ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
QUAN THỊ HỒNG TRÂM
PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN GIẢ TẠO Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Hà Nội – 2017
i
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
KHOA LUẬT
QUAN THỊ HỒNG TRÂM
PHÁP LUẬT VỀ KẾT HÔN GIẢ TẠO Ở
VIỆT NAM HIỆN NAY
Chuyên ngành : Luật Dân sự và Tố tụng dân sự
Mã số
: 60 38 01 03
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Cán bộ hướng dẫn khoa học: PGS.TS HÀ THỊ MAI HIÊN
1.2 Động cơ của kết hôn giả tạo ...................................................................... 11
1.3 Hệ quả của kết hôn giả tạo ........................................................................ 12
1.3.1 Hệ quả về mặt xã hội .............................................................................. 12
1.3.2 Hệ quả về mặt pháp lý ............................................................................ 19
1.4 Sự cần thiết điều chỉnh của pháp luật đối với kết hôn giả tạo................... 21
1.5 Nội dung điều chỉnh của pháp luật Việt Nam đối với kết hôn giả tạo qua
các giai đoạn .................................................................................................... 22
1.5.1 Quy định về kết hôn giả tạo theo pháp luật Việt Nam theo Luật Hơn
nhân và gia đình năm 2000 ............................................................................. 22
1.5.2 Quy định liên quan đến kết hôn giả tạo theo pháp luật Việt Nam trước
thời điểm 1/1/2016 .......................................................................................... 24
1.5.3 Quy định liên quan đến kết hôn giả tạo theo pháp luật Việt Nam sau thời
điểm 1/1/2016 .................................................................................................. 27
1.6 Các yếu tố tác động đến kết hôn giả tạo .................................................... 33
1.6.1 Kinh tế - xã hội ....................................................................................... 33
iv
1.6.2 Văn hóa truyền thống ............................................................................. 33
1.6.3 Cơ chế quản lý và pháp luật .................................................................. 34
1.6.4 Hội nhập quốc tế .................................................................................... 35
1.6.5 Sự phát triển của khoa học kỹ thuật - công nghệ ................................... 36
KẾT LUẬN CHƢƠNG 1................................................................................ 37
CHƢƠNG 2: THỰC TRẠNG PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ KẾT HÔN GIẢ
TẠO VÀ XỬ LÝ KẾT HÔN GIẢ TẠO......................................................... 39
2.1 Căn cứ xác định kết hôn giả tạo ................................................................ 39
2.1.1 Căn cứ vào mục đích của việc kết hơn ................................................... 39
2.1.2 Căn cứ vào quyền và nghĩa vụ về nhân thân giữa vợ chồng ................. 40
2.2 Các trƣờng hợp kết hôn giả tạo cụ thể....................................................... 41
3.3.5 Về cơng tác cán bộ ................................................................................. 85
3.3.6 Hồn thiện các biện pháp xử lý việc kết hôn giả tạo ............................. 86
3.3.7 Giải pháp trong thi hành và áp dụng pháp luật về kết hôn giả tạo ....... 87
3.3.8 Giải pháp về các chính sách kinh tế, xã hội .......................................... 90
KẾT LUẬN ..................................................................................................... 92
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ........................................................ 94
vi
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT
Luật Dân sự
LDS
Luật Tố tụng dân sự
LTTDS
Luật Hơn nhân và gia đình
LHN&GĐ
Luật Hộ tịch
LHT
Tƣ pháp - Hộ tịch
TP-HT
Việt Nam gây ảnh hƣởng đến quản lý nhà nƣớc về hôn nhân và gia đình của
nƣớc ta cũng nhƣ của một số nƣớc ngồi. Tuy nhiên, trong thực tế rất khó
phát hiện và nhận biết đƣợc việc kết hơn giả tạo, vì việc kết hôn này thƣờng
đƣợc sắp đặt, dàn dựng và toàn bộ hồ sơ thủ tục pháp lý là đầy đủ và hợp
pháp. Đặc biệt là việc kết hôn giả tạo đã trở thành một nghề để kinh doanh
trục lợi thông qua hoạt động môi giới.
Việc kết hôn giả tạo theo quy định của nhiều nƣớc là vi phạm pháp
luật, vi phạm các nguyên tắc về hôn nhân và gia đình trong việc xây dựng một
gia đình bền vững, hạnh phúc. Kết hôn giả không chỉ dừng lại ở chỗ xác lập
quan hệ hôn nhân về mặt pháp lý để đạt mục đích nào đó mà cịn có những
vấn đề phức tạp xảy ra nên không thể lƣờng trƣớc đƣợc những hậu quả phát
sinh. Tiềm ẩn những nguy cơ nhƣ nạn bn bán ngƣời xun quốc gia, xâm
phạm tình dục đối với phụ nữ, lợi dụng điểm yếu để đòi hỏi về vật chất hoặc
gây áp lực tinh thần, v.v…Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy
định về vấn đề kết hôn giả tạo tại Khoản 11 Điều 3 và điểm a Khoản 2 Điều
5. Tuy nhiên những quy định này chƣa giải quyết đƣợc các vấn đề phức tạp
xung quanh việc kết hơn giả tạo. Ngồi ra, trong giới khoa học pháp lý vẫn
cịn ít cơng trình nghiên cứu về vấn đề này. Chính vì vậy, tác giả đã lựa chọn
đề tài “Pháp luật về kết hôn giả tạo ở Việt Nam hiện nay” để nghiên cứu
nhằm làm rõ các vấn đề liên quan đến kết hơn giả tạo và góp phần hồn
thiện pháp luật về kết hôn giả tạo ở Việt Nam.
2
2. Mục tiêu nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát: Làm rõ những vấn đề lý luận về kết hôn giả tạo và
thực tiễn xử lý tại Việt Nam cũng nhƣ một số quốc gia nhƣ Anh, Mỹ, Úc.
Phân tích những ảnh hƣởng tiêu cực, hệ lụy của kết hôn giả tạo. Trên cơ sở đó
đề xuất một số giải pháp để hồn thiện pháp luật về kết hơn giả tạo tại Việt
Chƣơng III: Phƣơng hƣớng và giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật về
kết hôn giả tạo ở Việt Nam hiện nay.
4
CHƢƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA PHÁP LUẬT VỀ
KẾT HƠN GIẢ TẠO
1.1
Khái niệm, bản chất của kết hơn giả tạo
1.1.1 Khái niệm kết hôn giả tạo
Trƣớc hết cần khẳng định rằng, kết hôn giả tạo là một khái niệm pháp lý
đƣợc pháp luật quy định và điều chỉnh bởi Luật Hơn nhân và gia đình năm
2014. Theo đó: “Kết hôn giả tạo là việc lợi dụng kết hôn để xuất cảnh, nhập
cảnh, cư trú, nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nước ngoài; hưởng chế độ
ưu đãi của Nhà nước hoặc để đạt được mục đích khác mà khơng nhằm mục
đích xây dựng gia đình”(Khoản 11 Điều 3). Đây là quy định mới của Luật
Hôn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014. Luật Hơn nhân và gia đình năm
2000 có quy định cấm kết hơn giả tạo tại Khoản 2 Điều 4 về Bảo vệ chế độ
hôn nhân và gia đình nhƣng khơng giải thích từ ngữ thế nào là “kết hôn giả
tạo”, cũng không quy định việc kết hôn giả tạo nằm trong các trƣờng hợp
cấm kết hôn quy định tại Điều 10. Việc bỏ ngỏ quy định về kết hôn giả tạo
đã khiến các cơ quan nhà nƣớc lúng túng trong việc xác định thế nào là kết
hôn giả tạo, trƣờng hợp nào cấm và trƣờng hợp nào không cấm (điều này sẽ
đƣợc đề cập lại và giải thích rõ hơn trong chƣơng II của luận văn này). Đến
Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014 đã có quy địnhkết hơn giả tạo, ly hơn
giả tạo vào các hành vi bị cấm tại Khoản 2 Điều 5, đồng thời giải thích khái
niệm kết hơn giả tạo tại khoản 11 Điều 3, tạo căn cứ pháp lý giải quyết các
bày trên đây có thể nhận xét rằng: Khái niệm về kết hơn giả tạo trong Luật
Hơn nhân và gia đình Việt Nam năm 2014 không những liệt kê lại các trƣờng
hợp mà pháp luật nƣớc Anh và Mỹ đề cập đến, mà cịn bổ sung thêm và cụ
thể hóa mục đích của kết hôn giả tạo dựa theo điều kiện kinh tế xã hội của
Việt Nam hiện nay, trong đó các mục đích gồm: xuất cảnh, nhập cảnh, cƣ trú,
nhập quốc tịch Việt Nam, quốc tịch nƣớc ngoài; hƣởng chế độ ƣu đãi của
Nhà nƣớc hoặc mục đích khác mà khơng nhằm mục đích xây dựng gia đình.
6
Ngồi ra, Bộ Luật Dân sự năm 2015 có quy định về giao dịch dân sự vô
hiệu do giả tạo, theo đó, khi các bên xác lập giao dịch dân sự một cách giả
tạo nhằm che giấu một giao dịch dân sự khác thì giao dịch dân sự giả tạo vơ
hiệu, cịn giao dịch dân sự bị che giấu vẫn có hiệu lực. Từ những khái niệm
trên, có thể xây dựng khái niệm về kết hôn giả tạo theo quan điểm của tác
giả nhƣ sau: “Kết hôn giả tạo là việc kết hơn để che giấu những mục đích
khác mà khơng nhằm xây dựng gia đình”, khái niệm nhƣ vậy vừa khơng cần
liệt kê dài dịng mà vẫn bao qt đƣợc các mục đích đã đƣợc Luật Hơn nhân
và gia đình năm 2014 liệt kê, vừa có bóng dáng của giao dịch dân sự giả tạo
theo Luật Dân sự năm 2015 để khi xử lý việc kết hôn giả tạo có thể áp dụng
các quy định của pháp luật về giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo.
1.1.2 Bản chất của kết hôn giả tạo
Trƣớc hết kết hôn giả tạo là biến thể mới của hôn nhân hiện đại. Cũng
giống nhƣ cuộc hơn nhân bình thƣờng khác cũng đƣợc xã hội thừa nhận và
đƣợc pháp luật bảo hộ, cho đến khi có bằng chứng chứng minh việc kết hơn
đó là giả thì ta mới biết đƣợc có sự giả tạo trong việc kết hơn. Nói một cách
khách quan rằng hơn nhân giả tạo là cuộc hơn nhân có đầy đủ giá trị về mặt
pháp lý; điều kiện kết hôn đều đáp ứng theo đúng quy định của pháp luật.
Nhƣng cịn về mục đích chung sống và xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng,
cơ sở kết hơn có thể nhập cảnh, nhập hộ khẩu...
Nếu xét từ góc độ các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng, bao gồm: sự
ƣng thuận, năng lực giao kết hợp đồng, đối tƣợng của hợp đồng và nguyên
nhân của nghĩa vụ hợp đồng, thì việc kết hơn giả tạo đáp ứng đủ cả điều kiện
về sự ƣng thuận. Nghĩa là hai bên nam nữ khi tiến hành kết hôn không bị
nhầm lẫn, không bị lừa dối, khơng bị đe dọa mà hồn tồn tự nguyện kết hôn.
Việc kết hôn giả tạo cũng đáp ứng cả điều kiện về năng lực giao kết hợp
đồng, tức là, hai bên nam nữ khi kết hôn đều nhận thức và làm chủ đƣợc hành
vi của mình. Qua đó, có thể thấy rằng, việc kết hơn giả tạo vi phạm điều kiện
8
về nguyên nhân, theo tác giả Vũ Văn Mẫu, nguyên nhân đƣợc hiểu theo hai
cách: thứ nhất, nguyên nhân của nghĩa vụ là sự trơng đợi những gì mà ngƣời
đối ƣớc phải thực hiện cho mình; thứ hai, nguyên nhân là động lực thúc đẩy
giao kết hợp đồng. Đối với việc kết hôn giả tạo, động lực thúc đẩy việc kết
hơn xuất phát từ mục đích cá nhân của các bên, trong đó chủ yếu là mục đích
xuất cảnh, nhập cảnh, cƣ trú, nhập quốc tịch nƣớc ngoài, hƣởng chế độ ƣu đãi
của nhà nƣớc và mục đích khác mà khơng nhằm xây dựng gia đình.
1.1.3 Phân biệt kết hơn giả tạo và giao dịch dân sự giả tạo
Điều 124 Bộ Luật Dân sự năm 2015 có quy định về giao dịch dân sự
vơ hiệu do giả tạo, theo đó, có hai trƣờng hợp giả tạo: Trƣờng hợp thứ nhất là
giả tạo nhằm che giấu một giao dịch khác. Khi đó giao dịch giả tạo vơ hiệu,
cịn giao dịch bị che giấu vẫn có hiệu lực, nếu nhƣ giao dịch bị che giấu đó
đáp ứng đầy đủ các điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự. Trƣờng hợp
thứ hai là giao dịch giả tạo nhằm trốn tránh nghĩa vụ với ngƣời thứ ba, khi đó
hợp đồng giả tạo đó sẽ bị vơ hiệu. Điều luật này cho rằng việc xác lập giao
dịch giả tạo phải có từ hai bên trở lên, nên mới sử dụng từ “các bên”. Giao
dịch dân sự này có đặc điểm là các bên giao dịch hoàn toàn tự nguyện xác lập
giả tạo không thể theo thoả thuận giữa các bên hoặc không do một bên đơn
phƣơng huỷ bỏ nhƣ trong hợp đồng, mà phải diễn ra theo thủ tục tố tụng tại
Tồ án. Ngƣời khởi kiện khơng chỉ một trong hai bên kết hơn mà cịn có thể
do các cơ quan, tổ chức, cá nhân khác thực hiện. Một việc kết hôn chỉ bị coi
là trái pháp luật và bị huỷ bỏ khi có bản án hoặc quyết định của Tồ án tun
bố về việc đó. Một hợp đồng có thể chấm dứt do các bên trong hợp đồng thoả
thuận hoặc do ý chí đơn phƣơng của một bên, mà khơng cần có phán quyết
của Tồ án. Trong khi đó, một quan hệ hơn nhân chỉ chấm dứt khi có bản án,
quyết định của Tồ án xử cho ly hơn hoặc cơng nhận thuận tình ly hơn. Pháp
luật đảm bảo quyền tự do ly hôn của vợ chồng, nhƣng sự thoả thuận của hai
10
vợ chồng vẫn có thể bị Tồ án bác u cầu, nếu sự thuận tình ly hơn khơng
xuất phát từ lợi ích chung của gia đình.
Với những điểm khác biệt cơ bản nói trên, theo tác giả, khơng thể đồng
nhất việc kết hôn giả tạo và giao dịch dân sự giả tạo, cũng có nghĩa là khơng
thể xác định kết hôn giả tạo là giao dịch dân sự vô hiệu do giả tạo, mà nên xác
định kết hôn giả tạo bị vô hiệu do vi phạm điều cấm của pháp luật, cụ thể là vi
phạm Khoản 2 Điều 5 Luật Hơn nhân và gia đình năm 2014.
1.2
Động cơ của kết hơn giả tạo
Có rất nhiều động cơ dẫn đến việc kết hơn giả tạo, trong đó có thể kể
đến nhƣ: lợi dụng kết hôn giả tạo để xuất cảnh, chủ yếu xảy ra trong trƣờng
hợp ngƣời Việt Nam xuất cảnh ra nƣớc ngồi mà ít xảy ra theo hƣớng ngƣợc
lại. Lợi dụng kết hôn giả tạo để nhập cảnh, xuất hiện cả trong trƣờng hợp
ngƣời nƣớc ngoài nhập cảnh tại Việt Nam và ngƣời Việt Nam nhập cảnh tại
thì xã hội mới tốt. Một gia đình đƣợc hình thành và tồn tại để thực hiện tốt
những chức năng của nó phải đƣợc xây dựng trên cơ sở tình yêu của hai bên
nam nữ, sự thƣơng yêu, gắn kết và tự nguyện chung sống, thực hiện tốt bổn
phận của mình, phải đƣợc thiết lập giữa những chủ thể khác giới có đầy đủ
những tiêu chuẩn về thể lực, sinh lý, tâm lý. Hành vi kết hơn giả tạo dù ở
phƣơng diện nào thì ít hay nhiều đều gây hậu quả xấu cho xã hội. Xã hội
muốn tốt thì bản thân mỗi thành phần trong xã hội phải tốt, mà gia đình là
thành phần của xã hội. Do đó cần phải tránh và khắc phục các trƣờng hợp kết
hơn giả tạo [6].
Có thể khái qt các ảnh hƣởng về mặt xã hội từ việc kết hôn giả tạo
nhƣ sau:
1.3.1.1 Trục lợi từ việc kết hôn giả tạo
Kết hôn giả tạo là việc kết hôn không nhằm xây dựng hạnh phúc gia
đình, thƣờng là nhờ vào kết hơn để thực hiện ý định nào đó có lợi cho ngƣời
kết hơn. Những lợi ích mà ngƣời kết hơn giả đạt đến theo ý chí chủ quan của
12
họ thì khơng gây ảnh hƣởng gì đối với xã hội, đơn cử đối với trƣờng hợp kết
hôn giả để đi nƣớc ngoài lao động, gửi ngoại tệ về cho gia đình, nhằm cải
thiện cuộc sống vốn đã khó khăn trong nƣớc. Trong trƣờng hợp này, ngƣời
kết hơn giả có mục đích cải thiện cuộc sống cho gia đình mình. Hoặc trƣờng
hợp cha mẹ không muốn sống chung với nhau nhƣng vì muốn cho con mình
có ý nghĩ tốt về hôn nhân, muốn cho con đƣợc giáo dục tốt hơn mà kết hơn
giả tạo. Kết hơn giả có những lý do khác nhau, tuy có một số mặt tích cực
nhƣng mặt khác, các chủ thể cũng không thể lƣờng trƣớc đƣợc những hậu quả
tiêu cực phát sinh.
Khi việc kết hôn giả để bảo lãnh cho công dân Việt Nam sang nƣớc
ngồi lao động ngày càng trở nên phổ biến thì sẽ có những trƣờng hợp lợi
cá nhân, doanh nghiệp Đài Loan để đƣa lao động sang làm việc tại những
cơng xƣởng nhỏ, nơi có nhu cầu tiếp nhận lao động bất hợp pháp vì có thể trả
lƣơng thấp, khơng phải đống bảo hiểm lao động, bảo hiểm y tế. Để đƣa lao
động sang Đài Loan, các công ty môi giới đã sử dụng hình thức kết hơn giả
tạo. Với lý do là so với xin visa cho lao động cơng xƣởng nhập cảnh thì việc
xin visa cho các cơ gái Việt Nam sang thăm chồng dễ dàng hơn. Ngƣời lao
động không biết đƣợc cách thức mà các công ty mơi giới đƣa mình sang Đài
Loan dƣới hình thức kết hôn giả tạo này [2]. Sự thật vỡ lở khi sang đến Đài
Loan, họ phải ký vào giấy kết hôn để công ty môi giới đƣa đi khám sức khỏe,
rồi làm thẻ cƣ trú (mỗi năm gia hạn một lần). Biết là bị lừa, nhƣng vì khoản
tiền đã nộp cho công ty môi giới khoảng 6000 USD, đa phần chấp nhận ở lại
làm việc bất hợp pháp theo sự bố trí của cơng ty mơi giới. Dĩ nhiên, nhập
cảnh theo diện kết hôn giả tạo bị coi là bất hợp pháp ở Đài Loan, nếu bị phát
hiện rất có thể bị bắt và phạt tù.
Dĩ nhiên có ngƣời trục lợi sẽ có ngƣời tiền mất tật mang. Bỏ ra một số
tiền lớn cho dịch vụ kết hơn giả vì mục đích xuất khẩu lao động hoặc nhập
tịch nhƣng rất nhiều trƣờng hợp tiền mất tật mang. Qua thẩm tra thông tin của
14
cơ quan chức năng, nhiều trƣờng hợp kết hôn giả bị lật tẩy khơng thể đi lao
động nƣớc ngồi và mất toi một khoản tiền lớn thƣờng là vay mƣợn.Với
những ngƣời trót lọt ra nƣớc ngồi cũng phải sống trong cảnh nơm nớp lo bị
an ninh sở tại phát hiện kết hơn giả và trục xuất.
Tại các nƣớc có số ngƣời nhập tịch thông qua kết hôn giả cao nhƣ Úc,
Mỹ, nhà chức trách kiểm tra tình trạng hơn nhân thực tế cực kì gắt gao. Một
cơ gái có hợp đồng kết hôn giả để nhập tịch vào Úc cho biết đó là một hành
trình khổ ải. Ngồi khoản chi phí lên tới 50.000 USD, cơ phải sắp xếp ngủ
chung nhà mỗi tuần ít nhất vài đêm để phịng nhân viên Bộ Di trú tới kiểm tra
phụ nữ Việt Nam sau hơn nửa tháng nhập cảnh Hàn Quốc đã điện thoại đến
Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc cầu cứu. Nguyên nhân là do sau khi lấy
chồng qua môi giới, chị phát hiện ngƣời chồng mắc bệnh về tâm lý, thƣờng
xuyên đánh đập chị. Không chịu nổi cuộc sống nhƣ vậy chị đã nhảy xuống
sơng gần nhà bỏ trốn, ngón chân của chị bị vật nhọn dƣới sơng cứa sắp đứt
lìa. Ngƣời dân ở gần đó cho biết, con sơng này rất nguy hiểm và có nhiều đá
nhọn, ngay cả dân địa phƣơng cũng khơng dám xuống. Sau đó, chị đƣợc cảnh
sát Hàn Quốc cứu và cho tá túc trong đồn, sau đó giúp làm thủ tục ly hơn. Sau
khi kiểm tra thấy chồng chị mắc bệnh tâm thần, Tòa án Hàn Quốc xử cho chị
ly hôn. Đại sứ quán Việt Nam tại Hàn Quốc đã liên hệ với Hiệp hội tƣ vấn kết
hôn quốc tế thu xếp vé máy bay cho chị về nƣớc [2]. Hội Liên hiệp phụ nữ
Việt Nam và một số ngành chức năng cho biết, trƣờng hợp vừa kể trên đây là
một trong những trƣờng hợp may mắn đƣợc giải cứu. Có thể cịn nhiều trƣờng
hợp khác bị những ngƣời môi giới hôn nhân lừa gạt và chịu hồn cảnh khó
khăn nơi đất khách.
Theo số liệu thống kê thì gần 60% các cuộc hơn nhân giữa phụ nữ Việt
Nam với ngƣời nƣớc ngồi thơng qua mơi giới bất hợp pháp. Thông qua các
cuộc xem mặt, tuyển lựa phụ nữ Việt để làm vợ cho một số đàn ông nƣớc
ngoài khiến nhân phẩm, giá trị con ngƣời của phụ nữ Việt bị hạ thấp, các cô
gái đƣợc ngƣời ta coi nhƣ món hàng để khách hàng lựa chọn. Cần nhấn mạnh
rằng hôn nhân qua môi giới bất hợp pháp còn ẩn chứa nhiều nguy cơ gây mất
trật tự xã hội. Những chú rể nơi đất khách nhờ đến môi giới hôn nhân chủ yếu
16
là những ngƣời có mức sống trung bình, thuộc tầng lớp công nhân, nông dân.
Nhờ đến môi giới hôn nhân để tìm đƣợc một ngƣời vợ phù hợp với túi tiền
của mình, mà với số tiền đó họ khó có thể tìm đƣợc một ngƣời vợ tại nƣớc
của họ.
Tình trạng kết hơn giả bắt đầu xuất hiện từ khá sớm và rộ lên trong
những năm 2008, 2009, 2010.Đã có thời xã Tam Dị huyện Lục Nam tỉnh Bắc
Giang đƣợc coi là điểm nóng về kết hơn giả. Theo thống kê của cơ quan chức
năng, từ năm 2008 đến tháng 3/2010, tại xã có hơn 160 ngƣời kết hơn với
ngƣời nƣớc ngoài, chủ yếu là các nƣớc Hàn Quốc, Đài Loan, Ma Cao…
Trong nhiều trƣờng hợp, việc kết hôn giả bất thành tạo trở ngại pháp lí lớn
sau này cho đối tƣợng kết hôn giả và con cái họ.
Cụ thể nhƣ trƣờng hợp chị X đã làm thủ tục kết hôn với một ngƣời đàn
ông Hàn Quốc nhƣng việc xuất cảnh bất thành. Chị này từ bỏ và sau đó cƣới
một ngƣời cùng làng, chấp nhận khơng đƣợc làm thủ tục đăng kí kết hơn với
ngƣời chồng thực sự vì đang có hơn nhân hợp pháp với ngƣời Hàn Quốc.Thế
nhƣng khi đứa con sinh ra không đƣợc cấp giấy khai sinh do chị X cần có đơn
li hơn với ngƣời chồng Hàn Quốc hoặc làm đơn cam đoan con mình sinh ra
ngồi giá thú và chỉ đƣợc mang họ mẹ [4]. Việc kết hơn giả của ngƣời mẹ vơ
hình trung đã xâm phạm tới quyền của đứa trẻ, theo Công ƣớc Quốc tế về
quyền trẻ em và Luật Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em Việt Nam quy
định, mọi trẻ em sinh ra đều có quyền bình đẳng, một trong những quyền đó
là đƣợc khai sinh.
1.3.1.5
Ảnh hưởng xã hội khác do kết hôn giả tạo
Việc kết hôn giả tạo giữa phụ nữ Việt Nam và đàn ông nƣớc ngoài diễn
ra ngày càng phổ biến, đến nỗi để lại hình ảnh khơng đẹp của ngƣời phụ nữ
Việt Nam trong mắt bạn bè quốc tế. Hiện nay ở Hàn Quốc, trên bất kỳ nhật
báo nào cũng dễ dàng tìm thấy những lời quảng cáo nhƣ “Cô dâu Việt Nam
sẵn sàng chỉ cần ý định của bạn”, “Ngƣời già, ngƣời muốn tái hơn, ngƣời đã
có con, ngƣời khuyết tật đều có thể lấy vợ Việt Nam xinh đẹp”…[7]. Những
giả tạo của các chủ thể rất khó khăn, bởi nó thuộc về ý chí chủ quan của các
bên tham gia vào cuộc hôn nhân. Ảnh hƣởng về mặt pháp lý của kết hôn giả
19