VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
U
T
ẢI ANH
CHÍNH SÁCH SONG NGỮ CỦA SINGAPORE
VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM CHO VIỆT NAM
TRONG THỜI KỲ HỘI NHẬP
Chuyên ngành:
Mã số:
Chính sách công
60.34.04.02
TÓM TẮT LUẬ VĂ T ẠC SĨ C Í
À ỘI - 2017
SÁC
CÔ
Công trình được hoàn thành tại: Học Viện Khoa Học Xã Hội
Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Thị Bích Hạnh
phụ thuộc nhiều vào chính sách giáo dục ngoại ngữ mới của nước
nhà.
Xuất phát từ những thực tế nêu trên, chúng tôi xin mạnh dạn
lựa chọn đề tài “Chính sách song ngữ của Singapore và bài học
kinh nghiệm cho Việt nam trong thời kỳ hội nhập” làm luận văn tốt
nghiệp hệ đào tạo Thạc sĩ, chuyên ngành Chính sách công, hy vọng
kết quả của luận văn sẽ góp phần vào việc thúc đẩy chính sách song
ngữ tại Việt Nam trong bối cảnh hội nhập toàn cầu.
2. Tình hình nghiên cứu
2.1. Các nghiên cứu ngoài nước
Từ những năm 50 của thế kỷ XX trở lại đây, lý luận và thực
tiễn giáo dục song ngữ ở ngoài nước phát triển mạnh mẽ. Vào những
1
năm 1980, Tác giả Nikolskij trong nghiên cứu “Chính sách ngôn ngữ
ở các nước Á – Phi” đã đưa ra vấn đề vai trò của ngôn ngữ và chính
sách ngôn ngữ tại các nước Á – Phi. Tác giả L. Quentin Dixon Harvard University Graduate School of Education với nghiên cứu:
The Billingual Education Policy in Singapore – Implication for
Second Language Acquisition tại Đại học Harvard đã có các lý
thuyết cụ thể về "tiếng mẹ đẻ" - những ngôn ngữ này có thể không
phải là ngôn ngữ chính của học sinh và kết quả là nhiều học sinh
đang học hai thứ tiếng mẹ đẻ ở trường…
2.2. Các nghiên cứu trong nước
Tại Việt Nam, nhiều đề tài tương tự cũng đã được nghiên cứu
nhưng là nghiên cứu dưới góc độ các chính sách chung về giáo dục,
cụ thể như Tài liệu Chính sách quốc gia về giáo dục và phát triển
nguồn nhân lực Việt Nam trong quá trình đổi mới và hội nhập của
PGS.TS. Trần Khánh Đức (2013), các nghiên cứu về ngôn ngữ như
Chính sách ngôn ngữ và lập pháp ngôn ngữ ở Việt Nam của GS.TS
tách khỏi Liên bang Malaysia cho đến nay và các kinh nghiệm mà từ
đó, Việt Nam có thể học tập từ Singapore. Do đó, phạm vi nghiên
cứu của luận văn không chỉ trình bày về chính sách song ngữ tại
Singapore mà cũng mở rộng sang cả những vấn đề về chính sách
ngoại ngữ tại Việt Nam.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Khi triển khai nghiên cứu này, chúng tôi vận dụng kết hợp một số
phương pháp chủ yếu như: phương pháp tổng hợp để thu thập, phân
tích và khai thác thông tin từ các nguồn tài liệu thứ cấp liên quan đến
đề tài nghiên cứu,…. Kết hợp với các phương pháp khát quát thực
tiễn, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích định tính nhằm
khảo sát kinh nghiệm, nhận thức, động cơ thúc đẩy, hành vi,…
3
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Kết quả nghiên cứu đề tài là minh chứng cho việc vận dụng
các lý thuyết về chính sách ngôn ngữ, chính sách song ngữ, lý thuyết
phân tích chính sách công, đánh giá chính sách công là cần thiết
trong quá trình nghiên cứu chính sách song ngữ, từ đó đưa ra được
những hàm ý cho việc xây dựng chính sách song ngữ tại Việt nam.
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nâng cao nhận thức
đối với việc đưa ra chính sách ngôn ngữ hiệu quả, từ đó nâng cao
việc dạy, học ngoại ngữ; định hướng xây dựng chính sách song ngữ
tại Việt Nam trong thời kỳ hội nhập.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mục lục, mở đầu và kết luận, tài liệu tham khảo,
phụ lục, nội dung chính của luận văn được trình bày theo 3 chương:
Chương 1. Lý luận về chính sách ngôn ngữ và khái niệm về
chính sách song ngữ.
chọn ngôn ngữ. Sự lựa chọn đóng vai trò là cơ sở khoa học của các
chính sách ngôn ngữ, đó chính là sự lựa chọn ngôn ngữ vào các vị
thế và chức năng khác nhau. Đây cũng chính là cơ sở khoa học của
mỗi quốc gia trong việc lựa chọn trở thành quốc gia đơn ngữ hay đa
5
ngữ, lựa chọn ngôn ngữ nào là ngôn ngữ quốc gia, ngôn ngữ nào là
ngôn ngữ thương mại, …
1.1.3.3. Các mô hình chính sách ngôn ngữ
a. Các mô hình chính sách ngôn ngữ phổ biến
(i) Chính sách đồng hoá ngôn ngữ
(ii) Chính sách thừa nhận địa vị khác nhau của các ngôn ngữ
(iii) Chính sách ngôn ngữ không can thiệp
(iv) Chính sách bình ổn ngôn ngữ quốc gia
(v) Chính sách ngôn ngữ khu vực
(vi) Chính sách quốc tế hoá ngôn ngữ
b. Các mô hình chính sách thời kỳ toàn cầu hoá
(vii) Những xu hướng thay đổi
(viii) Mô hình chính sách ngôn ngữ mới
(ix)
Chính sách ngôn ngữ nhỏ hơn quốc gia và chính sách
ngôn ngữ lớn hơn quốc gia
1.2. Khái niệm về song ngữ và chính sách giáo dục song ngữ
1.2.1. Khái niệm song ngữ và hiện tượng song ngữ
Song ngữ (Bilingual) được hiểu là việc sử dụng song song hai
ngôn ngữ. Người sử dụng song ngữ tức là người có thể sử dụng hai
Thông qua nghiên cứu cảnh huống của ngôn ngữ, sẽ có được
các thông số cần thiết và cụ thể để nghiên cứu và đưa ra các vấn đề
ngôn ngữ cụ thể ở mặt cấu trúc - hệ thống, giao tiếp và góp phần giải
quyết các vấn đề ngôn ngữ quốc gia, dân tộc như các vấn đề về chính
sách ngôn ngữ, kế hoạch hóa ngôn ngữ và lập pháp ngôn ngữ…
1.3.2. Xây dựng chính sách ngôn ngữ dựa trên mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và chính trị
Thông qua các quy định, chính sách về ngôn ngữ, chính phủ sẽ
xây dựng hệ thống chính trị của quốc gia; ngược lại việc xây dựng
7
nên thực tế các quy định về ngôn ngữ cũng sẽ đạt được một cách
gián tiếp thông qua các tác động mang tính chính trị của nhà nước.
1.3.3. Xây dựng chính sách ngôn ngữ dựa trên mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và dân tộc
Ngôn ngữ chính là đặc trưng của mỗi dân tộc; nói đến dân tộc
tức là nói đến ngôn ngữ.
1.3.4. Xây dựng chính sách ngôn ngữ dựa trên mối quan hệ
giữa ngôn ngữ và quốc gia
Mối quan hệ giữa ngôn ngữ và quốc gia chính là mối quan hệ
giữa tính phong phú đa dạng của ngôn ngữ và sự phát triển của chính
quốc gia đó. Giải quyết mối quan hệ này chính là quá trình hoạch
định chính sách ngôn ngữ.
1.4. Quan điểm, mục tiêu của giáo dục ngoại ngữ tại Việt
Nam
Giáo dục ngoại ngữ - cụ thể là phổ cập ngôn ngữ Tiếng Anh
nhằm đổi mới toàn diện việc dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống
giáo dục quốc dân, triển khai chương trình dạy và học ngoại ngữ mới
Ở Việt Nam, Hiến pháp là luật cơ bản của nước Cộng hoà xã
hội chủ nghĩa Việt Nam, có hiệu lực pháp lý cao nhất. Đề án ngoại
ngữ 2020 [4] là văn bản mang ý nghĩa định hướng giáo dục ngoại
ngữ ở Việt nam có quy định các Bộ, Ngành liên quan tham gia như:
Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội, Bộ
Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính, Bộ Nội vụ, Bộ Thông tin và
Truyền thông, Uỷ ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung
ương, Các cơ sở giáo dục.
1.9. hững nhân tố tác động đến chính sách
1.9.1. Nhân tố bên trong
Hệ thống chính trị gồm văn hóa chính trị, hiến pháp và thể chế
chính trị.
Chính sách còn chịu sự tác động của các yếu tố như vai trò của
công luận và truyền thông: Thể hiện qua việc truyền tải, phản ánh
những những thông tin, bình luận của người dân, …. Hệ thống các
9
giá trị xã hội có vai trò định hướng khi các tổ chức xã hội tham gia
vào quá trình chính sách. Hệ thống kinh tế đòi hỏi các nhà hoạch
định chính sách phải nghiên cứu, cân nhắc khi đề xuất các gói chính
sách. Các yếu tố thuộc về ngay bên trong cơ quan lập chính sách, đó
là năng lực hoạch định chính sách của Nhà nước.
1.9.2. Nhân tố bên ngoài
Hệ thống giáo dục quốc dân còn chịu ảnh hưởng bởi các nhân
tố bên ngoài như yếu tố địa chính trị, được xác định bằng tiềm lực
chính trị, kinh tế, dân số và mặt bằng trí thức với các nước trong khu
vực.
Tiểu kết
Trong chương 1, những khái niệm về chính sách ngôn ngữ,
quốc gia đồng thời bắt kịp với xu thế của thời đại.
2.2. Thể chế chính trị
2.2.1. Mô hình tổ chức và hệ tư tưởng của Đảng lãnh đạo –
Đảng Nhân dân hành động - PAP (People Action Party)
Về mặt tổ chức, hệ thống chính trị của Singapore tồn tại cơ
chế đa đảng nhưng chỉ có một Đảng mạnh tuyệt đối liên tục nắm
quyền trong suốt 50 năm qua, đó là Đảng nhân dân hành động.
Trong Cương lĩnh của PAP đã đưa ra vấn đề: phục vụ đất
nước và thúc đẩy sự thịnh vượng của người dân với bốn điểm chính
trong hệ tư tưởng:
- Chủ nghĩa thực dụng;
- Chế độ nhân tài;
- Chủ nghĩa đa sắc tộc;
- Các giá trị châu Á hay chủ nghĩa cộng đồng.
11
Về mặt tổ chức, đứng đầu PAP là Uỷ ban chấp hành Trung
ương (Central Executive Committee – CEC).
2.2.2. Tại sao Singapore chọn PAP
(i) PAP lấy phát triển kinh tế làm tiền đề cho sự ổn định
chính trị và xã hội, xây dựng tính chính đáng:
(ii)PAP tập trung quyền lực thông qua bộ máy nhà nước
2.2.3. Thể chế chính sách
Hiến pháp cũng là luật cơ bản và có hiệu lực pháp lý cao nhất.
Liên quan đến chính sách song ngữ, Điều 153A, Hiến pháp
Singapore cũng quy định rõ về việc sử dụng 04 ngôn ngữ chính thức
là: Tiếng Melayu, Tiếng Quan Thoại, Tiếng Tamil và Tiếng Anh.
Nhưng với thể chế chính trị nêu trên cùng với ảnh hưởng của Đảng
lấy tiếng phổ thông Hán ngữ (Quan thoại) của Trung Quốc làm
chuẩn, lấy âm Bắc Kinh làm âm tiêu chuẩn, áp dụng phương án chữ
Hán giản hoá và phương án phiên âm Latin Tiếng Hán. Tiếng Tamil
được quy định là ngôn ngữ chung của người Ấn ở Singapore mặc dù
cũng có một số bộ phận sử dụng Tiếng Hindi, Tiếng Sinhala.
2.4.2. Vấn đề chính sách
Người Hoa chiếm tới hơn 75% dân số tại Singapore nhưng
Tiếng Hoa không thể là ngôn ngữ phổ cập hay ngôn ngữ thương mại
tại đất nước này. Với cương vị hơn 31 năm làm thủ tướng của một
hòn đảo của người Hoa nhưng có vị trí địa lý tại vùng lãnh hải của
người Malay, thuộc khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Ông Lý
Quang Diệu phải chắc chắn rằng, Singpore cần quan hệ tốt với các
nước láng giềng nhưng cũng phải tự vươn lên để tìm con đường phát
triển cho đất nước. Đây chính là định hướng tiên quyết và cơ bản cho
mọi chính sách ở Singapore, bao gồm cả các chính sách về ngôn ngữ.
“Ở Singapore, vấn đề ngôn ngữ là vấn đề chính trị”[33]
2.5. Mục tiêu của chính sách
13
(i) Tất cả học sinh có thể đạt được các kỹ năng cơ bản, đặc biệt
trong ngữ pháp, chính tả và cách phát âm để họ có thể sử dụng tiếng
Anh trong các tình huống hàng ngày;
(ii) Đa số học sinh có thể đạt được trình độ tiếng Anh tốt cả
nói và viết để có thể tham gia vào các ngành dịch vụ khác nhau và;
(iii) ít nhất 20% học sinh có thể đạt trình độ cao về tiếng Anh để
duy trì sự cạnh tranh của Singapore trong các ngành nghề khác nhau.
2.6. Quan điểm về chính sách song ngữ của Singapore
2.6.1. Việc tiếp cận với ngôn ngữ thứ hai càng sớm thì sẽ
nhanh đạt đến trình độ cao hơn
1966 nhằm đảm bảo sự đa dạng văn hóa, thực hiện nguyên tắc song
ngữ và bình đẳng của 4 luồng giáo dục Melayu, Trung Quốc, Anh và
Tamil.
2.7.3. Tiếng Anh –ngôn ngữ quốc tế cần thiết
Trong xu hướng toàn cầu hóa, Tiếng Anh là ngôn ngữ quốc tế,
ngôn ngữ nơi làm việc và đặc biệt rất phù hợp với một cộng đồng
giao thương như Singapore. Tiếng Anh sẽ phá vỡ những rào cản
ngôn ngữ và văn hóa trong giao tiếp lớp trẻ, đồng thời xóa bỏ đi
những bất công trong cơ hội tìm kiếm việc làm giữa các thí sinh tốt
nghiệp trường Tiếng Anh và các trường tốt nghiệp thứ tiếng khác.
2.7.4. Công cụ và các chính sách hỗ trợ cho chính sách song ngữ
(i) Kết hợp mô hình giáo dục theo kiểu phương Đông và
phương Tây
Việc kết hợp cùng lúc hai mô hình giáo dục Đông –Tây này
sẽ đào tạo ra những con người Singapore mới toàn diện, có nhân
cách, biết giữ gìn các giá trị đạo đức chân chính, sống khoan dung và
có lòng tự hào về bản thân mình và đất nước mình.
(ii) Mô hình “Dạy ít học nhiều”
15
Theo chiến lược “Dạy ít, học nhiều” – tức là tập trung nâng
cao chất lượng học tập của sinh viên bằng cách tạo thêm nhiều
“khoảng trống” trong chương trình học để giáo viên có thể thực hiện
những kế hoạch giảng dạy riêng, cùng sinh viên và bồi dưỡng nghiệp
vụ.Với mô hình “Dạy ít, học nhiều”, kiểu học vẹt, học vì thành tích
sẽ bị loại bỏ. Thay vào đó, sinh viên sẽ chủ động hơn trong học tập,
khám phá tri thức thông qua các thí nghiệm, trải nghiệm thực tế, học
các kỹ năng sống và xây dựng nhân cách nhờ chiến lược đào tạo hiệu
C O VIỆT AM TRO
SÁC
SO
T ỜI KỲ
Ữ
ỘI
ẬP
3.1. Cảnh huống ngôn ngữ và Đề án dạy và học ngoại ngữ
trong hệ thống giáo dục quốc dân 2008 – 2020
3.1.1. Đặc điểm cảnh huống ngôn ngữ Việt Nam
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, đa ngôn ngữ với 54 dân
tộc và ứng với nó là 54 ngôn ngữ. Mỗi dân tộc Việt Nam đều có
ngôn ngữ của riêng mình. Việc đưa ra thêm một ngôn ngữ mang tính
thương mại, phổ cập song song cùng với Tiếng Việt là Tiếng Anh
nhằm thúc đẩy việc giao thương cũng như bắt kịp với xu thế của thế
giới là điều cần làm; song cũng phải tính đến những vấn đề liên quan
đến việc duy trì ngôn ngữ của các dân tộc khác nói riêng và Tiếng
Việt nói chung trong việc dạy và học
3.1.2. Vấn đề của chính sách
Đề án Ngoại ngữ quốc gia 2020 đặt ra mục tiêu: đến năm 2020
đa số thanh niên Việt Nam tốt nghiệp Trung cấp, Cao đẳng và Đại
học có đủ năng lực ngoại ngữ, sử dụng độc lập, tự tin trong giao tiếp,
học tập, làm việc trong môi trường hội nhập, đa ngôn ngữ, đa văn
33% đạt chuẩn và cấp THPT hơn 26%. Số giáo viên đạt chuẩn của
nhiều địa phương còn thấp hơn nhiều. Có thể nói, Đề án ngoại ngữ
2020 đã đặt ra mục tiêu quá cao so với khả năng thực hiện; năng lực
và nghiệp vụ sư phạm của người dạy chưa đáp ứng yêu cầu. Việc
thông tin truyền thông để thực sự tạo nên nhu cầu cần thiết đối với
người dân trong việc nhận thức tầm quan trọng của việc học ngoại
ngữ.
3.2. Những hàm ý cho chính sách song ngữ tại Việt
trong thời kỳ hội nhập
19
am
3.2.1. Luật hoá các chính sách về việc sử dụng Tiếng Anh
như một ngôn ngữ thương mại
Tiếng Việt không phải là ngôn ngữ quốc tế và chúng ta không
thể hoà nhập cộng đồng thế giới nếu chỉ sử dụng Tiếng Việt.
Nếu không Luật hoá việc học Tiếng Anh cũng như khẳng định
việc học và vượt qua các kỳ thi tiêu chuẩn quốc tế của môn Tiếng
Anh là một điều kiện bắt buộc đối với không chỉ học sinh, sinh viên,
giáo viên và người dân thì chúng ta sẽ không những không thực hiện
được Đề án 2020 mà Thủ tướng phê duyệt, mà còn không bao giờ
đạt được nhưng tiêu chí về việc phát triển nguồn nhân lực cho hội
nhập và toàn cầu hoá.
Việc Luật hoá Tiếng Anh là ngôn ngữ thương mại sẽ chủ động
chuẩn hoá được đội ngũ giáo viên, giảng viên – chủ thể quan trọng
của chính sách. Việc chuẩn hoá này chính là cơ hội và thách thức đối
với tất cả các Giáo viên trong quá trình chuyển đổi.
cũng như được giảng dạy bằng các môn học trong các cơ sở giáo dục,
việc duy trì Tiếng Anh là ngôn ngữ thương mại sẽ chỉ là hình thức.
Khi Tiếng Anh trở thành ngôn ngữ giao dịch, đồng nghĩa với việc tất
cả người dân phải đọc, hiểu và nói bằng ngôn ngữ này.
Thực tế cho thấy, có rất nhiều chủ thể cho rằng: họ không cần
phải biết ngoại ngữ, cụ thể là Tiếng Anh vì môi trường làm việc, giao
tiếp,... đều không dùng hoặc không liên quan đến Tiếng Anh. Cần có
chỉ đạo quyết tâm từ bên trên xuống thì mới có thể dạy và học tốt
được. Chỉ khi cả hệ thống chính trị và xã hội vào cuộc để định hướng
và ủng hộ ngành giáo dục và đào tạo thì chiến lược này mới thành
công.
3.2.2. Chú trọng đầu tư chất lượng giảng viên, giáo viên
bằng các biện pháp thực tế
Việc tăng lương cho giáo viên là một biện pháp không chỉ tác
động vào kinh tế mà còn vào tâm lý của họ giống như như chính phủ
Singapore đã thực hiện.
Ngoài việc tăng lương, công tác đào tạo và bồi dưỡng giáo
viên ngoại ngữ, nhất là giáo viên các trường ngoại ngữ cũng cần
được kế hoạch hóa cụ thể; hệ thống hoá bằng cấp bằng việc phát huy
tối đa tính nghiêm minh của các trung tâm khảo thí quốc gia.
21
Chất lượng giáo viên bao gồm trình độ chuyên môn, khả năng
truyền đạt và kinh nghiệm giảng dạy. Vì vậy, việc cấp chứng chỉ đạt
chuẩn mới chỉ đáp ứng được một trong ba tiêu chí trên. Vì vậy, muốn
thay đổi được toàn diện chất lượng ngoại ngữ, cần có sự đánh giá,
chọn lựa những giáo viên chất lượng hơn, thay vì chỉ đánh giá mỗi
khả năng Ngoại ngữ.
3.2.3. Truyền thông về vai trò của việc học Tiếng Anh
trong bối cảnh hội nhập toàn cầu. Việc dạy học ngoại ngữ nói chung,
Tiếng Anh nói riêng trong nhà trường, câu lạc bộ, trung tâm ngoại
ngữ đã ghi nhận có nhiều cố gắng. Trình độ Tiếng Anh của thanh
niên Việt Nam thời gian qua khá hơn nhiều. Cơ hội để người Việt
học Tiếng Anh tăng lên khi có nhiều phương tiện công nghệ thông
tin, truyền thông, người nước ngoài đến Việt Nam nhiều, chưa kể
liên tục có các hội nghị, hội thảo nói Tiếng Anh.
3. Sự lớn mạnh và phát triển của một quốc gia tùy thuộc vào
rất nhiều yếu tố. Bên cạnh những lợi thế về tự nhiên, chính trị, lịch
sử… giáo dục ngôn ngữ đóng một vai trò hết sức quan trọng. Việt
Nam là một đất nước Á Đông, vốn coi trọng hiền tài, coi trọng những
giá trị giáo dục. Trong thời kì hội nhập, chúng ta nên có những quyết
sách đầu tư, phát triển giáo dục và tiếp thu kinh nghiệm từ bạn bè
quốc tế để giáo dục trở thành một đòn bẩy, một động lực đưa đất
nước phát triển nhanh hơn và bền vững hơn./.
23