ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HỒNG PHƯỢNG
PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội - 2014
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
LÊ THỊ HỒNG PHƯỢNG
PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
Ở VIỆT NAM VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TẠI THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC
Chuyên ngành : Luật Kinh tế
Mã số
: 60 38 50
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Quang Tuyến
1.1.1. Tổng quan về sự phát triển đô thị ở Việt Nam ................................................10
1.1.2. Khái niệm về đô thị .........................................................................................13
1.2. Tổng quan về quy hoạch đô thị ..........................................................................21
1.2.1. Khái niệm quy hoạch đô thị ............................................................................21
1.2.2. Phân loại quy hoạch đơ thị ..............................................................................25
1.2.3. Vai trị và ý nghĩa của quy hoạch đô thị .........................................................27
1.3. Tổng quan pháp luật về quy hoạch đô thị ..........................................................29
1.3.1. Sự cần thiết phải điều chỉnh quan hệ quy hoạch đô thị bằng pháp luật ..........29
1.3.2. Khái niệm pháp luật về quy hoạch đô thị........................................................32
1.3.3. Nội dung cơ bản của pháp luật về quy hoạch đô thị .......................................33
Chương 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TỪ THỰC
TIỄN THI HÀNH TẠI THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC ..............35
2.1. Nội dung pháp luật về quy hoạch đô thị ............................................................35
2.1.1. Nội dung quy định về lập quy hoạch đô thị ....................................................35
2.1.2. Thẩm định, phê duyệt quy hoạch đô thị ..........................................................47
2.1. 3. Điều chỉnh quy hoạch đô thị ..........................................................................52
2.1.4. Việc tổ chức thực hiện và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch ...............55
2.2. Thực trạng thi hành pháp luật về quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố Vĩnh
Yên, tỉnh Vĩnh Phúc ..................................................................................................62
2.2.1. Điều kiện tự nhiên, lịch sử và kinh tế - xã hội của thành phố Vĩnh Yên, tỉnh
Vĩnh Phúc ..................................................................................................................62
2.2.2. Thực trạng thi hành pháp luật về quy hoạch đô thị trên địa bàn thành phố
Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc .........................................................................................67
Chương 3: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN VÀ NÂNG CAO HIỆU QUẢ THỰC
THI PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ TIẾP CẬN TỪ THỰC TIỄN
TẠI THÀNH PHỐ VĨNH YÊN, TỈNH VĨNH PHÚC .........................................73
3.1. Định hướng hoàn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị qua thực tiễn thi hành tại
thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc ........................................................................73
thương mại, dịch vụ, nơng nghiệp và góp phần đáng kể nâng cao chất lượng
sống của người dân. Bên cạnh những mặt tích cực, q trình đơ thị hố, sự gia
tăng mật độ dân số vượt quá tốc độ tăng trưởng kinh tế đã đặt ra những thách
thức khơng nhỏ cho chính quyền các đơ thị phải giải quyết như tình trạng ách
tắc giao thông, nạn ô nhiễm môi trường, nhu cầu về nhà ở , trường học, bệnh
viê ̣n và các dịch vụ giải trí cơng cộng v.v. Đây khơng chỉ là vấn đề nan giải đối
với nước ta mà còn đối với các nước đang phát triển trên thế giới. Để giải quyết
vấn đề này, mỗi quốc gia đều xây dựng cho mình những chương trình, kế
hoạch, chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh riêng của mỗi
nước; trong đó khơng thể khơng quan tâm đến vấn đề xây dựng quy hoạch đô
thị. Bởi lẽ, quy hoạch đô thị là sự định hướng chiến lược mang tính tổng hợp và
tồn diện cho sự phát triển của đơ thị trong tương lai đảm bảo hài hoà giữa yếu
tố dân tộc, truyền thống với yếu tố văn minh, hiện đại trong bối cảnh hội nhập
quốc tế. Một trong những nội dung rất quan trọng và không thể thiếu được của
quy hoạch đơ thị, đó là quy hoạch sử dụng đất đô thị.
1
Cùng với sự tăng trưởng kinh tế, nhu cầu sử dụng đất đơ thị ngày càng
tăng nhằm đáp ứng địi hỏi về nhà ở cho người dân, xây dựng hệ thống cơ sở
hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội của đô thị v.v.. Việc sử dụng đất một cách
tiết kiệm, hợp lý và có hiệu quả là một yêu cầu hàng đầu được đặt ra trong
xây dựng quy hoạch sử dụng đất đô thị. Hơn nữa, để phát triển hài hồ bộ mặt
kiến trúc đơ thị ở nước ta ngày càng văn minh, hiện đại nhưng vẫn bảo tồn và
phát huy các giá trị bản sắc văn hoá dân tộc truyền thống đòi hỏi chúng ta
phải quy hoạch đô thị hợp lý. Đô thị là “tấm gương” phản chiếu rõ ràng nhất
sự phát triển của xã hội, vì vậy, quy hoạch sử dụng đất đô thị sẽ bảo đảm cho
việc quản lý và sử dụng đất đai đô thị đi vào nề nếp, hiệu quả phù hợp với sự
phát triển của đất nước trong hiện tại và tương lai.
thị tồn tại một số bất cập, mâu thuẫn. Để góp phần tìm giải pháp tháo gỡ những
khó khăn, bất cập này, tơi đã lựa chọn đề tài: “Pháp luật về quy hoạch đô thị ở
Việt Nam và thực tiễn áp dụng tại thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc” làm
luận văn thạc sĩ luật học.
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu đề tài
Trong nền kinh tế thị trường, đất đai không chỉ là nguồn tài nguyên vô
cùng quý giá của quốc gia, là tư liệu sản xuất đặc biệt trong sản xuất nông - lâm
nghiệp, là địa bàn phân bố các khu dân cư, xây dựng cơ sở kinh tế, văn hoá, xã
hội, an ninh và quốc phòng, là thành phần quan trọng hàng đầu của mơi trường
sống mà đất đai cịn là nguồn lực, nguồn vốn to lớn để phát triển đất nước. Để
tạo điều kiện phát huy vai trò là nguồn lực, nguồn vốn phát triển đất nước thì
phải coi trọng cơng tác quy hoạch đất đai nói chung và quy hoạch đơ thị nói
riêng. Vấn đề này đã thu hút được sự quan tâm nghiên cứu của giới khoa học
nước ta. Thời gian qua đã có những cơng trình nghiên cứu về quy hoạch đơ thị
nói chung và pháp luật về quy hoạch đơ thị nói riêng được cơng bố mà tiêu
biểu phải kể đến các cơng trình khoa học sau đây:
3
1. Cuốn sách“Chính sách thu hút đầu tư vào thị trường bất động sản
Việt Nam” xuất bản năm 2006 của TS. Lê Xuân Bá và TS.Trần Kim Chung Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương. Các tác giả tập trung vào việc
nghiên cứu, tìm hiểu chính sách thu hút đầu tư của Nhà nước ta vào thị trường
bất động sản nói chung và thị trường nhà, đất ở đơ thị nói riêng.
2. Cuốn “Giáo trình Quản lý đơ thị năm 2004” của Trường Đại học
Kinh tế Quốc dân do GS.TS Nguyễn Đình Hương chủ biên. Cuốn sách đề cập
chủ yếu đến những nội dung cơ bản về quản lý đô thị như lý giải khái niệm
quản lý đô thị, sự cần thiết của việc quản lý đô thị, đặc điểm của quản lý đơ
thị, mục đích, ý nghĩa và các nguyên tắc quản lý đô thị, nội dung quản lý đơ
thị v.v; trong đó, có nội dung đề cập về quy hoạch đơ thị.
chế, tồn tại cần được khắc phục trong tương lai.
8. Hội thảo “Sử dụng tài nguyên đất ở Việt Nam với định cư đô thị và
nông thôn” do Liên Hiệp các Hội Khoa học Kỹ thuật Việt Nam, Viện Nghiên
cứu Định cư và Viện Nghiên cứu Đô thị và Phát triển hạ tầng tổ chức ngày
24/5/2007 tại Hà Nội. Nội dung của hội thảo tập trung vào việc luận bàn cơ sở
lý luận và thực tiễn, đánh giá thực trạng và đề xuất giải pháp sử dụng hợp lý,
tiết kiệm và có hiệu quả tài nguyên đất đai ở Việt Nam gắn với công tác định
cư đô thị và nông thôn.
9. Bài viết “Quản lý đơ thị ở Việt Nam hiện nay” của TS. Dỗn Hồng
Nhung; Tạp chí Kiến Trúc - Hội Kiến trúc Việt Nam số 167 năm 2009. Bài
viết tìm hiểu về thực trạng quản lý đô thị ở Việt Nam hiện nay; trong đó, có
nội dung đề cập đến vấn đề quy hoạch đô thị.
10. Bài viết“Bài học nào cho phát triển đô thị ở Việt Nam” của KTS.
Nguyễn Hữu Thái; Tạp chí Kiến Trúc - Hội Kiến trúc sư Việt Nam số 167
năm 2009. Bài viết đề cập đến thực trạng phát triển đơ thị nói chung và quy
5
hoạch đơ thị nói riêng; đồng thời, đề xuất một số giải pháp cho việc phát triển
đô thị ở nước ta.
11. Bài viết“ Quy hoạch đất đai, quy hoạch xây dựng với bảo vệ văn
hóa truyền thống” của ThS. Dỗn Hồng Nhung; Tạp chí Kiến trúc - năm
2004. Bài viết luận bàn về quy hoạch đất đai, quy hoạch xây dựng gắn với
việc bảo vệ các giá trị văn hoá truyền thống ở nước ta.
12. Bài viết “Một số vấn đề về quản lý nhà nước đối với đô thị ở Việt
Nam hiện nay” của TS. Doãn Hồng Nhung, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
7 năm 2010. Nội dung chủ yếu của bài viết đề cập đến một số vấn đề lý luận,
thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước đối với đô thị ở
nước ta v.v.
bao gồm các nội dung sự cần thiết của việc điều chỉnh quy hoạch đô thị bằng
pháp luật; khái niệm, đặc điểm của pháp luật về quy hoạch đô thị; lịch sử hình
thành và phát triển của pháp luật về quy hoạch đô thị v.v..
- Đánh giá thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị.
- Đánh giá thực tiễn thi hành pháp luật về quy hoạch đô thị tại thành
phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đưa ra định hướng và giải pháp góp phần hồn thiện pháp luật về quy
hoạch đô thị và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quy hoạch đô thị tại
thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc v.v..
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của Luận văn là các quy định của pháp luật hiện
hành về quy hoạch đô thị; bao gồm các quy định của Luật Quy hoạch đô thị
năm 2009 và những quy định có liên quan của Luật Đất đai năm 2003, Luật
7
Xây dựng năm 2003 và Luật Nhà ở năm 2005 về quy hoạch đô thị và thực
tiễn thi hành tại thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
4.2. Phạm vi nghiên cứu đề tài
Đề tài có phạm vi nghiên cứu rất rộng, liên quan đến nhiều lĩnh vực pháp luật
khác nhau. Tuy nhiên, trong khuôn khổ của một bản luận văn thạc sĩ luật học,
Luận văn giới hạn phạm vi nghiên cứu ở những nội dung cụ thể sau:
- Về không gian: Nghiên cứu thực tiễn thi hành pháp luật về quy hoạch
đô thị trên địa bàn thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
- Về thời gian: Nghiên cứu pháp luật về quy hoạch đô thị kể từ thời
điểm ban hành Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 đến nay.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn dựa trên cơ sở lý luận về chủ nghĩa duy vật biện chứng và
luật về quy hoạch đô thị.
- Đánh giá thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị và thực tiễn thi
hành tại thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
- Đề xuất một số giải pháp góp phần hồn thiện pháp luật về quy hoạch đô thị
và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quy hoạch đô thị tại thành phố Vĩnh Yên tỉnh Vĩnh Phúc.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần mục lục, bảng chữ cái viết tắt, mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu
tham khảo, luận văn được bố cục thành 03 chương; cụ thể:
- Chương 1. Một số vấn đề lý luận về quy hoạch đô thị và pháp luật về quy
hoạch đô thị
- Chương 2. Thực trạng pháp luật về quy hoạch đô thị và thực tiễn áp dụng tại
thành phố Vĩnh Yên - tỉnh Vĩnh Phúc.
- Chương 3. Định hướng và giải pháp hồn thiện pháp luật về quy hoạch đơ
thị và nâng cao hiệu quả thi hành pháp luật về quy hoạch đô thị tại thành phố Vĩnh
Yên - tỉnh Vĩnh Phúc
9
Chương 1 : MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
VÀ PHÁP LUẬT VỀ QUY HOẠCH ĐÔ THỊ
1.1. Tổng quan về đô thị
1.1.1. Tổng quan về sự phát triển đô thị ở Việt Nam
Hệ thống đô thị của Việt Nam được hình thành và phát triển cùng với
tiến trình phát triển lịch sử của dân tộc. Các đơ thị cổ Việt Nam ban đầu được
hình thành trên cơ sở các trung tâm chính trị và quân sự, ở đó có tịa thành
phục vụ cho mục đích phịng thủ và bên trong là nơi đồn trú của các triều đại
phong kiến. Bên cạnh phần “đơ” cịn tồn tại thì phần “thị”, là nơi tập trung
các thợ thủ cơng sản xuất ra hàng hóa tiêu dùng và một bộ phận dân cư làm
nghề bn bán trao đổi hàng hóa thiết yếu phục vụ cho mục đích sinh hoạt,
thành quách và kinh đô, yếu tố tập trung quan trọng là quyền lực chính trị.
Cịn yếu tố bn bán, thương mại trong thời kỳ này dường như chưa được
phát triển.
Thứ hai, thời kỳ trung đại, đơ thị mang tính chất tự cung tự cấp, “tự sản
- tự tiêu” hay còn gọi là bán nông thôn, bán thành thị.
Thứ ba, thời kỳ cận đại, đa số các đô thị ở Việt Nam phát triển mạnh mẽ
hơn về mọi mặt so với các thời kỳ trước. Đơ thị đã có hoạt động giao lưu bn
bán với nước ngồi bằng nhiều phương thức khác nhau như đường thuỷ, đường
bộ, đường sắt v.v..
Thứ tư, giai đoạn từ năm 1945 - năm 1975. Với đặc điểm lịch sử thời
kỳ này. đất nước bị chia cắt thành hai miền Nam - Bắc nên mỗi vùng, miền lại
có những đặc thù khác nhau và phong phú về sự phát triển kinh tế, về phân bố
quy hoạch, phân bố dân cư, hình thái kiến trúc, cơ sở hạ tầng cũng như sự
phát triển văn hóa, xã hội v.v.. Trong Giai đoạn này, miền Bắc phát triển chủ
yếu dựa trên cơ sở các đô thị công nghiệp - tạo cơ sở vật chất để xây dựng chủ
nghĩa xã hội - như Hà Nội, Hải Phịng, Việt Trì, Thái Ngun v.v..; ở miền
Nam hệ thống đô thị phát triển nhanh như Sài Gòn, Đà Nẵng, Nha Trang,
11
Vũng Tàu v.v.. Tuy nhiên, do hậu quả của 30 năm chiến tranh, các đô thị bị
tàn phá nặng nề và chỉ sau khi đất nước thống nhất (tháng 04/1975) thì bộ mặt
đơ thị ở nước ta mới được hàn gắn, khôi phục và phát triển mạnh mẽ.
Thứ năm, giai đoạn từ năm 1975 đến nay. Trong những năm đầu sau
khi đất nước thống nhất, cả nước bắt tay vào công cuộc tái thiết đất nước,
khắc phục hậu quả của 30 năm chiến tranh. Các đô thị được Nhà nước đầu tư
phát triển từng bước hệ thống cơ sở hạ tầng kỹ thuật. Nhịp sống ở các đô thị
dần chuyển về trạng thái bình thường trong điều kiện đất nước hịa bình. Mật
độ dân số tăng cao, cùng với việc thực hiện công cuộc đổi mới xây dựng nền
Trung Quốc quan niệm, đô thị là một khu thành thị, thành phố và thị trấn
có mật độ dân số cao hơn 1.500 người trên một cây số vuông.
Cùng là một nước Châu Á, Nhật Bản lại đưa ra quan niệm khác về đơ thị;
theo đó, đơ thị là các vùng cận kề nhau gồm các khu dân cư đơng đúc. Điều kiện
cần thiết là đơ thị phải có mật độ dân số trên 4.000 người trên một cây số vuông.
Các quốc gia Châu Âu định nghĩa đô thị dựa trên cơ bản việc sử dụng đất
thuộc đô thị, khơng cho phép có một khoảng trống tiêu biểu nào lớn hơn 200 mét.
Tại các quốc gia kém phát triển thì đơ thị được xác định là khu vực ngồi việc sử
dụng đất và mật độ dân số nhất định thì cịn phải đáp ứng điều kiện là có từ 75%
lao động phi nông nghiệp trở lên trong tổng số dân cư sinh sống tại đô thị.
Ở nước ta, giới sử học quan niệm về đô thị cổ như sau:
“Đô” thường là các lỵ sở của Nhà nước ở trung ương và địa phương, đó
là cung điện, lầu, các, dinh thự, cơng đường, lầu “son” gác “tía”, phủ, dinh,
nơi làm việc của bộ máy quan lại triều đình và địa phương cũng như nơi Vua
ở, nơi quan lại triều đình cùng thân quyến sinh sống v.v..
“Thành” thường là nơi có tính chất phịng thủ và bảo vệ thành, qch,
đồn, lũy vì thành có mối liên hệ mật thiết với đơ vì thành bao bọc kinh đơ, đơ
thị, thị trấn, thị tứ trước các cuộc xâm lăng của ngoại bang cũng như các cuộc
nổi dậy của nông dân chống lại chế độ phong kiến v.v..
“Thị” là nơi kẻ chợ, nơi buôn bán, trao đổi các hàng hóa phục vụ cho
nhu cầu sinh sống của mọi tầng lớp nhân dân; là nơi thu hút người dân buôn
13
bán, sản xuất, tiểu thủ cơng nghiệp. Từ đó thúc đẩy các đô thị phát triển ngày
càng sầm uất. Tùy theo từng phong tục tập quán và địa hình của địa phương
mà các “thị” dần phát triển và có tên là làng, bản, ấp, sóc, trang trại v.v..
Hiện nay, “Đơ thị” là một thuật ngữ được sử dụng phổ biến ở nước ta. Nó
được dùng để phân biệt với khu vực nông thôn, trung du, miền núi. Trong các
“Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao
, chủ yếu hoạt
động trong lĩnh vực kinh tế phi nơng nghiệp, là trung tâm chính trị, hành
chính, kinh tế, văn hóa hoặc chun ngành, có vai trị thúc đẩy sự phát triển
kinh tế - xã hội của quốc gia hoặc của một vùng lãnh thổ, một địa phương
bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã,
thị trấn”. [14, Điề u 3]
Mặc dù có các quan niệm khác nhau về đơ thị song giới nghiên cứu
nước ta vẫn “gặp nhau” ở một điểm chung về đơ thị đó là đơ thị là điểm dân
cư tập trung với mật độ cao, chủ yếu là lao động phi nơng nghiệp, có hạ tầng
cơ sở thích hợp, là trung tâm tổng hợp hay chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy
sự phát triển nền kinh tế - xã hội của cả nước hay một vùng lãnh thổ.
1.1.2.2. Đặc điểm của đơ thị
Đi sâu tìm hiểu về đơ thị ở nước ta cho thấy chúng có những đặc điểm
cơ bản sau đây:
Thứ nhất, đô thị là trung tâm chính trị, kinh tế, văn hố - xã hội của
quốc gia, của một tỉnh, của một huyện. Đây là nơi tập trung trụ sở làm việc
của các cơ quan quản lý nhà nước các cấp từ trung ương đến địa phương. Mặt
khác, đô thị cũng là nơi được các doanh nghiệp, cơng ty lựa chọn đặt trụ sở
chính hoặc chi nhánh, văn phòng đại diện để thuận tiện cho việc giao dịch, đi
lại. Thứ hai, đô thị là nơi tập trung dân cư đơng đúc, có mật độ dân cư/km2
cao hơn so với các khu vực khác trong cả nước. Xét về cơ cấu dân cư, ở đô thị
không chỉ có cán bộ, cơng chức nhà nước, viên chức nhà nước mà cịn có các
thương nhân, tiểu thương, người bn bán nhỏ, người nước ngoài, người lao
động tự do, lao động chân tay v.v sinh sống. Hiện nay, do sự phát triển chênh
lệch về mức sống giữa đô thị và khu vực nơng thơn nên đang diễn ra q trình
di dân tự phát từ nông thôn ra thành thị. Một bộ phận đáng kể người dân sống
16
họ hàng, làng xóm. Cư dân đơ thị có điều kiện tiếp cận với lối sống, văn hố
nước ngồi nhanh hơn nên dễ tiếp thu những giá trị văn hoá mới (cho dù nó
khơng phù hợp với các giá trị đạo đức truyền thống) và có lối sống cởi mở,
“thống” hơn so với người dân nông thôn.
Thứ sáu, đô thị là khu vực có phân khúc thị trường nhà ở, đất ở phát
triển sôi động hơn so với các khu vực khác. Bởi lẽ, do tốc độ phát triển nhanh
và có mức sống cao nên người dân thường có nhu cầu chuyển về sinh sống,
làm việc tại các đô thị. Vì vậy, số lượng các giao dịch mua bán, chuyển
nhượng hoặc thuê, thuê mua nhà ở ngày càng tăng đã góp phần thúc đẩy sự
phát triển của thị trường bất động sản. Mặt khác, thị trường bất động sản ở đô
thị nắm giữ lượng bất động sản là nhà, đất có giá trị lớn lên đến hàng tỷ đơ la
Mỹ.
Thứ bảy, đô thị là khu vực phát triển năng động nhất, là nơi có mức
sống cao và có nhiều tiềm năng, điều kiện cho mỗi người phát huy được năng
lực, khả năng của bản thân. Tuy nhiên, đô thị cũng là nơi phản ánh rõ nét nhất
những mặt trái của cuộc sống hiện đại như tỷ lệ thất nghiệp cao, tệ nạn xã hội,
ô nhiễm môi trường, các khu nhà ổ chuột và nạn ách tắc giao thông v.v.
Từ những đặc điểm cơ bản nêu trên, có thể thấy mỗi đơ thị ở Việt Nam
dù quy mơ nhỏ, trung bình hay lớn đều là đơn vị hành chính thống nhất, khơng
thể chia cắt về mặt lãnh thổ, có kết cấu hạ tầng kỹ thuật và hạ tầng xã hội được
đầu tư đồng bộ, hiện đại. Hơn nữa, chất lượng dịch vụ ở đô thị thường tốt hơn
so với khu vực nông thôn. Dân cư đô thị được hợp thành từ các nhóm người ở
nhiều vùng, miền khác nhau và khơng có sự gắn kết chặt chẽ theo dịng tộc,
cộng đồng tự quản như ở nông thôn.
1.1.2.3. Phân loại đô thị
Mục đích của việc phân loại đơ thị giúp cho cơng tác quản lý hành chính về
thành 6 loại, trong đó đơ thị loại đặc biệt là thành phố trực thuộc Trung ương
có các quận nội thành, huyện ngoại thành và các đô thị trực thuộc. Đô thị loại
I, loại II là thành phố trực thuộc Trung ương có các quận nội thành, huyện
18
ngoại thành và có thể có các đơ thị trực thuộc; là thành phố thuộc tỉnh có các
phường nội thành và các xã ngoại thành. Đô thị loại III là thành phố hoặc thị
xã thuộc tỉnh có các phường nội thành, nội thị và các xã ngoại thành, ngoại
thị. Đô thị loại IV là thị xã thuộc tỉnh có các phường nội thị và các xã ngoại
thị. Đô thị loại IV, đô thị loại V là thị trấn thuộc huyện có các khu phố xây
dựng tập trung và có thể có các điểm dân cư nơng thơn.
Các đơ thị của Việt Nam được phân loại theo tiêu chuẩn sau:
- Đô thị loại đặc biệt phải là thủ đô hoặc đô thị với chức năng trung tâm
kinh tế, chính trị, văn hóa, khoa học, kĩ thuật, du lịch, dịch vụ, trung tâm sản xuất
công nghiệp, đầu mối giao thông vận tải và có vai trị thúc đẩy sự phát triển của cả
nước; có dân số trên 1,5 triệu người; mật độ dân số bình qn từ 15.000
người/km2; tỷ suất hàng hóa cao; tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 90% tổng số
lao động; cơ sở hạ tầng kỹ thuật và mạng lưới cơng trình cơng cộng được xây
dựng đồng bộ và hồn chỉnh. Theo tiêu chí này thì Thủ đơ Hà Nội và TP Hồ Chí
Minh là 02 đơ thị loại đặc biệt.
- Đô thị loại I là trung tâm kinh tế - văn hóa, xã hội, khoa học - kĩ
thuật, du lịch, dịch vụ, trung tâm sản xuất công nghiệp, đầu mối giao thơng
vận tải và có vai trị thúc đẩy sự phát triển của cả nước; có dân số trên 50 vạn
người; mật độ dân số bình quân từ 12.000 người/km2, tỷ suất hàng hóa cao;
tỷ lệ lao động phi nông nghiệp trên 85% tổng số lao động; cơ sở hạ tầng kỹ
thuật và mạng lưới cơng trình cơng cộng được xây dựng đồng bộ và hồn
chỉnh. Theo tiêu chí này Hải Phịng, Đà Nẵng, Cần Thơ, Huế, Vinh, Nha
Trang, Đà Lạt là các đô thị loại I.