mô hình quản lý tài chính công ở các quốc gia và bài học kinh nghiệm cho việt nam - Pdf 25

TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VIỆN ĐÀO TẠO SAU ĐẠI HỌC

TIỂU LUẬN KẾ TOÁN CÔNG
TÊN ĐỀ TÀI SỐ 28
MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG Ở CÁC QUỐC GIA
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
HVTH: Lê Thị Mỹ Nương
Nhóm 2
Lớp: K ton Ngày – K.20
TPHCM, Ngày 07 Tháng 11 Năm 2012
LỜI NÓI ĐẦU.

Quản lý tài chính công gắn liền với hoạt động của nhà nước. Nó vừa là nguồn lực để
nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình , vừa là công cụ để thực hiện các dịch vụ công,
chi phối , điều chỉnh các mặt hoạt động khác của đất nước. Trong tiến trình đổi mới, thực
hiện cải cách nền hành chính quốc gia, Đảng và nhà nước ta coi đổi mới quản lý tài chính
công là một trong những nội dung quan trọng hàng đầu. Chính sách tài chính công nói
chung, hay chính sách thu chi ngân sách nhà nước, cũng như cơ chế quản lý nhà nước nói
riêng, luôn là mối quan tâm trong nghiên cứu cải cách kinh tế của các nước phát triển và
đang phát triển.
Ở nước ta việc đổi mới quản lý công đã bắt đầu được nghiên cứu từ giữa năm 1980,
trong thời gian tiếp đó nhiều luật mới được ban hành, thể chế hóa, và cụ thể hóa đường lối,
chính sách của đảng, nhà nước. Cơ chế chính sách ngày càng được hoàn thiện và bắt đầu
phát huy một cách tích cực trong quản lý kinh tế và đời sống xã hội .Trong quá trình cải
cách này để việc quản lý tài chính công được hiệu quả chúng ta nên đi vào nghiên cứu các
mô hình quản lý công của các nước và từ đó rút ra kinh nghiệm cho Việt Nam, do đó bài
tiểu luận này sẽ đi vào nghiên cứu đề tài “ Mô hình quản lý tài chính công ở các quốc gia

chính công được xác định:
- Nhà nước là chủ thể quản lý. Tuỳ theo tổ chức bộ máy của nền hành chính tổng quốc
gia, mỗi nước có cơ quan nhà nước trực tiếp quản lý tài chính công phù hợp.
- Đối tượng quản lý là tài chính công.
Như vậy quản lý tài chính công là quá trình tác động, điều chỉnh của nhà nước đến tài
chính công nhằm phục vụ cho việc thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà nước một
cách có hiệu quả nhất.
Như vậy khái niệm quả lý tài chính công bao hàm những khía cạnh sau đây:
3
- Đối tượng quản lý của tài chính công là các hoạt động thu chi của các quỹ tài chính
công, trong đó quan trọng nhất là ngân sách nhà nước.
- Hệ thống quản lý tài chính công là sự liên kết hữu cơ giữa chủ thể quản lý là cơ quan
nhà nước với khách thể quản lý là các tổ chức ,doanh nghiệp, dân cư…
- Phương pháp quản lý tài chính công mang tính tổng hợp gồm nhiều biện pháp khác
nhau trong đó xuất phát điểm là phục vụ lợi ích nhà nước, lợi ích quốc gia, cộng
đồng.
- Quản lý tài chính công được thực hiện trên cơ sở vận dụng các quy luật khách quan
về kinh tế – tài chính một cách phù hợp với điều kiện của quá trình đổi mới về kinh
tế xã hội của đất nước.
- Mục tiêu của quản lý tài chính công là phục vụ việc thực hiện tốt các chức năng của
nhà nước.
Từ sự nhận thức này cho thấy quản lý tài chính công là tất yếu cần thiết đối với mọi nhà
nước ở tất cả các quốc gia. Sự cần thiết này còn được thể hiện ở các vấn đề sau đây:
 Xuất phát từ chức năng, nhiệm vụ quản lý của nhà nước.
 Tài chính công là tài sản của nhà nước hay nói một cách khác đó là tài sản của dân,
của cộng đồng mà nhà nước là người đại diện chủ sơ hữu. Nguồn tài sản đó phải
được khai thác và sử dụng một cách tiết kiệm và có hiệu quả. Đó là yêu cầu khách
quan trong mọi chế độ xã hội đặc biệt làchế độ chính trị của nhà nước ta.
 Hoạt động và quan hệ tài chính công được thực hiện ở mọi cơ quan nhà nước và các
tổ chức chính trị xã hội.

tác và tăng thu nhập vật chất cho tập thể và cá nhân.
c/ Phương hướng đổi mới quản lý tài chính công.
 Tiếp tục đổi mới chính sách và cơ chế quản lý ngân sách nhà nước theo hướng ngân
sách nhà nước phải bảo đảm đầy đủ nguồn lực tài chính cần thiết để duy trì hoạt đông
bình thường của bộ máy hành chính.
 Đổi mới và hoàn thiện cơ chế phân cấp quản lý ngân sách nhà nước theo nguyên tắc
bảo đảm tính thống nhất của nhà nước xã hội chủ nghĩa, tập trung cho ngân sách
trung ương một sức mạnh tài chính phù hợp, vưa bảo đảm tính độc lập, tự chủ và
quyền hạn của chính quyền địa phương.
 Chi ngân sách phải bảo đảm thực sự tiết kiệm , hiệu quả, trong đó phải ưu tiên chi
cho đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng kinh tế, đầu tư có lựa chọn cho phát triển khoa
học công nghệ, phát triển nguồn nhân lực …
 Xây dựng cơ sở pháp lý chặt chẽ trong việc sử dụng các nguồn kinh phí từ ngân
sách( định mức chi tiêu).
 Xây dựng cơ chế chính sách về tự bảo đảm chi phí thường xuyên, tiền lương và phụ
cấp lương đối với một số tổ chức công trong các lĩnh vực như giáo dục, y tế , bảo
hiểm xã hội…
 Mở rộng quyền chủ động của các cơ quan, đơn vị trong việc sử dụng kinh phí ngân
sách bằng việc chuyển quản lý đầu vào về biên chế và kinh phí đối với bộ máy hành
5
chính nhà nước sang quản lý đầu ra để khuyến khích các đơn vị tiết kiệm và sử dụng
hiệu quả kinh phí…
 Chuyển đổi phương thức quản lý cấp phát và thanh toán kinh phí ngân sách nhà
nước đối với các cơ quan hành chính nhà nước như lương , các khoản có tính chất
lương, chi phí hành chính sự nghiệp, các khoản mua sắm sửa chữa thương xuyên, sửa
chữa lớn…
PHẦN 2
MÔ HÌNH QUẢN LÝ CÔNG CỦA MỘT SỐ QUỐC GIA TRÊN THẾ GIỚI
1. Quản lý tài chính công ở một số nước pht triển
a. Ngân sách nhà nước Mỹ

hội cho nhân dân thông qua ngân sách nhà nước. Với chính sách huy động tối đa
nguồn thu ngân sách, nhằm phân bổ một cơ cấu chi ngân sách nhà nước chủ yếu là
phục vụ lại nhu cầu người dân. Mô hình ngân sách nhà nước của Thụy Điển là mô
hình ngân sách có định hướng xã hội nhất trong các nước có nền kinh tế xã hội phát
triển.
7
Tổng chi NSNN, 56% dành cho mục đích xã hội và được ưu tiên hàng đầu. Với
chính sách huy động nguồn lực hợp lý, hàng năm chi tiêu đầu tư cho xây dựng rất
thấp ( chi bảo chì đường xá 4,4%, chi cấp phát vốn cho các doanh nghiệp 3,5%).
Thụy điển là một trong những nước có tỷ trọng chi quốc phòng thấp nhấp (chiếm
4,2%).
2. Chính sch quản lý tài chính công của một số nước đang pht triển
Nhằm tạo điều kiện cho tăng trưởng và phát triển kinh tế ở mức độ cao nhằm nhanh
chóng đuổi kịp các nước phát triển, hầu hết các nước phát triển điều chú trọng đến việc
chi cho hoạt động đầu tư phát triển và giảm thiểu các khoản chi thường xuyên.
a. Ngân sách nhà nước của Thái Lan
Kể từ năm 1980 chi NSNN Thái Lan đã mở rộng phục vụ cho chính sách điều chỉnh vĩ
mô nền kinh tế với mục tiêu nâng lương cho công chức chính phủ, tài trợ vốn cho phát
triển nông thôn, đầu tư xây dựng cơ sở hạ tằng, và đô thị hóa nông thôn. Để thực hiện
được mục tiêu đó, chính phủ Thái Lan chấp nhận với mức thâm hụt NSNN với tỷ lệ cao
vào năm 1975 – 1980 tỷ lệ thâm hụt thường xuyên dưới 6% tỷ lệ GDP, đến năm 1981
thâm hụt tăng lên 7,54%, sau giai đoạn này tăng trưởng kinh tế của Thái Lan đạt tốc độ
cao và chính phủ Thái Lan thực hiện chính sách tài khóa “ thắt chặt chi tiêu “ chi ngân
sách nhà nước chiếm 22,15%, điến năm 1990 tỷ lệ này chỉ còn 14,7%. Năm 2011 do
ảnh hưởng của lũ lụt chính phủ Thái Lan năng mức thâm hụt ngân sách lên 350 tỷ baht.
Chi thường xuyên chiếm tỷ trọng chủ yếu trong tổng chi NSNN và có xu hướng ngày
càng tăng. Tỷ lệ chi đầu tư ngày càng giảm và chiếm tỷ trọng rất nhỏ cho việc thực hiện
chính sách huy động vốn của tư nhân và vốn đầu tư nước ngoài.
b. Ngân sách nhà nước của Trung Quốc.
Theo nhiều cách khác nhau, Trung Quốc có vẻ như là một mô hình để Việt Nam học

Cẩm Đào đưa ra khái niệm “phát triển khoa học” nhằm nhấn mạnh yếu tố bền vững của
tăng trưởng như là một sự kết hợp của việc nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, giảm ô
nhiễm môi trường, và tăng cường công bằng xã hội. Tình trạng gia tăng bất bình đẳng, đặc
biệt giữa khu vực nông thôn và thành thị là một sản phẩm phái sinh của quá trình cải cách.
Để đạt mục tiêu tăng trưởng, Trung Quốc cần phải tạo ra cầu để từ đó thúc đẩy sản xuất.
Trong thập kỷ vừa qua, hai động cơ tăng trưởng của Trung Quốc là đầu tư của nhà nước và
9
suất siêu, bên cạnh đó là tiêu dùng. Nếu chúng ta nhìn vào tương lai thì thấy mặc dù đầu tư,
đặc biệt là đầu tư CSHT và công nghiệp vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng, nhưng với
tỉ lệ đầu tư đã quá cao như hiện nay, Trung Quốc sẽ khó có thể tăng thêm đầu tư công một
cách đáng kể. Với quy mô hiện tại thì xuất khẩu của Trung Quốc vẫn có thể tiếp tục mở
rộng, tuy nhiên tốc độ này rồi cũng sẽ phải giảm dần. Tỉ lệ giữa kim ngạch ngoại thương và
GDP hiện nay của Trung Quốc đã lên tới gần 70%, một tỉ lệ rất cao đối với một nền kinh tế
lớn như Trung Quốc. Đồng thời, vì nhập khẩu cũng sẽ phải tăng lên để đáp ứng nhu cầu của
sản xuất nên thặng dư thương mại của Trung Quốc cũng sẽ giảm dần.
Kết quả là tiêu dùng trở thành động lực tăng trưởng chủ yếu của nền kinh tế. Đến lượt
mình, sự mở rộng tiêu dùng lại bị giới hạn bởi tỉ lệ tiết kiệm rất cao của người dân vì họ
muốn phòng trường hợp gia đình có người ốm, con cái đi học, hay phải chi các khoản đột
xuất khác. Tỉ lệ tiết kiệm của Trung Quốc tăng từ 26% năm 1995 lên 43% năm 2004 và vẫn
còn có thể tiếp tục tăng, trong khi tỉ lệ tiết kiệm ở các nước OECD chỉ vào khoảng 10% (với
Mỹ là một ngoại lệ với tỉ lệ tiết kiệm chưa tới 1%). Sing-ga-po cũng có tỉ lệ tiết kiệm xấp xỉ
với Trung Quốc, nhưng khác biệt lớn giữa hai quốc gia này là tiết kiệm của Sing-ga-po bao
gồm cả những khoản đóng góp bắt buộc vào chương trình an ninh xã hội.
Bên cạnh thực tế là các nguồn tăng trưởng chính của Trung Quốc bao gồm đầu tư công,
xuất siêu, và tiêu dùng ít có khả năng mở rộng thêm thì tăng trưởng của Trung Quốc còn bị
giới hạn bởi một số yếu tố khác như dân số đang già đi, tài nguyên nước và năng lượng
ngày càng trở nên khan hiếm và đắt đỏ, và ô nhiễm. Tình hình ô nhiễm ở Trung Quốc đang
xấu đi một cách trầm trọng, đặc biệt là ô nhiễm nước và không khí. Hai phần ba số thành
phố của Trung Quốc không đạt tiêu chuẩn chất lượng không khí và 10% số vụ tử vong của
người lớn ở Thượng Hải có nguyên nhân từ ô nhiễm không khí. Để khắc phục khó khăn về

nhưng về mặt xã hội và môi trường, cũng đã thấy xuất hiện nhiều nguy cơ không bền vững
và bất ổn tiềm tàng. Nhiều thay đổi quan trọng trong chính sách và cơ chế cung ứng dịch vụ
và phúc lợi xã hội theo hướng giảm dần vai trò của nhà nước, tăng dần vai trò của khu vực
dân sự và tư nhân. Những cải cách thể chế và cơ chế “ngân sách cứng” áp dụng cho các
DNNN của Trung Quốc đã dần làm tan rã khu vực kinh tế nhà nước và tập thể - những khu
vực từng chịu trách nhiệm chính về phúc lợi cho người lao động ở thành thị và nông thôn.
Những thay đổi to lớn này, cùng với những vấn đề cố hữu như tham nhũng tràn lan, môi
trường suy thoái, dịch vụ y tế và giáo dục chưa tương xứng với tốc độ phát triển kinh tế thì
những thách thức mới về thành thị - nông thôn, trung ương - địa phương, và bất công bằng
là những vấn đề mà Trung Quốc buộc phải giải quyết. Suy đến cùng, đây không chỉ là
11
những thách thức kinh tế, mà quan trọng hơn, là những thách thức về mặt xã hội và chính
trị. Mặc dù chính phủ Trung Quốc đã cho thấy những dấu hiệu điều chỉnh chiến lược phát
triển từ “tăng trưởng bằng mọi giá” sang cam kết thực hiện công bằng xã hội, thế nhưng cho
đến nay nỗ lực của chính phủ Trung Quốc dường như vẫn chưa đem lại những đổi thay thực
sự. Vấn đề mà các nhà lãnh đạo Trung Quốc đang gặp phải là nếu họ càng chậm trễ trong
việc giải quyết các thách thức này thì giải pháp để giải quyết chúng tận gốc càng vượt ra
khỏi tầm kiểm soát của họ.
PHẦN 3 : BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
Qua việc nghiên cứu tài chính công ở một số nước công nghiệp phát triển, các nước đang
phát triển có thể rút một số bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:
a. Về cc chính sch thu
- Việc thực hiện chính sách thuế phải đảm bảo công bằng và có sự ổn định nhất định
cả về thời gian và thuế suất, các mức thuế suất quan trọng như thuế thu nhập doanh
nghiệp, thuế GTGT ở hầu hết các nước đang phát triển thường được giữ ngay trong
thời hạn ít nhất là 10 năm hoặc 20 năm mới được xem xét điều chỉnh. Sự công bằng
về nghĩa vụ thuế không có nghĩa là áp dụng chung một mức thuế cho các đối tượng
chịu thuế, mà có xét đến quy mô kinh doanh và tình trạng hay mức thu nhập. Cộng
Hòa Liên Bang Đức, các nước Tây Âu và Hàn Quốc đã thực hiện chính sách thuế thu
nhập doanh nghiệp phân biệt theo mức lợi nhuận của doanh nghiệp, doanh nghiệp có

tình trạng bội chi. Nhưng về mức độ bội chi trừ một số ít nước có tỷ lệ bội chi cao
như cộng hòa Séc 13%, Ấn độ 10%, còn lại đều ở mức khoảng 1%- 4%. Nguyên
nhân dẫn đến bội chi cao ở các nước đang phát triển trên đây đều do nền kinh tế bị
suy giảm do những bất ổn về an ninh, chính trị. Còn ở các nước có tỷ lệ bội chi thấp
thập chí thấp hơn cả các nước công nghiệp phát triển , điều đó chưa hẳn đã phản ánh
một nền kinh tế lành mạnh, mà trong nhiều trường hợp thể hiện sự cân bằng tương
đối trong tình trạng trì trệ và kém phát triển. Từ lý luận và kinh nghiệm các nước đã
chỉ ra rằng bản thân sự thâm hụt tự nó chưa thể lý giải được hạn chế và tích cực trong
cân đối ngân sách. Khuyến cáo của các nước không phải bản thân mức độ thâm hụt
là tuyệt đối, mà quan trọng là nguồn bù đắp tham hụt, thức nguồn vốn ngân sách đi
13
vay được sử dụng như thế nào? Mục đích là gì? Việc quản lý cũng như hiệu quả
mang lại ra sao.
KẾT LUẬN
Như vậy qua phân tích ở trên cho thấy vấn đề tài chính công gắn liền với hoạt động của
nhà nước. Nó vừa là nguồn lực để nhà nước thực hiện tốt chức năng của mình , vừa là công
cụ để thực hiện các dịch vụ công, chi phối , điều chỉnh các mặt hoạt động khác của đất
nước. Trong tiến trình đổi mới, thực hiện cải cách nền hành chính quốc gia, Đảng và nhà
nước ta coi đổi mới quản lý tài chính công là một trong những nội dung quan trọng hàng
đầu. Nhận thức một cách đầy đủ, có hệ thống về tài chính công là đòi hỏi bức thiết trong
công tác nghiên cứu, học tập cũng như hoạt động thực tiễn cho cán bộ ở mọi ngành, mọi
cấp, đặc biệt là trong thời kỳ đẩy mạnh cải cách hành chính hiện nay ở nước ta. Học hỏi
kinh nghiệm của các nước từ đó để cải cách tài chính công đạt hiệu quả cao góp phần xây
dụng đất nước phát triển ổn định và bền vững.
14
15


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status