc làm".
Trong những năm qua, các cơ chế, chính sách về lao động - việc làm
được kịp thời đánh giá, bổ sung và sửa đổi bảo đảm ngày càng thông thoáng,
phù hợp với cơ chế thị trường và hội nhập, đảm bảo quyền và lợi ích của
người lao động, người sử dụng lao động và tuân thủ các quy luật kinh tế thị
trường. Hệ thống các văn bản quản lý nhà nước về lao động - việc làm ngày
càng hoàn thiện, nhiều luật mới ra đời và đi vào cuộc sống, nhiều văn bản
hướng dẫn được ban hành nhằm từng bước hoàn thiện thể chế, tạo hành lang
pháp lý cho các hoạt động trong lĩnh vực lao động - việc làm. Nhằm hạn chế
những tác động tiêu cực của thị trường, Nhà nước đã ban hành các chính sách

3


cho nhóm lao động yếu thế, góp phần hỗ trợ người lao động tạo việc làm,
nhanh chóng ổn định cuộc sống.
Hòa theo xu thế chung của thời đại, Việt Nam đã gia nhập và chính
thức là thành viên thứ 150 của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO). Hội
nhập kinh tế quốc tế, bên cạnh các cơ hội, chúng ta cũng phải đối mặt với
những thách thức to lớn tác động tới việc làm và giải quyết việc làm cho

thảo về vấn đề này. Cụ thể như Báo cáo kết quả thực hiện Chương trình mục
tiêu quốc gia xóa đói giảm nghèo và việc làm các năm 2001 - 2005; Đánh giá
thực trạng xây dựng và thực hiện các chính sách việc làm ở Việt Nam năm
2008; Chương trình Luận cứ khoa học xây dựng Chiến lược Việc làm Việt
Nam và phát triển quan hệ lao động năm 2009; Hội thảo Chính sách việc làm,
thị trường lao động và đề xuất nghiên cứu xây dựng Luật Việc làm, Hà Nội...
Nhận thức được vai trò và tầm quan trọng của việc làm và giải quyết việc
làm, đã có nhiều tác giả quan tâm, tìm hiểu và nghiên cứu ở nhiều góc độ, khía
cạnh. Dưới góc độ pháp luật thì cho đến nay đã có một số tác giả công bố các tác
phẩm khoa học nghiên cứu một vấn đề, khía cạnh, bộ phận hay một số quy định
pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm chẳng hạn như TS. Lê Thị Hoài
Thu, "Vấn đề xây dựng pháp luật về bảo hiểm thất nghiệp ở Việt Nam", Tạp chí
Nhà nước và Pháp luật, số 11, 2002; PGS.TS Phạm Công Trứ, "Một số vấn đề
pháp lý về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam", Tạp chí Nhà nước và
pháp luật, số 6, 2003; ThS. Bùi Thị Kim Ngân, "Hướng hoàn thiện những quy
định của pháp luật về lao động nữ", Tạp chí Khoa học pháp lý, số 3, 2004; Phạm
Kim Nhuận, "Quản lý cho vay Quỹ quốc gia hỗ trợ việc làm của Ngân hàng
chính sách xã hội và những kiến nghị", Tạp chí Lao động Xã hội, số 265, 2005;
TS Nguyễn Hữu Chí, "Quỹ bảo hiểm xã hội và một số vấn đề về bảo toàn, phát
triển Quỹ bảo hiểm xã hội", Tạp chí Nhà nước và pháp luật, số 6, 2006; TS.
Nguyễn Hữu Chí, "Vai trò của Nhà nước trong lĩnh vực giải quyết việc làm", Tạp
chí Nhà nước và pháp luật, số 1, 2006; ThS. Phạm Trọng Nghĩa, "Pháp luật lao
động trong quá trình toàn cầu hóa", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 11(135),
2008; TS. Lưu Bình Nhưỡng, "Thực tiễn áp dụng Bộ luật Lao động và hướng
hoàn thiện pháp luật lao động", Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 5(142), 2009;
TS. Phạm Đình Thành, "Việc làm và chính sách thị trường lao động", Tạp chí
Bảo hiểm xã hội, số 2B

5


làm, pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm;
+

Nghiên cứu các quy định của pháp luật lao động về trách nhiệm của

Nhà nước, của người sử dụng lao động, của tổ chức dịch vụ việc làm, việc
làm cho lao động đặc thù cũng như thực trạng pháp luật trong lĩnh vực việc
làm và giải quyết việc làm;
+

Nghiên cứu tổng quát bối cảnh hội nhập quốc tế, trong nước, cơ hội

và thách thức cũng như thực trạng về việc làm, giải quyết việc làm ở Việt

6


Nam, tồn tại và bất cập của pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm
trong thời kỳ hội nhập để làm rõ sự cần thiết phải hoàn thiện pháp luật lao động
về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập;

+

Đưa ra một số kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện pháp luật lao

động về việc làm và giải quyết việc làm ở Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở vận dụng những quan điểm cơ bản
của Đảng và Nhà nước ta cũng như những quy định pháp luật trong lĩnh vực
việc làm và giải quyết việc làm. Ngoài ra, luận văn vận dụng chủ nghĩa duy


các nhà nghiên cứu, những nhà hoạch định chính sách và những ai quan tâm.
7. Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội
dung của luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Khái quát chung về việc làm và giải quyết việc làm.
Chương 2: Thực trạng pháp luật lao động Việt Nam về việc làm và
giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập.
Chương 3: Hoàn thiện pháp luật lao động Việt Nam về việc làm và
giải quyết việc làm trong thời kỳ hội nhập.

8


Chương 1
KHÁI QUÁT CHUNG VỀ VIỆC LÀM VÀ GIẢI QUYẾT VIỆC LÀM

1.1. Quan niệm việc làm và giải quyết việc làm
1.1.1. Khái niệm việc làm, giải quyết việc làm
1.1.1.1. Khái niệm việc làm
Bất cứ một sinh vật nào, muốn tồn tại buộc phải tiến hành những hoạt
động nhằm tạo ra và đáp ứng những nhu cầu thiết yếu nhất đối với bản thân
và cộng đồng. Hoạt động kiếm sống là hoạt động quan trọng nhất của thế giới
sinh vật nói chung và loài người nói riêng. Không chỉ đóng vai trò duy trì
cuộc sống con người, hoạt động kiếm sống còn là cơ sở để cải tạo con người,
cải biến con người từ những sinh vật hoang dã thành những thành viên của xã
hội, làm hình thành xã hội và phát triển xã hội ngày càng văn minh, tiến bộ
hơn. Hoạt động kiếm sống của con người được gọi chung là việc làm.
Việc làm gắn liền với nhu cầu mưu sinh của mỗi cá nhân, là một trong
những vấn đề có tính chất toàn cầu, là mối quan tâm của hầu hết các quốc gia,

đưa ra. Nhưng người ta chỉ định nghĩa về người có việc làm, đó là những
người thuộc một trong các trường hợp sau đây:
-

Người đang làm một việc được trả công trong một thời gian ngắn, có

thể là một tuần lễ, một ngày.
-

Người đã có chỗ làm việc nhưng có thời gian không đi làm, tạm thời

vắng mặt trong một thời gian nhất định do ốm đau, tai nạn, tạm nghỉ việc do
tranh chấp lao động hoặc các lý do khác.
Hiện nay, theo Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) thì khái niệm việc
làm chỉ đề cập đến trong mối quan hệ với lực lượng lao động. Khi đó, việc
làm được phân thành hai loại: Có trả công (những người làm thuê, học
việc…) và không được trả công nhưng vẫn có thu nhập (giới chủ làm kinh tế
gia đình…). Vì vậy, việc làm được coi là hoạt động có ích mà không bị pháp
luật ngăn cấm có thu nhập bằng tiền (hoặc bằng hiện vật). Những người có
việc làm là những người làm một việc gì đó có được trả công, lợi nhuận, được

10


thanh toán bằng tiền hoặc hiện vật, hoặc tham gia vào các hoạt động mang
tính chất tự tạo việc làm vì lợi ích hay vì thu nhập của gia đình, không được
nhận tiền công (hiện vật).
Có thể xem xét việc làm ở hai trạng thái "động" và "tĩnh". Ở trạng thái
"động" việc làm là hoạt động của mọi tầng lớp dân cư nhằm tạo ra những thu
nhập có lợi cho cá nhân, cho cộng đồng trên cơ sở những quy định của pháp

thấy khái niệm việc làm bao gồm hai nội dung có tính điều kiện:
Nội dung thứ nhất đề cập việc làm là hoạt động lao động của con
người tạo ra nguồn thu nhập (điều kiện cần). Các hoạt động này thể hiện việc
làm luôn luôn gắn với thu nhập. Những hoạt động không mang lại thu nhập
thì không được coi là việc làm. Việc làm phải được coi là một phương kế
kiếm sống, là một hoạt động mà qua đó người ta được trả công (bằng tiền
hoặc hiện vật) và sống nhờ vào khoản tiền đó.
Nội dung thứ hai đề cập hoạt động ấy không bị pháp luật cấm (điều
kiện đủ). Nếu hoạt động lao động chỉ thỏa mãn điều kiện thứ nhất, thì dưới
góc độ pháp lý vẫn chưa đủ để coi là việc làm. Có những hoạt động tuy tạo ra
thu nhập, thậm chí rất cao nhưng không được coi là việc làm vì vi phạm điều
kiện thứ hai này như hoạt động buôn bán ma túy, chế tạo, buôn bán pháo...
Đây là một quan niệm mới về việc làm so với thời kỳ bao cấp của Việt
Nam trước đây. Việc quy định khái niệm về việc làm theo Điều 13 Bộ luật
Lao động đã làm thay đổi một cách căn bản vấn đề nhận thức về việc làm:
trước đây người ta cho rằng chỉ có làm việc trong khu vực nhà nước, khu vực
kinh tế tập thể mới được gọi là có việc làm, không thừa nhận là có việc làm
khi hoạt động ở các lĩnh vực khác; nhưng đến nay, với quan niệm này thì
người lao động đã đứng vào vị trí trung tâm, năng động và chủ động tự tạo
việc làm cho mình và cho người khác, ở tất cả các thành phần kinh tế, không
thụ động, trông chờ ỷ lại vào sự bố trí việc làm của Nhà nước. Do vậy, căn cứ
vào trong tình hình thực tiễn của Việt Nam hiện nay, quan niệm này là tương
đối đầy đủ và chính xác. Tuy nhiên, có quan điểm cho rằng đây là một quan
niệm, "chưa phải là một định nghĩa hoặc khái niệm đầy đủ về việc làm" [70].
Nó phù hợp với thực tiễn Việt Nam đang ở giai đoạn thấp của sự phát triển,
trong tương lai cần có một định nghĩa chuẩn, chất lượng hơn về việc làm.
Vì vậy, trong thời kỳ hội nhập, theo chúng tôi, để đưa ra được khái
niệm chính xác hơn về việc làm, cần tìm hiểu thêm về các khái niệm có

12

pháp luật nên thể hiện quan điểm thất nghiệp là "hiện tượng những người lao
động bị mất việc làm, có nhu cầu lao động và đang tích cực tìm việc" [60].
Trong khái niệm thất nghiệp, cũng cần lưu ý có các loại đối tượng chưa làm
việc bao giờ (thanh niên mới bước vào tuổi lao động nhưng chưa có việc làm)
và mất việc, chờ lao động, lao động dư thừa...

13


Khái niệm thiếu việc làm theo Nguyễn Hữu Dũng và Trần Hữu Trung
được hiểu là: trạng thái trung gian giữa việc làm đầy đủ và thất nghiệp. Đó là
"tình trạng có việc làm, nhưng do nguyên nhân khách quan, ngoài ý muốn của
người lao động, họ phải làm việc không hết thời gian theo luật định, hoặc làm
những công việc có thu nhập thấp, không đủ sống, muốn tìm thêm việc làm
bổ sung" [17].
Dưới giác độ của thị trường lao động, khái niệm người thất nghiệp
được định nghĩa rất khác nhau ở mỗi nước. Theo chúng tôi, dưới góc độ pháp
lý, "Người thất nghiệp là người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động,
hiện đang không có việc làm và đang đi tìm việc làm" [60]. Mặt khác, cũng
cần phân biệt giữa người không làm việc và người thất nghiệp. Về vấn đề này,
chúng tôi tán thành với ý kiến của Đỗ Năng Khánh: khái niệm "người không
làm việc" rộng hơn khái niệm "người thất nghiệp". Trong số người không làm
việc có thể bao gồm cả người thất nghiệp. Người không làm việc bao gồm cả
những người có khả năng lao động, trong độ tuổi lao động nhưng lại không có
nhu cầu tìm việc làm.
Cũng cần lưu ý rằng, khi phân tích những khái niệm trên, chúng ta
mới chỉ tính đến đối tượng nằm trong lực lượng lao động và trong độ tuổi lao
động. Theo kinh nghiệm của thế giới, để sử dụng có hiệu quả nguồn lao động,
mỗi quốc gia phải lập sơ đồ lực lượng lao động riêng của mình. Việt Nam có
thể vận dụng kinh nghiệm quốc tế, nhưng có thể lấy tuổi giới hạn "từ 15 đến

về quản lý điều hành, về thị trường các yếu tố đầu vào và đầu ra của sản xuất,
các biện pháp khai thác có hiệu quả các nguồn lực, duy trì và nâng cao chất
lượng của sức lao động, kinh nghiệm quản lý của người sử dụng lao động...
Bốn khâu này có liên quan chặt chẽ với nhau và hễ trục trặc ở một
khâu nào là ảnh hưởng tới tạo việc làm.
Giải quyết việc làm là vấn đề kinh tế - xã hội tổng hợp và phức tạp
không chỉ là vấn đề "kinh tế" hay "xã hội" đơn thuần. Vì vậy, nó phải được
hiểu theo nội dung mới, bao hàm cả phạm vi rộng và phạm vi hẹp.
Trên phạm vi rộng, giải quyết việc làm bao gồm những vấn đề liên
quan đến phát triển nguồn nhân lực và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực.
Tức là quá trình đó diễn ra bắt nguồn từ vấn đề giáo dục, đào tạo và phổ cập
nghề, chuẩn bị cho người lao động bước vào cuộc đời lao động (lập thân lập
nghiệp), đến vấn đề tự do lao động và hưởng thụ xứng đáng giá trị mà lao

16


động sáng tạo ra, cải thiện và nâng cao chất lượng cuộc sống. Với nội dung
này, vấn đề giải quyết việc làm gắn rất chặt và được thực hiện thông qua các
chương trình phát triển kinh tế. Do đó, giải quyết việc làm theo nghĩa này
mang nội dung kinh tế là chính. Việc sử dụng lao động được hướng vào mục
tiêu tăng trưởng kinh tế và trở thành yếu tố của tăng trưởng kinh tế. Công
nghệ được lựa chọn ở đây là công nghệ ở tầng cao, công nghệ mũi nhọn, sử
dụng lao động kỹ thuật cao để đảm bảo tốc độ tăng trưởng kinh tế cao.
Còn theo nghĩa hẹp, giải quyết việc làm chủ yếu hướng vào đối tượng và
mục tiêu giảm tỷ lệ thất nghiệp (chống thất nghiệp), khắc phục tình trạng thiếu
việc làm, nâng cao hiệu quả việc làm và tăng thu nhập. Tức là, chỉ giới hạn nội
dung giải quyết việc làm trong khuôn khổ và phạm vi của chính sách xã hội. Ở
đây mục tiêu của việc làm là để giải quyết vấn đề xã hội, góp phần ổn định và an
toàn xã hội. Với nội dung này, giải quyết việc làm được tách khỏi chương trình

nhiều quốc gia, kể cả các nước phát triển và đang phát triển. Điều này không
chỉ có ý nghĩa đối với một bộ phận dân cư, những người thiếu việc làm và thất
nghiệp mà quan trọng hơn, nó tác động đến sự tăng trưởng và phát triển kinh
tế. Xét về mặt kinh tế, thất nghiệp gắn rất chặt với nghèo đói. Tỷ lệ thất
nghiệp cao không những gây thiệt hại lớn cho nền kinh tế mà còn gây khó
khăn cho cuộc sống cá nhân người lao động.
Những người thất nghiệp tuy không sản xuất ra sản phẩm, nhưng vẫn
phải tiêu dùng một lượng hàng hóa nhất định, đặc biệt ở độ tuổi trưởng thành,
mức tiêu dùng thường lớn hơn độ tuổi khác. Nếu, số người thất nghiệp đó
được làm việc họ sẽ tạo ra một lượng giá trị tối thiểu mà họ tiêu dùng, thì mỗi
năm Nhà nước sẽ không phải thiệt hại hàng nghìn tỷ đồng do thất nghiệp gây
nên (chẳng hạn, phải chi trả trợ cấp cho người thất nghiệp…). Thất nghiệp
không chỉ ảnh hưởng đến nền kinh tế quốc gia, mà còn trực tiếp ảnh hưởng
đến cuộc sống của những người thất nghiệp. Họ phải sống nhờ vào nguồn thu
nhập của những người khác trong gia đình hoặc xã hội (nếu nhà nước có trợ
cấp thất nghiệp) và hơn nữa đôi khi họ là những người chủ trong gia đình,
nguồn thu nhập của họ ảnh hưởng rất lớn đến kinh tế gia đình.


Việt Nam hiện nay, giải quyết việc làm cho người lao động trước

hết sẽ tạo điều kiện để khai thác được tối đa những nguồn lực quan trọng còn
đang tiềm ẩn như tài nguyên vốn, ngành nghề.... thông qua lao động của con

18


người. Khi người lao động có việc làm sẽ mang lại thu nhập cho bản thân họ
và từ đó tạo ra tích lũy, Nhà nước không những không phải chi trợ cấp cho
những người không có việc làm mà khi giải quyết việc làm cho họ, họ có thể

Giải quyết việc làm gắn liền với quá trình phân công lao động theo
ngành và theo lãnh thổ. Nếu như không có các biện pháp tạo mở việc làm hợp
lý cho khu vực nông thôn, nhiều người lao động ở khu vực này sẽ ra thành thị
để tìm việc làm, gây sức ép cho khu vực thành thị trên tất cả các mặt như: nhà
cửa, điện nước, y tế, thậm chí gây ra cả những rối loạn về mặt xã hội.
Giải quyết việc làm trên phạm vi rộng còn bao gồm cả những vấn đề
liên quan đến phát triển nguồn lực và sử dụng có hiệu quả nguồn lao động.
Trên giác độ này, giải quyết việc làm góp phần nâng cao chất lượng nguồn lao
động nhằm đáp ứng những yêu cầu của thị trường, đồng thời xây dựng nguồn
lực lâu dài cho đất nước.
Về mặt pháp lý, vấn đề việc làm gắn liền với chế độ lao động, quan hệ
việc làm được coi là quan hệ "tiền quan hệ lao động" và đóng vai trò quyết
định cho việc hình thành, phát triển và ổn định quan hệ lao động. Nếu nhìn
nhận việc làm và giải quyết việc làm là một nhánh trong hệ thống lao động xã
hội thì sự ra đời của chế định này làm cho quyền được làm việc của con người
được nâng lên một bước. Việc xây dựng và tiến tới hoàn thiện pháp luật về
việc làm và giải quyết việc làm là hết sức cần thiết, đây cũng là một trong
những quyền cơ bản của con người. Tại Điều 23 Tuyên ngôn thế giới về nhân
quyền ghi nhận: "Mọi người đều có quyền làm việc, tự do chọn nghề, được có
những điều kiện làm việc thuận lợi và chính đáng và được bảo vệ chống thất
nghiệp" [29]. Ông Rơ-nê Đuy-mông, một chuyên gia người Pháp trong cuốn
"Một thế giới không thể chấp nhận được" đã nói: "Đối với tôi, dù màu sắc
chính trị thế nào, quyền đầu tiên của con người là quyền được sống, quyền
được ăn, sinh ra từ quyền làm việc; nếu con người bị khai trừ ra khỏi xã hội
hiện đại, bị tước quyền được làm việc là một hình thức ám sát trá hình" [60].


nước ta, quyền có việc làm là một trong những quyền cơ bản hàng

đầu của công dân được ghi trong các bản Hiến pháp. Lịch sử 61 năm xây

việc làm
Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật về việc làm và giải quyết việc
làm được hiểu là những phương hướng, tư tưởng chủ đạo, xuyên suốt và chi
phối toàn bộ hệ thống các quy phạm về việc làm và giải quyết việc làm.

21


Pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm đã và đang tồn tại ở nhiều
quốc gia. Mục tiêu của giải quyết việc làm ở các nước nhìn chung đều giống
nhau: chống thất nghiệp, tăng thu nhập, sử dụng tối đa tiềm năng xã hội, nâng
cao đời sống và tăng trưởng kinh tế.
Để quy định và điều chỉnh lĩnh vực việc làm và giải quyết việc làm,
pháp luật lao động về việc làm và giải quyết việc làm cần phải áp dụng và
tuân thủ một số nguyên tắc sau đây.
1.2.1. Đảm bảo quyền và nghĩa vụ lao động của công dân
Pháp luật về việc làm và giải quyết việc làm phải bảo đảm mọi người
đều có quyền làm việc, tự do lựa chọn việc làm và nghề nghiệp, học nghề và
nâng cao trình độ nghề nghiệp, không bị phân biệt đối xử về giới tính, dân tộc,
thành phần xã hội, tín ngưỡng, tôn giáo. Mọi hoạt động tạo ra việc làm, tự tạo
việc làm, dạy nghề và học nghề để có việc làm, mọi hoạt động sản xuất, kinh
doanh thu hút nhiều lao động đều được Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện
thuận lợi hoặc giúp đỡ. Tại Điều 23 Tuyên ngôn thế giới về nhân quyền đã ghi
nhận: "Mọi người đều có quyền làm việc, tự do chọn nghề, được có những
điều kiện làm việc thuận lợi và chính đáng và được bảo vệ chống thất
nghiệp". Hiến pháp sửa đổi bổ sung năm 2001 của nước ta cũng khẳng định
quyền làm việc là quyền cơ bản của công dân: "Lao động là quyền và nghĩa
vụ của công dân. Nhà nước và xã hội có kế hoạch tạo ngày càng nhiều việc
làm cho người lao động" (Điều 53), mọi công dân có quyền trong việc lựa
chọn hình thức việc làm hợp pháp. Đồng thời nguyên tắc này đã được quy

đủ các điều kiện về vốn, tư liệu sản xuất, công nghệ kỹ thuật, khả năng kinh
doanh. Ngược lại, người lao động lại rơi vào vị thế yếu, họ chỉ có một tài sản
duy nhất đó là sức lao động để đổi lấy thu nhập, đảm bảo cuộc sống. Chính vì
vậy mà trong quá trình lao động, người sử dụng lao động không được dùng vị
thế kinh tế của mình để ép buộc, cưỡng bức, ngược đãi người lao động phải
làm việc theo ý muốn của mình trái với quy định của pháp luật, vi phạm
quyền con người. Nguyên tắc này hoàn toàn phù hợp với quy định tại khoản
2, khoản 3 Điều 8 Công ước quốc tế về các quyền dân sự và chính trị của Liên
hợp quốc mà Việt Nam gia nhập ngày 24 tháng 9 năm 1982 là:

23


2.

Không một người nào có thể bị bắt làm nô dịch

3.
a) Không được đòi hỏi bất kỳ một người nào phải lao
động bắt buộc hoặc cưỡng bức [29].
1.2.4. Bình đẳng trong lĩnh vực việc làm
Nguyên tắc này được quy định trong Hiến pháp 1992 và Điều 5, Điều 7,
Điều 13 của Bộ luật lao động, thể hiện ở các lĩnh vực chủ yếu: Mọi công dân đều
có quyền bình đẳng về cơ hội có việc làm, được đối xử bình đẳng đối với mọi
việc làm và được trả công ngang nhau đối với mọi công việc như nhau.

Điều 63 Hiến pháp 1992 quy định: "Công dân nam nữ có quyền
ngang nhau về mọi mặt chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và gia đình. Nghiêm
cấm mọi hành vi phân biệt đối xử với phụ nữ, xúc phạm nhân phẩm phụ nữ.
Lao động nữ và nam làm việc như nhau thì tiền lương ngang nhau". Bình


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status