ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------
DỖN THỊ BÌNH
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHUYỂN
ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM KHI THU HỒI ĐẤT NÔNG
NGHIỆP Ở HUYỆN TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Hà Nội - 2011
1
ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC TỰ NHIÊN
------------------
DỖN THỊ BÌNH
ĐÁNH GIÁ VIỆC THỰC HIỆN CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ
CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM KHI THU HỒI ĐẤT
NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TỪ LIÊM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC
Chuyên ngành: Địa Chính
Mã số
19
1.3. Sự cần thiết tạo việc làm cho lao động thuộc diện bị thu hồi đất nơng
nghiệp do q trình đơ thị hố
31
1.4. Kinh nghiệm của một số nước trong vấn đề thu hồi đất và giải quyết
việc làm cho người dân
33
Chƣơng 2: PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI
NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO NGƢỜI LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN
THU HỒI ĐẤT NÔNG NGHIỆP Ở HUYỆN TỪ LIÊM
38
2.1. Khái quát chung về địa bàn nghiên cứu
38
2.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội
38
2.1.2. Tình hình quản lý, sử dụng đất của huyện Từ Liêm
41
2.3.3. Thực trạng công tác hỗ trợ tạo việc làm mới
76
2.4. Những vấn đề bất cập của các chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và
tạo việc làm cho người dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyện
Từ Liêm
79
3
Chƣơng 3: ĐỀ XUẤT GIẢI PHÁP NHẰM HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI
NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO LAO ĐỘNG THUỘC DIỆN THU HỒI
ĐẤT NÔNG NGHIỆP TẠI HUYỆN TỪ LIÊM
84
3.1. Phương hướng phát triển kinh tế trên địa bàn huyện Từ Liêm giai
đoạn 2011 – 2015
84
3.2. Quan điểm về hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho người lao
động bị thu hồi đất nơng nghiệp do q trình đơ thị hố ở huyện Từ Liêm
85
3.3. Giải pháp về hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm
Khu cơng nghiệp
NĐ-CP
Nghị định - Chính phủ
QĐ-CP
Quyết định - Chính phủ
UBND
Ủy ban nhân dân
TTCN
Tiểu thủ cơng nghiệp
HTX
Hợp tác xã
TTGTVL
Trung tâm giới thiệu việc làm
GTVL
Giới thiệu việc làm
Bảng 2.15: Tình hình việc làm của lao động trong diện bị thu hồi đất nông nghiệp
tại 05 xã: Xuân Phương, Đơng Ngạc, Mễ Trì, Mỹ Đình, Phú Diễn………………62
Bảng 2.16: Việc làm trước và sau khi diễn ra thu hồi đất của lao động trong các hộ
gia đình……………………………………………………………………………65
Bảng 2.17: Tổng hợp các hộ mất đất từ ngày 1/1/2008 đến 30/9/2009 trên địa bàn
huyện Từ Liêm……………………………………………………………………69
Bảng 2.18: Hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho các hộ mất đất trên 30% từ
ngày 1/1/2008 đến 30/9/2009 tại huyện Từ Liêm………………………………...71
Bảng 2.19: Tình hình hỗ trợ đền bù và thực trạng đời sống của các hộ dân……...72
6
Bảng 2.20: Tỷ lệ người lao động được trợ giúp sau khi thu hồi đất………………73
Bảng 2.21: Kết quả đăng ký dạy nghề, học nghề năm 2011 tại huyện Từ Liêm…75
Bảng 2.22: Khu vực làm việc trước và sau khi diễn ra việc thu hồi đất…………..78
Bảng 2.23: Tình hình tuyển dụng lao động NN trên đại bàn huyện Từ Liêm…….78
Bảng 2.24: Mục đích sử dụng tiền đền bù khi thu hồi đất của các hộ gia đình…...80
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Biều đồ 2.1: Biến động các loại đất giai đoạn 2006-2011………………………...45
PHIẾU ĐIỀU TRA
Phiếu số 01: Nguyễn Thị Mận - xã Xuân Phương
Phiếu số 38: Hồng Thị Lương - xã Đơng Ngạc
Phiếu số 60: Ngơ Văn Lịch - xã Mễ Trì
Phiếu số 120: Nguyễn Thị Gấm - xã Mỹ Đình
Phiếu số 135: Nguyễn Ngọc Vàng - xã Phú Diễn
7
đây là cơ cấu lao động và việc làm của người nơng dân có đất nơng nghiệp bị
8
thu hồi đã chuyển đổi như thế nào? Người dân đã thực hiện những chiến lược
sinh kế như thế nào để có thể thích nghi với hồn cảnh và điều kiện sống mới?
Và Nhà nước ta đã có những giải pháp, chính sách như thế nào để hỗ trợ, giúp
đỡ người dân ổn định đời sống và sản xuất?
Từ tính cấp thiết trên tôi đã chọn nghiên cứu đề tài: “Đánh giá việc thực
hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm khi thu hồi đất nông
nghiệp ở huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội”
2. Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc
làm cho lao động bị thu hồi đất nông nghiệp trên địa bàn huyê ̣n Từ Liêm giai đoạn
2000-2011.
- Đề xuất các giải pháp hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho người
lao động nông nghiệp bị thu hồi đất trên địa bàn huyê ̣n Từ Liêm.
3. Giới hạn phạm vi, nội dung nghiên cứu
- Phạm vi nghiên cứu: huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
- Nội dung nghiên cứu: Tập trung nghiên cứu đánh giá tình hình thực hiện
chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho người lao động bị thu hồi
đất nông nghiệp trên địa bàn huyện Từ Liêm, thành phố Hà Nội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tổng quan một số vấn đề về thu hồi đất nơng nghiệp và các chính sách hỗ
trợ giải quyết việc làm cho người có đất nơng nghiệp bị thu hồi
- Điề u tra , khảo sát làm rõ thực trạng việc làm của
người lao động có đất
nơng nghiệp bị thu hồi và tình hình thực hiện chính sách hỗ trợ chuyển đổi nghề,
Chƣơng 1: Tổng quan các vấn đề về thu hồi đất nông nghiệp và các chính sách
hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm cho người có đất nơng nghiệp bị thu hồi.
Chƣơng 2: Phân tích thực tra ̣ng hỗ trợ chuyển đổi nghề và ta ̣o viê ̣c làm cho
người lao đô ̣ng thuô ̣c diê ̣n thu hồ i đấ t nông nghiê ̣p ở huyê ̣n Từ Liêm.
Chƣơng 3: Đề xuất giải pháp nhằm hỗ trợ chuyển đổi nghề và tạo việc làm
cho lao đô ̣ng thuô ̣c diê ̣n thu hồ i đấ t nông nghiê ̣p tại huyê ̣n Từ Liêm.
10
CHƢƠNG 1
TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ VỀ THU HỒI ĐẤT NƠNG NGHIỆP VÀ CÁC
CHÍNH SÁCH HỖ TRỢ CHUYỂN ĐỔI NGHỀ VÀ TẠO VIỆC LÀM CHO
NGƢỜI CĨ ĐẤT NƠNG NGHIỆP BỊ THU HỒI
1.1. Vấn đề thu hồi đất nông nghiệp trong q trình cơng nghiệp hóa, đơ
thị hóa ở Viêt Nam
1.1.1. Cơng nghiệp hố, đơ thị hố và sự cần thiết phải thu hồi đất
1.1.1.1. Một số khái niệm có liên quan đến thu hồi đất, bồi thường khi thu
hồi đất
Theo Luật đất đai năm 2003 và đại từ điển Tiếng Việt, các khái niệm có liên
quan đến thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ khi thu hồi đất được định nghĩa như sau:
Thu hồi đất là việc Nhà nước ra quyết định hành chính để thu lại quyền sử dụng
đất hoặc thu lại đất đã giao cho tổ chức, UBND xã, phường, thị trấn quản lý [17].
Bồi thường là đền bù những tổn hại đã gây ra, trả lại tương xứng với giá trị
hoặc công lao [23]. Như vậy, bồi thường là trả lại tương xứng với giá trị hoặc cơng
lao cho một chủ thể nào đó bị thiệt hại vì hành vi của chủ thể khác.
Bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước trả lại giá trị quyền sử
dụng đất đối với diện tích đất bị thu hồi cho người bị thu hồi đất [17].
Hỗ trợ khi nhà nước thu hồi đất là việc Nhà nước giúp đỡ người bị thu hồi đất
giới. Trong thời đại khoa học - công nghệ phát triển nhanh, thì CNH - HĐH và đơ
thị hố là con đường giúp cho các nước chậm phát triển rút ngắn thời gian so với
các nước đi trước.
Thực tiễn phát triển của nhiều quốc gia trong những năm gần đây cho thấy,
CNH - HĐH và đơ thị hố là nhân tố quyết định làm thay đổi căn bản phương thức
sản xuất, chuyển nền kinh tế từ sản xuất nông nghiệp truyền thống, tiểu nông sang
phương thức sản xuất mới, hiện đại, do đó cũng làm thay đổi nội dung kinh tế - xã
hội nông thôn. Trong nền kinh tế hiện đại, CNH - HĐH và đơ thị hố có sự gắn bó
chặt chẽ với nhau, tạo thành một tiến trình thống nhất thúc đẩy sự phát triển kinh
tế, xã hội.
Trong quá trình CNH - HĐH, tiến trình phát triển xã hội đã có sự thay đổi
cơ bản đó là: Phát triển đô thị kèm theo sự thu hẹp xã hội nông thôn, làm thay đổi
căn bản xã hội nông thôn theo hướng cơng nghiệp. Hiện tượng đơ thị hố được
xem như là một trong những nét đặc trưng nhất của sự biến đổi xã hội trong thời
12
đại ngày nay. Cùng với q trình đơ thị hố, cơng nghiệp hố được xem như một
khía cạnh quan trọng của sự vận động đi lên của xã hội. Đô thị hố là một q trình
lịch sử trong đó nổi lên một vấn đề kinh tế - xã hội là nâng cao vai trị của đơ thị
trong sự phát triển mọi mặt của xã hội. Quá trình này bao gồm sự thay đổi trong
phân bố lực lượng sản xuất, trước hết là trong sự phân bố dân cư, trong kết cấu
nghề nghiệp - xã hội, kết cấu dân số, trong lối sống, văn hoá.
Tuy nhiên, bên cạnh những mặt thuận lợi đối với sản xuất và đời sống con
người, sự phát triển nhanh chóng của các đơ thị cũng là nguyên nhân chính gây ảnh
hưởng đến cân bằng sinh thái do tài nguyên đất bị khai thác để xây dựng đơ thị,
giảm diện tích cây xanh và mặt nước, bùng nổ giao thơng cơ giới. Cùng với đó là
sự gia tăng khối lượng khai thác và sử dụng nguồn nước sạch, mức độ ô nhiễm các
chất thải công nghiệp và sinh hoạt ngày càng một lớn. Ngoài ra, sự gia tăng dịng
người di dân từ nơng thơn ra đơ thị cũng gây nên những áp lực đáng kể về nhà ở và
1.1.1.3. Sự cần thiết phải chuyển đổi mục đích sử dụng đất để thực hiện
cơng nghiệp hố và đơ thị ở nước ta
Việc thu hồi đất để xây dựng các KCN, khu đô thị, kết cấu hạ tầng kinh tế - xã
hội ở nước ta được tiến hành mạnh mẽ từ khi thực hiện đường lối đổi mới, chuyển
nền kinh tế từ nền kinh tế thành phần tập trung sang nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa. Quá trình này được thúc đẩy nhanh hơn từ trước năm 1990,
khi nền kinh tế nước ta bước vào giai đoạn đẩy mạnh CNH - HĐH. Đại hội Đảng
toàn quốc lần thứ IX đã xác định rõ: Đẩy mạnh CNH - HĐH, xây dựng nền kinh tế
độc lập, tự chủ,…tạo nền tảng để đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành một nước
công nghiệp theo hướng hiện đại [24].
Cùng với CNH - HĐH nền kinh tế, nhiệm vụ xây dựng đồng bộ và từng
bước hiện đại hoá hệ thống kết cấu hạ tầng được đặt ra một cách cấp thiết. Tiến
trình CNH - HĐH ở nước ta từ những năm 1990 được gắn liền với đơ thị hố cả về
chiều rộng và chiều sâu. Chiến lược phát triển đô thị Việt Nam thời kỳ 1996 - 2020
xác định mục tiêu phát triển đô thị cả nước đến năm 2020 là: Xây dựng tương đối
hoàn chỉnh đơ thị cả nước, có kết cấu hạ tầng kinh tế kỹ thuật hiện đại, có mơi
trường đơ thị trong sạch, được phân bổ phát triển hợp lý trên địa bàn cả nước,…
phấn đấu đến năm 2020, dân số đô thị chiếm khoảng 45% dân số cả nước.
Việc thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta trong những năm gần đây gắn với sự
14
chuyển đổi mục đích sử dụng sang các loại đất phi nơng nghiệp. Nhờ đó đã xây
dựng được nhiều KCN, các cụm công nghiệp, mở rộng và xây dựng mới các khu
đô thị, hệ thống kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội giao thơng, cấp điện, cấp thốt
nước, thơng tin liên lạc, trường học, bệnh viện,… hồn thiện và phát triển các cơ
sở dịch vụ như khách sạn, nhà hàng, siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm dịch
vụ, du lịch; mở rộng và xây dựng mới các khu vui chơi giải trí, cơng viên, cây
xanh,… chính điều đó làm cho q trình CNH - HĐH có bước tiến đáng kể, q
trình đơ thị hố diễn ra mạnh mẽ hơn.
nghiệp bị thu hồi có thể tăng lên gấp đơi [27].
Thực tế cho thấy những diện tích đất bị thu hồi chủ yếu nằm ở những khu vực
đông dân, có tốc độ phát triển nhanh, một số địa phương có điều kiện thuận lợi, nhất
là gần các sân bay, bến cảng, các đầu mối giao thông đường sắt, đường bộ, gần các
trung tâm kinh tế lớn của đất nước. Hơn nữa, mức độ thu hồi đất còn phụ thuộc lớn
vào những tỉnh, thành phố có đội ngũ cán bộ có năng lực, năng động, sáng tạo và có
chính sách cởi mở, phù hợp với xu thế phát triển của địa phương.
Diện tích đất nơng nghiệp của các tỉnh, thành phố bị thu hồi nhiều được
trình bày ở bảng sau:
Bảng 1.1. Tình hình thu hồi đất ở một số địa phƣơng trên cả nƣớc
(Tính đến tháng 3/2011)
TT
Tỉnh, thành phố
Tổng diện tích
Diện tích đất nơng
Tỷ lệ đất nơng
đất nơng nghiệp
nghiệp bị thu hồi
nghiệp bị thu hồi
ha
1
4
Hưng Yên
52.217,00
33.296,65
55,4
5
Hải Dương
101.667,00
39.203,25
36,3
6
Vĩnh Phúc
89.711,34
43.490,44
46,04
xây dựng các khu công nghiệp, khu đơ thị.
1.2. Các chính sách thu hồi, bồi thƣờng đất nông nghiệp và hỗ trợ
chuyển đổi nghề, tạo việc làm cho ngƣời có đất nơng nghiệp bị thu hồi
1.2.1. Chính sách thu hồi, bồi thường đất nơng nghiệp và hỗ trợ chuyển
đổi nghề, tạo việc làm ở Việt Nam qua các thời kỳ
Qua nghiên cứu cách chính sách thu hồi đất nông nghiệp ở nước ta cho thấy
các quy định của pháp luật về thu hồi đất nông nghiệp ngày càng phù hợp hơn với
yêu cầu thực tế cũng như yêu cầu của các quy luật kinh tế. Các chính sách được thể
hiện qua các giai đoạn của quá trình áp dụng Luật đất đai, cụ thể như sau:
1.2.1.1. Trước khi có Luật đất đai 1993
Ngày 14 tháng 4 năm 1959, Thủ tướng chính phủ đã ban hành Nghị định
151/TTg quy định thể lệ tạm thời về trưng dụng ruộng đất có nội dung: “Những
người có ruộng đất bị trưng dụng được bồi thường và trong trường hợp cần thiết
được giúp giải quyết công việc làm ăn”
Ngày 11 tháng 01 năm 1970 Thủ tướng chính phủ đã ban hành Thông tư
1792/TTg quy định một số điểm tạm thời về bồi thường thiệt hại nhà cửa, đất đai,
cây cối hoa màu cho nhân dân ở những vùng xây dựng kinh tế, mở rộng thành phố
trên nguyên tắc “Phải đảm bảo thoả đáng quyền lợi kinh tế của hợp tác xã và của
nhân dân”.
Thi hành Hiến pháp năm 1980, Luật Đất đai được Quốc hội thông qua ngày
29 tháng 2 năm 1987 quy định đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước giao đất
cho các đối tượng có nhu cầu để sử dụng ổn định lâu dài, có thời hạn hoặc tạm thời
theo quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất được duyệt. Cơ quan Nhà nước có thẩm
quyền giao đất nào thì có quyền thu hồi đất đó.
Ngày 31 tháng 5 năm 1990 Hội đồng Bộ trưởng ban hành quyết định số
186/HĐBT về việc đền bù thiệt hại đất nơng nghiệp, đất có rừng khi bị chuyển
mục đích sử dụng vào mục đích khác thì phải bồi thường. UBND các tỉnh, thành
phố quy định cụ thể mức bồi thường thiệt hại của địa phương mình sát với giá đất
17
18
nước thu hồi đất rất rõ ràng, đầy đủ nhất từ trước đến năm 1998 ở nước ta [2].
Tuy vậy, việc quy định giá đất để đền bù còn hạn chế ở cách tính hệ số K cho
từng dự án để nhân với giá đất chung Chính phủ quy định. Việc tính hệ số K ở mỗi dự
án, mỗi địa phương rất phức tạp về cách tính tốn và thủ tục hành chính, việc thực thi
đền bù đất bị kéo dài, trong khi giá cả thị trường về quyền sử dụng đất luôn biến động
nên nảy sinh nhiều mâu thuẫn trong nhân dân. Tại Điều 25 quy định về Hỗ trợ để ổn
định sản xuất và đời sống nêu: “1. Hỗ trợ để ổn định sản xuất và đời sống cho những
người phải di chuyển chỗ ở được tính trong thời hạn là 6 tháng, với mức trợ cấp tính
bằng tiền cho 1 nhân khẩu/1 tháng tương đương 30 kg gạo theo thời giá trung bình ở
thị trường địa phương tại thời điểm đền bù. 4. Người được Nhà nước giao đất, cho
th đất cịn có trách nhiệm: Hỗ trợ chi phí đào tạo cho những lao động nơng nghiệp
phải chuyển làm nghề khác do bị thu hồi đất và nếu có nhu cầu tuyển dụng lao động
mới thì phải ưu tiên tuyển dụng lao động thuộc các đối tượng có đất bị thu hồi.”
Trên cơ sở Luật đất đai ngày 26 tháng 11 năm 2003, Chính phủ ban hành
Nghị định 197/2004/NĐ-CP ngày 03 tháng 12 năm 2004 về bồi thường, hỗ trợ tái
định cư khi nhà nước thu hồi đất gồm 7 chương, 51 điều.
Nghị định 197/2004 và Nghị định 22/1998 có bố cục về cơ bản thống nhất
với nhau, nhưng Nghị định 197 đã khắc phục được những tồn tại trong Nghị định
22, trong đó quy định “giá đất để tính bồi thường là giá đất theo mục đích đang sử
dụng” do UBND tỉnh quy định. Tại điều 29 quy định: “ 1- Hộ gia đình, cá nhân
trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi bị thu hồi trên 30% diện tích đất sản xuất nơng
nghiệp thì được hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp cho người trong độ tuổi lao động,
mức hỗ trợ và số lượng lao động cụ thể được hỗ trợ do UBND cấp tỉnh quyết định
phù hợp với thực tế địa phương. 2 - Việc hỗ trợ đào tạo chuyển đổi nghề nghiệp
được thực hiện chủ yếu bằng hình thức cho đi học nghề tại các cơ sở dạy nghề”.
Nghị định số 17/2006/NĐ-CP ngày 27 tháng 01 năm 2006 của Chính phủ về
sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định hướng dẫn thi hành Luật Đất đai.
hoặc bằng giá trị đất ở hoặc căn hộ chung cư hoặc đất sản xuất, kinh doanh phi
nông nghiệp; phần giá trị chênh lệch được hỗ trợ bằng tiền.
3. Trường hợp người được hỗ trợ theo quy định tại khoản 1 Điều này có nhu
cầu được đào tạo, học nghề thì được nhận vào các cơ sở đào tạo nghề và được miễn
học phí đào tạo cho một khóa học đối với các đối tượng trong độ tuổi lao động.
20
Tại Khoản 1 điều 23 Nghị định số 69/2009/NĐ-CP quy định:
1. Ngoài việc hỗ trợ theo quy định, căn cứ vào tình hình thực tế tại địa
phương, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định biện pháp hỗ trợ khác để
bảo đảm có chỗ ở, ổn định đời sống và sản xuất cho người bị thu hồi đất; trường
hợp đặc biệt trình Thủ tướng Chính phủ quyết định [5].
Như vậy, khi thu hồi đất Nhà nước có những phương thức xử lý khác nhau
về việc bồi thường, hỗ trợ cho người dân mất đất, có thể bồi thường hỗ trợ bằng
tiền, và cũng có thể bồi thường bằng đất. Tuy nhiên trên thực tế, bồi thường hỗ trợ
bằng tiền được áp dụng rộng rãi hơn cả.
Trên cơ sở các quy định của Nhà nước, để thực hiện và áp dụng cho phù hợp
với tình hình phát triển kinh tế, xã hội của địa phương, trong những năm qua
UBND thành phố Hà Nội cũng như huyện Từ Liêm đã ban hành các cơ chế chính
sách về cơng tác bồi thường, hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm khi thu hồi đất
nơng nghiệp cho khu vực nơng thơn nói chung, lao động trong khu vực thu hồi đất
nông nghiệp nói riêng như sau:
- Chính sách hiện hành được áp dụng theo Quyết định số 108/2009/QĐUBND ngày 29/9/2009 của UBND thành phố Hà Nội quy định:
Tại Điều 40: Hỗ trợ chuyển đổi nghề nghiệp và tạo việc làm đối với hộ
gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nơng nghiệp bị thu hồi đất
“ 1. Hộ gia đình, cá nhân trực tiếp sản xuất nông nghiệp khi Nhà nước thu
hồi đất nơng nghiệp thì được hỗ trợ bằng tiền để chuyển đổi nghề nghiệp và tạo
việc làm bằng 05 lần giá đất nơng nghiệp quy định đối với diện tích đất nông
nghiệp thực tế bị thu hồi nhưng tối đa không vượt quá hạn mức giao đất nông
b) Thu hồi trên 70% diện tích đất nơng nghiệp đang sử dụng thì được hỗ trợ ổn
định đời sống trong thời gian 12 tháng nếu không phải di chuyển chỗ ở và trong
thời gian 24 tháng nếu phải di chuyển chỗ ở;
c) Mức hỗ trợ cho một nhân khẩu quy định tại các điểm a và b khoản này được tính
bằng tiền tương đương 30 kg gạo trong 01 tháng theo thời giá trung bình ở Hà Nội
tại thời điểm hỗ trợ do Sở Tài chính cơng bố.
Hộ gia đình, cá nhân chỉ được hỗ trợ theo quy định này một lần, sau này khi Nhà
nước tiếp tục thu hồi đất không được hưởng khoản hỗ trợ này nữa” [13].
22
1.2.2. Chính sách dạy nghề, học nghề, giải quyết việc làm khi thu hồi đất
nông nghiệp
1.2.2.1. Nhu cầu đào tạo nghề và việc làm cho nông dân khi bị thu hồi đất
nông nghiệp
Trong những năm gần đây, vấn đề việc làm, đào tạo và chuyển đổi nghề
nghiệp cho nông dân bị thu hồi đất nông nghiệp trên cả nước đang ngày càng nóng
bỏng. Đơ thị hố kéo theo sự mở rộng nhanh chóng nhu cầu sử dụng đất phát triển
cho các KCN tập trung, xây dựng cơ sở hạ tầng và đất ở đơ thị đã làm cho diện tích
đất nông nghiệp ngày càng một thu hẹp. Theo Cục Hợp tác xã và Phát triển nông
thôn, ở những nơi bị thu hồi đất, có đến 67% số hộ vẫn phải quay lại nghề nơng,
chỉ có 13% có nghề mới ổn định. Có nhiều hộ dân muốn quay lại nghề cũ nhưng
khơng có đất để sản xuất, cuối cùng họ rơi vào cảnh thất nghiệp.
Tốc độ đơ thị hố và luồng lao động dịch chuyển từ nông thôn ra thành thị
lớn làm gia tăng lao động thành thị lên 4,7% so với 2,0% giai đoạn 1996 - 2008.
Lao động nông thôn chiếm khoảng 80% tổng lực lượng lao động, mức tăng trưởng
GDP nơng nghiệp đóng góp 20% tổng GDP quốc gia thì tỷ lệ lao động nơng thơn
như vậy là cao, tốc độ thu hút lao động khỏi nông nghiệp vẫn chậm. Ở nước ta lao
động nông thôn chiếm 3/4 lao động cả nước và tập trung chủ yếu ở ngành nông
nghiệp, nơi tạo ra năng xuất lao động thấp và cũng là nơi quỹ đất canh tác đang
họ cần có trình độ chun mơn và cập nhật kiến thức đào tạo dạy nghề để đáp ứng
nhu cầu phát triển kinh tế của đất nước. Những năm gần đây, công tác dạy nghề đã
có nhiều tiến triển. Nhiều lao động đã ý thức được việc học nghề và số người tham
gia các khoá đào tạo tăng lên rõ rệt. Mới đây, nước ta cũng đã ban hành các chính
sách và nghề cho nông dân vùng mất đất và dân tộc thiểu số và đã thu được nhiều
kết quả đáng khích lệ.
1.2.2.2. Chính sách dạy nghề, học nghề, giải quyết việc làm cho người dân
có đất nơng nghiệp bị thu hồi
Giải quyết việc làm là một trong những chính sách quan trọng đối với mỗi
quốc gia, đặc biệt là đối với các nước đang phát triển có lực lượng lao động lớn
như Việt Nam. Vấn đề chuyển dịch mục đích sử dụng đất dẫn đến chuyển dịch lao
động cũng đang diễn ra mạnh mẽ cả tự phát và trong quy hoạch, làm đã ảnh hưởng
không nhỏ đến đời sống và việc làm của người dân bị thu hồi đất. Hiện tượng lao
động nơng nghiệp có đất nơng nghiệp thu hồi bị mất việc làm do q trình đơ thị
24
hóa và hình thành các khu vực cơng nghiệp tập trung diễn ra mạnh mẽ.
Những năm qua, bên cạnh các chính sách bồi thường hỗ trợ bằng tiền cho
người dân mất đất, Nhà nước cịn ban hành những chính sách nhằm hỗ trợ dạy
nghề, học nghề và tạo việc làm cho lao động nơng thơn. Có thể kể đến ở đây như là:
- Nghị quyết số 13/NQ/TW về tiếp tục đổi mới, phát triển và nâng cao hiệu
quả kinh tế tập thể và Nghị quyết số 15-NQ/TW về đẩy mạnh CNH - HĐH nông
nghiệp, nông thôn thời kỳ 2001 - 2010.
- Chính phủ ra Quyết định số 126/QĐ-Tg ngày 11 tháng 7 năm 1998 phê
duyệt chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm đến năm 2000.
- Tiếp đó là Quyết định số 143/2001/QĐ-TTg ngày 27 tháng 9 năm 2001
phê duyệt Chương trình mục tiêu quốc gia xố đói, giảm nghèo và việc làm giai
đoạn 2001 - 2005.
- Quyết định số 032/2000/QĐ-TTg ngày 24/11/2000 của Thủ tướng Chính