VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ HẢI ANH
CHÍNH SÁCH SONG NGỮ CỦA SINGAPORE
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Chuyên ngành:
Mã số:
Chính sách công
60.34.04.02
LUẬN VĂN THẠC SĨ CHÍNH SÁCH CÔNG
NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC:
TS. NGUYỄN THỊ BÍCH HẠNH
HÀ NỘI - 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn
Thạc sĩ Chính sách công “Chính sách song ngữ của Singapore và bài học cho
Việt Nam trong thời kỳ hội nhập” là hoàn toàn trung thực, các trích dẫn có
nguồn gốc cụ thể và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này.
Tác giả luận văn
SINGAPORE
2.1. Giới thiệu chung về Singapore ........................................................... 31
2.2. Thể chế chính trị ................................................................................. 32
2.3. Thiết kế chính sách song ngữ của Singapore...................................... 36
2.4. Vấn đề của chính sách song ngữ ......................................................... 37
2.5. Mục tiêu của chính sách ...................................................................... 39
2.6. Quan điểm về chính sách song ngữ của Singapore ............................ 41
2.7. Các giải pháp của chính sách song ngữ của Singapore ...................... 44
2.8. Kết quả thực hiện chính sách song ngữ của Singapore ...................... 49
2.9. Những khó khăn và thuận lợi.............................................................. 53
2.10. Hạn chế của chính sách ....................................................................... 54
CHƢƠNG 3: NHỮNG HÀM Ý CHÍNH SÁCH SONG NGỮ CHO VIỆT
NAM TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP ...................................................... 58
3.1. Cảnh huống ngôn ngữ và Đề án dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống
giáo dục quốc dân 2008 – 2020 ................................................................... 58
3.2. Những hàm ý cho chính sách song ngữ tại Việt Nam trong thời kỳ hội
nhập ............................................................................................................. 62
KẾT LUẬN.................................................................................................. 69
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................... 71
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngoại ngữ là cầu nối cho mọi sự phát triển, nhưng lâu nay nước ta chưa
chú trọng vấn đề đào tạo ngoại ngữ. Anh ngữ là vấn đề mở, không chỉ Việt
Nam mà cả thế giới, trong đó có Trung Quốc, cũng rất quan tâm. Cộng đồng
ASEAN đã hình thành, chúng ta không thể "gò bó" trong tiếng mẹ đẻ cũng
như không thể bắt 9 quốc gia nội khối phải nói Tiếng Việt. Cố Thủ tướng
Singapore Lý Quang Diệu từng khuyên Việt Nam phải nói Tiếng Anh, bởi cơ
hội phát triển chỉ đến khi Tiếng Anh là ngôn ngữ chính [39]. Việc người
Đức; Sri Lanka với 3 ngôn ngữ chính được quy định rõ trong Hiến pháp:
Sinhala, Tamil và Tiếng Anh; Canada là quốc gia song ngữ, sử dụng đồng
thời cả 2 ngôn ngữ chính thức là Tiếng Anh và Tiếng Pháp. 8 trong 10 người
Canada đồng ý rằng, việc sử dụng hai ngôn ngữ chính thức là điểm đặc trưng
của quốc gia và có tác động tích cực đến hình ảnh quốc tế của Canada.
Theo như các điều tra trên, có thể thấy không chỉ có quốc gia đa sắc tộc
mới duy trì chính sách song ngữ và việc nghiên cứu về vấn đề này đã, đang và
sẽ là vấn đề lớn của nhiều quốc gia trong khu vực và trên thế giới.
Quá trình cải cách của Việt Nam những năm gần đây và cách thức hội
nhập có phần tương tự Singapore. Hội tụ và kết nối trở thành chiến lược hội
nhập của Việt Nam. Tuy nhiên, môi trường đào tạo khác nhau dẫn tới kết quả
khác nhau. Nhìn lại hệ thống giáo dục từ khi nước ta thành lập đến nay, chính
sách đào tạo thay đổi liên tục theo quan điểm chính trị, nên suốt một thời gian
dài, ngoại ngữ không được chú ý đúng mức. Hiện tại, trong hệ thống giáo dục
nhà nước, Anh ngữ là một trong những môn học bắt buộc ở cấp THCS và
THPT. Điều đáng tiếc là sau 7 năm học, không phải học sinh nào cũng có thể
giao tiếp được, một số có thể đọc hiểu và dịch, nhưng nói thì người bản ngữ
cũng khó hiểu. Thực tế, trong các trường học vẫn phổ biến cách dạy truyền
2
thống, vẫn chủ yếu đọc theo cô giáo, hiểu theo sách, không chú ý đến ứng
dụng thực tế. Cách dạy này dẫn đến trình độ Anh ngữ của học sinh, sinh viên
yếu kém, nhưng sai lầm đó lâu nay tránh nói đến. Các trung tâm đào tạo ngoại
ngữ đã nhìn ra khiếm khuyết trong đào tạo Anh ngữ của nước ta và họ đẩy
mạnh "kinh doanh giáo dục" trên chính khiếm khuyết đó. Người dạy hướng
dẫn, giúp người học phát huy được khả năng, điều mà hệ thống đào tạo của
nước ta đang thiếu. Sự thiếu này có thể hiểu theo khía cạnh: Muốn dạy tốt,
phải có giáo viên tốt, mà muốn có giáo viên tốt thì phải có hệ thống đào tạo
tốt. Xét một cách khách quan, chất lượng giáo viên dạy Anh ngữ tại các
Trong công trình này, ông đã tổng hợp tình hình nghiên cứu và giáo dục song
ngữ của một số khu vực và quốc gia đa ngôn ngữ, đa dân tộc, nghiên cứu về
cá thể song ngữ; xã hội song ngữ; giáo dục song ngữ; cơ sở tâm lý học của
giáo dục song ngữ; tổ chức và thực hiện giáo dục song ngữ; và kết quả của
giáo dục song ngữ… Công trình này đã đánh dấu bước nghiên cứu đầu tiên
của giáo dục song ngữ để nó có thể trở thành một bộ môn khoa học độc lập.
Vào những năm 1980, Tác giả Nikolskij trong nghiên cứu “Chính sách
ngôn ngữ ở các nước Á – Phi” đã đưa ra vấn đề vai trò của ngôn ngữ và chính
sách ngôn ngữ tại các nước Á – Phi: “ Về mặt xã hội, chính sách ngôn ngữ là
một bộ phận trong chính sách đối nội của giai cấp thống trị nhà nước trong
một quốc gia nhất định” [24] Những tác giả như Antonell Sorace và
Madeleine Beveridge - Trường Đại Học Edinburgh - Information for policy
makers working with bilingual families đã có những nghiên cứu rất cụ thể với
từng nhiều tình huống thực tế trong việc áp dụng song ngữ tại nhiều quốc gia.
L. Quentin Dixon - Harvard University Graduate School of Education với
nghiên cứu: The Billingual Education Policy in Singapore – Implication for
4
Second Language Acquisition tại Đại học Harvard đã có các lý thuyết cụ thể
về "tiếng mẹ đẻ" - những ngôn ngữ này có thể không phải là ngôn ngữ chính
của học sinh và kết quả là nhiều học sinh đang học hai thứ tiếng mẹ đẻ ở
trường. Và đưa ra các giải đáp cho các câu hỏi như: những giả định nào về
việc đưa ra ngôn ngữ thứ hai, song ngữ và lập kế hoạch ngôn ngữ là nền tảng
cho chính sách giáo dục song ngữ của Singapore? Trường hợp của Singapore
có thể là quy chiếu cho các lý thuyết hiện tại trong việc đưa ra ngôn ngữ thứ
hai và cũng như lập kế hoạch ngôn ngữ như thế nào? [27]
2.2. Các nghiên cứu trong nước
Ở Việt Nam, chính sách song ngữ chủ yếu chú trọng việc giáo dục song
song tiếng mẹ đẻ (tiếng dân tộc) với tiếng phổ thông (ngôn ngữ quốc gia). Sau
vấn đề cơ bản của ngôn ngữ học xã hội vĩ mô với các nội dung như: Cơ sở lý
thuyết về chính sách ngôn ngữ và lập pháp ngôn ngữ ở Việt Nam; kinh
nghiệm về xây dựng chính sách ngôn ngữ và lập pháp ngôn ngữ của các quốc
gia trên thế giới; tổng quan các chính sách ngôn ngữ và lập pháp ngôn ngữ
của Việt Nam, trên cơ sở đó, tác giả đưa ra những vấn đề về chính sách ngôn
ngữ cho giai đoạn hiện nay.
Ở cấp độ luận văn, luận án, đã có một số tác giả nghiên cứu về cảnh
huống ngôn ngữ hoặc chính sách ngôn ngữ đối với tiểu vùng. Ở khía cạnh
hẹp, liên quan đến nghiên cứu chính sách ngôn ngữ, tác giả Trần Thị Phương
Nguyên trong luận án tiến sĩ “Cảnh huống ngôn ngữ ở cộng đồng Chăm tại
thành phố Hồ Chí Minh” (2014) đã dựa trên hướng nghiên cứu đa ngữ xã hội
để làm rõ cảnh huống ngôn ngữ của cộng đồng Chăm tại thành phố Hồ Chí
Minh xét theo các tiêu chí: lượng, chất, và thái độ ngôn ngữ. Kết quả nghiên
cứu có thể làm cơ sở cho việc hoạch định chính sách, hướng tới mục tiêu phát
triển bền vững về mọi mặt của Thành phố Hồ Chí Minh. Tác giả Đinh Ngọc
Minh với luận văn thạc sĩ “Cảnh huống ngôn ngữ trên địa bàn Song Pe – Bắc
6
Yên – Sơn La” (2014) đã tập trung nghiên cứu trường hợp về tình hình sử
dụng ngôn ngữ của người Mường ở địa bàn Song Pe – Bắc Yên - Sơn La
dưới khía cạnh ý thức tự giác tộc người và vấn đề tiếng mẹ đẻ của người
Mường Song Pe; vấn đề sử dụng ngôn ngữ của học sinh người Mường và thái
độ ngôn ngữ của phụ huynh và học sinh đối với việc sử dụng ngôn ngữ trong
nhà trường.
Nghiên cứu về chính sách giáo dục song ngữ, có thể kể đến luận văn
thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Trang (2015): “Chính sách giáo dục song ngữ ở
vùng dân tộc thiểu số Trung Quốc từ cải cách mở cửa đến nay”. Trong công
trình này, tác giả đã làm rõ các nội hàm khái niệm về chính sách ngôn ngữ,
giáo dục song ngữ, và cảnh huống ngôn ngữ; đi sâu vào nghiên cứu thực tiễn
Nghiên cứu những khái niệm về chính sách ngôn ngữ, song ngữ và
chính sách song ngữ của Singapore trong những năm qua (chính sách đó đã
xuất hiện trong thời kỳ nào, những mặt tích cực và hạn chế và giải pháp nhằm
tìm ra hướng đi mới đúng đắn hơn và thành công hơn);
Nêu ra những thành tựu giáo dục của Singapore như là kết quả của
chính sách giáo dục của chính phủ;
Từ chính sách và thành tựu của Singapore, có thể rút ra một số hàm ý
chính sách cho Việt Nam. Vì hai nước cùng nằm trong khu vực Đông Nam Á,
cùng nằm trong khối ASEAN, ASEM với đối thoại 3 nòng cốt (Đối thoại
chính trị, anh ninh và kinh tế, văn hoá và giáo dục),… đồng thời quá trình cải
cách của Việt Nam những năm gần đây và cách thức hội nhập có phần tương
tự Singapore.
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
Trong luận văn này, đối tượng nghiên cứu là chính sách song ngữ và
thành tựu tiêu biểu của chính sách song ngữ tại Singapore khi tách khỏi Liên
bang Malaysia cho đến nay và các kinh nghiệm mà từ đó, Việt Nam có thể
8
học tập từ Singapore. Do đó, phạm vi nghiên cứu của luận văn không chỉ trình
bày về chính sách song ngữ tại Singapore mà cũng mở rộng sang cả những
vấn đề về chính sách ngoại ngữ tại Việt Nam.
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
Luận văn vận dụng cách tiếp cận đa ngành, liên ngành xã hội học, ngôn
ngữ học và triệt để vận dụng phương pháp nghiên cứu chính sách công. Đó là
phương pháp tổng hợp để thu thập, phân tích và khai thác thông tin từ các
nguồn tài liệu thứ cấp liên quan đến đề tài nghiên cứu, bao gồm các tài liệu
liên quan đến chính sách ngôn ngữ, chính sách song ngữ của Singapore và các
công trình nghiên cứu của các học giả nước ngoài về sự thành công của chính
sách này..., các tài liệu, văn kiện, các công trình nghiên cứu trong nước liên
một nền tảng nhân lực cao trong thời kỳ hội nhập và phát triển.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo, phụ lục,
nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1. Lý luận về chính sách ngôn ngữ và khái niệm về chính sách
song ngữ.
Chương 2. Thực tiễn chính sách song ngữ của Singapore.
Chương 3. Những hàm ý chính sách song ngữ cho Việt Nam trong thời
kỳ hội nhập.
10
Chƣơng 1
LÝ LUẬN VỀ CHÍNH SÁCH NGÔN NGỮ VÀ
KHÁI NIỆM VỀ CHÍNH SÁCH SONG NGỮ
1.1. Khái niệm về chính sách và chính sách ngôn ngữ
1.1.1. Khái niệm về chính sách
Đối với khái niệm về chính sách - ở đây được hiểu là chính sách công.
Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về chính sách. Theo Từ điển Bách khoa
Việt nam, chính sách được xem như một thuật ngữ chuyên ngành chính trị:
“Là chuẩn tắc cụ thể để thực hiện đường lối, nhiệm vụ; được thực hiện trong
thời gian nhất định, trên những lĩnh vực cụ thể nào đó…” [11; tr.11].
Một số các tài liệu nước ngoài như Advance English Dictionary có đưa
ra định nghĩa về chính sách: được hiểu là kế hoạch hành động, sự trình bày
những ý tưởng,…do một chính phủ, đảng chính trị, tổ chức doanh nghiệp,…
đưa ra hoặc áp dụng; hay Words Finder: Chính sách là một tiến trình hay
chuẩn tắc của các hành động được lựa chọn hoặc đề nghị bởi chính phủ, tổ
chức, doanh nghiệp hoặc cá nhân. [11; tr.12]
Qua nghiên cứu, khái niệm chính sách công theo quan điểm hiện đại và
các mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu đã đặt ra.
1.1.3. Cơ sở ra đời của chính sách ngôn ngữ
1.1.3.1. Cơ sở xã hội
Chính sách ngôn ngữ chính là sự can thiệp của chính phủ vào ngôn ngữ
nhằm xử lý mối quan hệ giữa ngôn ngữ với con người và xã hội. Việc lựa
chọn sử dụng ngôn ngữ như thế nào hay sử dụng bao nhiêu ngôn ngữ trong
một quốc gia,… chính là cơ sở của chính sách ngôn ngữ.
Đối với đời sống con người, ngôn ngữ có một vai trò vô cùng quan
trọng – là phương tiện giao tiếp và tư duy. Vậy, muốn xây dựng và phát triển
cá nhân con người – icon của quốc gia – cần phải có sự điều chỉnh cụ thể và
12
tiến bộ của các chính sách ngôn ngữ. Đối với cộng đồng xã hội, ngôn ngữ là
phương tiện gắn kết xã hội. Chính vì điều này, xã hội lại quay trở lại điều
chỉnh ngôn ngữ, hệ thống hoá, quy chuẩn hoá để ngôn ngữ có thể phục vụ
cộng đồng xã hội hiệu quả hơn. Nhưng quy định từ xã hội về ngôn ngữ chính
là nền tảng của chính sách ngôn ngữ. Rộng hơn, đối với dân tộc, quốc gia,
ngôn ngữ chính là tiêu chuẩn của tự trị, là biểu tượng về mọi lĩnh vực trong
một quốc gia. Vì vậy, việc đưa ra các chính sách ngôn ngữ hiệu quả và phù
hợp với quốc gia đồng thời cũng phù hợp với xu thế của toàn cầu hoá luôn là
cơ sở nền tảng để xây dựng một nhà nước văn minh và phát triển.
Chính sách ngôn ngữ không chỉ liên quan chặt chẽ đến các vấn đề như dân
tộc, tôn giáo, văn hoá, an ninh, quốc ph ng,… mà c n gắn với quyền lợi
chính trị, lợi ích quốc gia khi sử dụng một ngôn ngữ chung bên cạnh ngôn
ngữ quốc gia.
1.3.1.2. Cơ sở ngôn ngữ học
Nguyễn Văn Khang trong “Chính sách ngôn ngữ và lập pháp ngôn ngữ
tại Việt Nam” [11] cho rằng, chính sách ngôn ngữ được xây dựng trên nền
tảng: sự lựa chọn ngôn ngữ. Sự lựa chọn này bao gồm:
(ii) Chính sách thừa nhận địa vị khác nhau của các ngôn ngữ
Chính sách này cho phép cùng tồn tại các nhóm ngôn ngữ tại một quốc
gia theo các địa vị khác nhau. Nói cách khác, đây là chính sách đa ngữ và
giáo dục đa ngữ. Điển hình của việc áp dụng chính sách này là Singapore. Với
chính sách ngôn ngữ song ngữ, người dân Singapore sử dụng Tiếng Anh và
tiếng mẹ đẻ: Tiếng Hoa, Tamil và Melayu.
(iii)Chính sách ngôn ngữ không can thiệp
Chính sách này để cho ngôn ngữ tự phát triển và nhà nước không can
thiệp vào đời sống của mỗi ngôn ngữ cũng như giữa các ngôn ngữ. Chính
14
sách được thể hiện khá rõ ở Canada với việc người dân mong muốn giữ gìn
tiếng Pháp song hành cùng Tiếng Anh.
(iv) Chính sách bình ổn ngôn ngữ quốc gia
Chính sách này tôn vinh ngôn ngữ quốc gia. Đây chính là chính sách
một ngôn ngữ trong một quốc gia. Việc điều chỉnh ngôn ngữ của các quốc gia
này được thực hiện thông qua việc thể chế hoá hoặc các con đường gián tiếp
khác. Chính vì vậy, chính sách ngôn ngữ có hai hình thức: chính sách ngôn
ngữ hiện – thể hiện qua pháp luật và chính sách ngôn ngữ ẩn – thể hiện qua
các hình thức tuyên truyền về văn hoá, xã hội.
(v) Chính sách ngôn ngữ khu vực
Chính sách này thừa nhận quyền lãnh thổ của mọi ngôn ngữ thành viên
trong cộng đồng, lấy phạm vi sử dụng ngôn ngữ làm giới hạn.
(vi) Chính sách quốc tế hoá ngôn ngữ
Chính sách này lựa chọn một ngôn ngữ thông tin rộng lớn mang tính
quốc tế. Ví dụ: chính sách ngôn ngữ trong cộng đồng các nước nói tiếng Pháp
– Francophone…
b. Các mô hình chính sách thời kỳ toàn cầu hoá
Và vì chính sách ngôn ngữ là chính sách công, nên chủ thể của chính
sách không ai khác chính là Nhà nước với vai trò hoạch định, quyết định, thực
hiện, giám sát và đánh giá chính sách.
(iii)Chính sách ngôn ngữ nhỏ hơn quốc gia và chính sách ngôn ngữ
lớn hơn quốc gia
Chính sách ngôn ngữ là chính sách nằm trong phạm vi một quốc gia.
Chính sách ngôn ngữ nhỏ hơn quốc gia mang tính vùng miền của một quốc
gia nhưng không mâu thuẫn với chính sách ngôn ngữ của quốc gia đó.
Chính sách ngôn ngữ xuyên quốc gia là chính sách ngôn ngữ của một
nhóm quốc gia có những đặc điểm chung về mặt ngôn ngữ.
16
1.2. Khái niệm về song ngữ và chính sách giáo dục song ngữ
1.2.1. Khái niệm song ngữ và hiện tượng song ngữ
Song ngữ (Bilingual) được hiểu là việc sử dụng song song hai ngôn
ngữ. Người sử dụng song ngữ tức là người có thể sử dụng hai ngôn ngữ song
song trong cuộc sống hàng ngày bao gồm: nghe, nói đọc, viết và hơn thế nữa
là có thể cảm nhận bằng cả hai ngôn ngữ đó. Phần lớn, những người sử dụng
song ngữ thường có kiến thức ngôn ngữ và năng lực ngôn ngữ thứ nhất – hay
c n được gọi là tiếng mẹ đẻ hơn ngôn ngữ thứ hai. Tuy nhiên, cũng có phần
không nhỏ, có thể sử dụng cả hai thứ tiếng song song bằng nhau; điều này xảy
ra với những người không có tiếng mẹ đẻ (SWONAL – Speaker Without A
Native Language). Những người không có tiếng mẹ đẻ là những cá nhân bị
thay đổi ngôn ngữ liên tục khi còn bé do quá trình di chuyển hoặc do sự kết
hôn giữa các dân tộc khác nhau tạo nên.
Hiện tượng song ngữ (Bilingualism) là hiện tượng một người, một khu
vực hay một dân tộc sử dụng song song hai ngôn ngữ cùng một lúc. Như vậy,
có thể thấy rằng hiện tượng song ngữ có thể chia thành hiện tượng song ngữ
cá thể và hiện tượng song ngữ xã hội.
là hệ thống song ngữ, nhưng trên thực tế học sinh phải tiếp nhận song ngữ để
trở thành người thạo ngoại ngữ thì vẫn được công nhận là hệ thống giáo dục
song ngữ.
- Trong giáo trình đào tạo của hệ thống giáo dục song ngữ, có cả
chương trình giảng dạy ngôn ngữ khác thì cũng không thể coi là giáo dục
song ngữ.
Xã hội không ngừng phát triển, giao lưu quốc tế ngày càng mở rộng,
người song ngữ, hiện tượng song ngữ xuất hiện ngày càng nhiều. Đây chính
là xu thế tất yếu của xã hội trong quá trình hội nhập và phát triển và là vấn đề
18
được đặt ra đối với mọi quốc gia khi đưa ra các chính sách ngôn ngữ để đảm
bảo sự hài hoà xã hội và bắt kịp với thời đại mới.
1.2.3. Khái niệm chính sách song ngữ
Từ cách tiếp cận về ngôn ngữ, song ngữ và chính sách công ở Việt nam
như nêu trên, có thể hiểu khái niệm về chính sách song ngữ như sau:
Chính sách song ngữ là tập hợp các quyết định của Chính phủ nhằm
đưa ra những giải pháp, công cụ chính sách để giải quyết các vấn đề về phổ
cập ngoại ngữ - cụ thể là Tiếng Anh và duy trì tiếng mẹ đẻ nhằm hướng tới
việc nâng cao nguồn nhân lực, phù hợp với xu thế toàn cầu hoá trong thời kỳ
hội nhập. Luận văn sẽ dựa trên định nghĩa này về chính sách song ngữ để tiếp
cận vấn đề nghiên cứu mà đề tài đã đặt ra.
1.3. Khái niệm về cảnh huống ngôn ngữ
1.3.1. Khái niệm cảnh huống ngôn ngữ
Language situation - Cảnh huống ngôn ngữ là tình hình tồn tại và hành
chức của các ngôn ngữ hoặc các hình thức của ngôn ngữ trong phạm vi cộng
đồng xã hội hay lãnh thổ.
Ngôn ngữ học xã hội nghiên cứu chức năng của ngôn ngữ dưới tác
thiệp vào việc lựa chọn ngôn ngữ quốc gia, lựa chọn ngôn ngữ dân tộc hay
ngôn ngữ thương mại cho chính quốc gia đó. Đây chính là một mối quan hệ
tác động qua lại: chính trị quyết định đầu ra của chính sách ngôn ngữ và
ngược lại, chính chính sách ngôn ngữ tác động ngược trở lại chính trị. Ví dụ
như Sri lanka – Tổng thống Rajapaksa và nghị viện đã thông qua việc sử dụng
Tiếng Anh song hành cùng hai ngôn ngữ bản địa là Sinhala và Tamil và điều
này được ghi rõ trong Hiến pháp. Việc làm rõ chính sách ngôn ngữ bằng cách
thể chế hoá ở văn bản cao nhất của chính phủ đã ảnh hưởng đến tất cả các mặt
trong đời sống xã hội cũng như trong chính bộ máy lãnh đạo của chính phủ.
Việc quyết định lựa chọn ngôn ngữ nào đó trở thành ngôn ngữ quốc gia hay
20
ngôn ngữ chính thức của một đất nước thì ngôn ngữ đó sẽ trở thành tài
nguyên của quốc gia đó; nói cách khác, ngôn ngữ trở thành vấn đề chính trị,
tác động đến quyền lợi chính trị của quốc gia, của chính trị gia và các dân tộc
trong quốc gia đó.
Sự ảnh hưởng cao nhất của ngôn ngữ đối với chính trị chính là sự thể
chế hoá ngôn ngữ bằng chính sách ngôn ngữ. Để đưa ra được các chính sách
ngôn ngữ hiệu quả, thúc đẩy xã hội phát triển, nhà nước cần phải căn cứ vào
cảnh huống ngôn ngữ cụ thể, không chỉ ở chính quốc gia đó nói chung mà c n
dựa trên cơ sở của các cảnh huống ngôn ngữ theo vùng, lãnh thổ hay dân tộc
tại quốc gia đó. Một chính sách ngôn ngữ bình đẳng, hài hoà sẽ là đ n bẩy
thúc đẩy sự phát triển của xã hội và góp phần phát huy, bảo tồn bản sắc văn
hóa dân tộc.
1.3.3. Xây dựng chính sách ngôn ngữ dựa trên mối quan hệ giữa
ngôn ngữ và dân tộc
Ngôn ngữ chính là đặc trưng của mỗi dân tộc, nói đến dân tộc tức là nói
đến ngôn ngữ. Có rất nhiều dân tộc không có chữ viết, nhưng họ luôn có ngôn
ngữ riêng, ngôn ngữ đó được truyền khẩu từ cha mẹ sang con cái, từ thế hệ