Tội tàng trữ trái phép chất ma túy từ thực tiễn thành phố biên hòa, tỉnh đồng nai - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ HỊA BÌNH

TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ

Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020


VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

ĐỖ THỊ HỊA BÌNH

TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TỪ THỰC TIỄN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04

ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ


Do điều kiện về thời gian và khả năng có hạn, chắc chắn luận văn khơng
tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định, tơi rất mong nhận được những
ý kiến góp ý quý báu của các chuyên gia, các nhà khoa học, các giảng viên và
các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Chân thành cảm ơn!

Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 09 năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN

Đỗ Thị Hòa Bình


MỤC LỤC
MỞ ĐẦU ...................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY............. 8
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội tàng trữ trái phép chất ma
túy ...................................................................................................................... 8
1.2. Các dấu hiệu pháp lý và hình phạt của tội tàng trữ trái phép chất ma
túy .................................................................................................................... 15
1.3. Khái quát lịch sử phát triển quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma
túy qua các giai đoạn ....................................................................................... 18
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TỘI TÀNG
TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA,
TỈNH ĐỒNG NAI ......................................................................................... 29
2.1. Khái quát điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của thành phố Biên Hòa và
cơ cấu tổ chức của Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai ..... 29
2.2. Thực tiễn áp dụng pháp luật về tội tàng trữ trái phép chất ma túy tại
thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai ................................................................ 32
Chương 3: YÊU CẦU VÀ GIẢI PHÁP BẢO ĐẢM ÁP DỤNG ĐÚNG



PHỤ LỤC CÁC BẢN ÁN

1. Bản án số 479/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa đối với Hoàng Đức T.
2. Bản án số 491/2018/HSST ngày 31/11/2018 của Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa đối với Nguyễn Văn B.
3. Bản án số 576/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa đối với Phạm Quang H.
4. Bản án số 183/2018/HS-ST ngày 12/6/2018 của Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa đối với Nguyễn Hữu P.
5. Bản án số 434/2019/HS-ST ngày 23/9/2019 của Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa đối với Lê Hồng T.
6. Bản án số 480/2018/HS-ST ngày 28/12/2018 của Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa đối với Nguyễn Văn T.


MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài
Tệ nạn ma túy đã và đang trở thành mối đe dọa, hiểm họa rất lớn đối với tất
cả các quốc gia, dân tộc. Nó gây tác hại rất lớn về sức khỏe, ảnh hưởng nghiêm
trọng đến việc phát triển kinh tế, ổn định chính trị, trật tự, an tồn xã hội, làm
suy thối về giống nịi, băng hoại đạo đức, lối sống và phá hoại hạnh phúc gia
đình. Đồng thời, nó cũng là một trong các nguyên nhân làm phát sinh và gia
tăng nhanh chóng các loại tội phạm như trộm cắp, cướp của giết người, cưỡng
đoạt tài sản, gây rối trật tự cơng cộng… và là ngun nhân chính dẫn đến căn
bệnh thế kỷ HIV/AIDS trên toàn thế giới.
Nhận thức được những tác hại, nguy hiểm của tệ nạn ma túy và tội phạm

khăn, vướng mắc trong q trình định tội danh và quyết định hình phạt đối với
tội tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó vẫn cịn những sai sót nhất định như
định sai tội danh, định đúng tội danh nhưng sai khung hình phạt, bỏ lọt tội
phạm,… dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự không đúng người, đúng tội,
bỏ lọt tội phạm, không đảm bảo tính nghiêm minh, cơng bằng của pháp luật…
và hậu quả là một số bản án bị tòa án có thẩm quyền hủy, sửa. Số lượng bản án,
quyết định bị hủy, sửa tuy không nhiều nhưng cũng ảnh hưởng khơng nhỏ đến
uy tín của ngành, đến lịng tin nhân dân vào cơng lý, đến cơng tác đấu tranh
phịng chống tội phạm nói chung và tội phạm ma túy nói riêng của cả hệ thống
chính trị.
Xuất phát từ yêu cầu thực tiễn đấu tranh phịng, chống tội phạm nói chung
và tội phạm ma túy nói riêng, tác giả chọn đề tài “Tội tàng trữ trái phép chất
ma túy từ thực tiễn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai” (trên cơ sở số liệu
thực tiễn xét xử tại thành phố Biên Hòa) để làm luận văn tốt nghiệp thạc sĩ luật
học.
2


2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Tội phạm tàng trữ trái phép chất ma túy không phải là vấn đề mới, đã có
nhiều cơng trình nghiên cứu có giá trị được cơng bố có thể kể đến như:
- Về sách, giáo trình:
+ Giáo sư, tiến sĩ Võ Khánh Vinh (2014): “Giáo trình Luật Hình sự Việt
Nam - Phần các tội phạm”, Nhà xuất bản Khoa học xã hội, Hà Nội.
+ Tiến sĩ Phạm Minh Tuyên (2013): “Các tội phạm về ma túy ở Việt Nam
cơ sở lý luận và thực tiễn xét xử (tài liệu tham khảo dùng cho các Thẩm phán,
Thư ký tòa án)”, Nhà xuất bản Hồng Đức.
- Về luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ
+ Luận án tiến sĩ của Nguyễn Tuyết Mai: “Đấu tranh phòng, chống tội
phạm ma túy ở Việt Nam”, bảo vệ năm 2007.

+ Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Mai Nga: “Bàn về quy định xử lý tội
phạm ma túy của Bộ luật hình sự trong thời kỳ hội nhập”, Tạp chí kiểm sát số
12, năm 2008.
Mỗi cơng trình, bài viết nêu trên đều có giá trị khoa học và thực tiễn nhất
định, trong đó, có nhiều cơng trình, bài viết có giá trị khoa học và thực tiễn rất
cao; đa số các cơng trình nghiên cứu về vấn đề áp dụng pháp luật trong xét xử
các vụ án hình sự nói chung, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy
trong luật hình sự nói riêng hoặc nghiên cứuviệc áp dụng pháp luật liên quan
đến tội phạm ma túy ở các địa phương khác, chưa có tại thành phố Biên Hịa,
tỉnh Đồng Nai. Việc nghiên cứu hoạt động xét xử các vụ án về tội tàng trữ trái
phép chất ma túy tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai còn phụ thuộc rất nhiều
vào các yếu tố về điều kiện tự nhiên, các đặc điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội.
Vì vậy, việc nghiên cứu sâu hơn các quy định về “Tội tàng trữ trái phép
chất ma túy” trong BLHS Việt Nam, đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng
4


giải quyết các vụ án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy thông qua số liệu thực
tiễn xét xử tại thành phố Biên Hòa giai đoạn 2015-2019 là cần thiết nhằm chỉ ra
những hạn chế, bất cập để kiến nghị, góp phần hồn thiện các quy định pháp luật
cũng như nâng cao hiệu quả công tác áp dụng pháp luật đối với tội tàng trữ trái
phép chất ma túy của BLHS.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội tàng trữ trái
phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nhằm góp
phần hồn thiện các quy định pháp luật cũng như bảo đảm áp dụng đúng quy
định về tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh
Đồng Nai.

Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư
tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng cộng sản Việt
Nam về đấu tranh phòng chống tội phạm và chính sách pháp luật hình sự của
Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về các nội dung: tội phạm, hình
phạt, cải cách tư pháp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn được sử dụng rất nhiều các phương
pháp nghiên cứu khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, quy nạp, diễn
dịch, hệ thống hóa, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu bản án… và các phương
pháp nghiên cứu của khoa học hình sự để hồn thiện pháp luật hình sự đối với
tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Về mặt lý luận
6


Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần làm rõ hơn những vấn đề về lý
luận và thực tiễn xét xử tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố
Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
6.2. Về mặt thực tiễn
Kết quả nghiên cứu của luận văn góp phần nhận diện thực tiễn nhận thức,
thực tiễn quy định của pháp luật hình sự và thực tiễn xét xử các tội phạm về tội
tàng trữ trái phép chất ma túy tại thành phố Biên Hòa trong thời gian từ năm
2015 đến năm 2019. Các kiến nghị nêu trong luận văn sẽ góp phần bảo đảm áp
dụng đúng quy định pháp luật hình sự về tội tàng trữ trái phép chất ma túy ở
nước ta.
Ngồi ra, luận văn cịn là tài liệu tham khảo cho các sinh viên, học viên
chuyên ngành luật hình sự tại các cơ sở đào tạo, giáo dục trên cả nước trong quá
trình học tập; cho các cơ quan tiến hành tố tụng, đặc biệt là Tòa án nhân dân các

là tội phạm. Đây là dấu hiệu bản chất, nội dung cơ bản, quan trọng nhất, quyết
định các dấu hiệu khác của tội phạm. Dưới dạng chung nhất, những quan hệ xã
hội đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, tồn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phịng, an ninh, trật tự, an
tồn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật
tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Tội phạm là những hành vi xâm phạm các quan
hệ xã hội này [12, tr. 110].
Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm xác định đặc tính về chất của
thiệt hại do tội phạm gây ra. Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thể
hiện đặc tính về chất của tội phạm, còn mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm là sự thể hiện về lượng nhất định của cùng một chất - tính nguy hiểm cho
xã hội của tội phạm. Điều đó có nghĩa là khái niệm “tính chất” và “mức độ”
8


nguy hiểm cho xã hội của tội phạm không tách rời nhau, chúng tồn tại cùng
nhau, bổ sung cho nhau, xâm nhập vào nhau và trong thể thống nhất thể hiện
tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm [12, tr. 111].
* Về tính có lỗi của hành vi
Theo Điều 8 BLHS 2015 thì “Tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội
được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự hoặc
pháp nhân thương mại thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý…”. Như vậy, lỗi là
một dấu hiệu độc lập của tội phạm [12, tr. 112].
Với tư cách là một dấu hiệu độc lập của tội phạm, tính có lỗi của hành vi
khơng chấp nhận việc quy tội khách quan. Hình phạt là biện pháp cưỡng chế
nghiêm khắc nhất của nhà nước có mục đích giáo dục người phạm tội, phịng
ngừa tội phạm mới, nhưng các mục đích đó chỉ có thể đạt được, nếu hình phạt
được áp dụng đối với người có lỗi trong việc thực hiện hành vi nguy hiểm cho
xã hội [12, tr. 112].

luật hình sự và phải chịu hình phạt hình sự”.
1.1.1.2. Khái niệm về chất ma túy
Ma túy, theo gốc Hán - Việt, “ma” có nghĩa là tê liệt hoặc là “làm mê mẩn”
hoặc là làm cho tê liệt; “túy” có nghĩa là say sưa [46, tr. 14]. “Ma túy” là một
danh từ dùng để chỉ chất thuốc có khả năng gây ra hiện tượng thần kinh tê liệt,
dùng nhiều sẽ bị nghiện.
Đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về chất ma túy, vẫn còn nhiều ý
kiến khác nhau về chất ma túy, như:
Theo ý kiến một số chuyên gia thì: “Ma túy là chất tự nhiên hoặc hóa học
hợp thành, khi hấp thụ vào con người sẽ gây nguy hại cho con người”.
Ý kiến khác lại cho rằng: “Ma túy là những chất mà dùng nó một thời gian
sẽ gây trạng thái nghiện hay nói cách khác là trạng thái phụ thuộc vào thuốc”
[45, tr. 493].

10


Ở Việt Nam, cụm từ chất ma túy lần đầu tiên được quy định chính thức tại
Điều 203 BLHS năm 1985 với “Tội tổ chức dùng chất ma túy”, sau này được
thay bằng Điều 185i của Luật số 57-L/CTN ngày 10/5/1997 sửa đổi, bổ sung
một số điều của BLHS năm 1985.
Tiếp theo đó là BLHS năm 1999, BLHS năm 2015 quy định chất ma túy và
tội phạm về ma túy. Theo đó, tại các Bộ luật quy định chất ma túy gồm: Nhựa
thuốc phiện, nhựa cần sa, cao cô ca; lá khát (lá cây Catha edulis); lá, rễ, thân,
cành, hoa, quả cây cần sa, lá cây côca; quả thuốc phiện tươi, quả thuốc phiện
khô; heroin, coocain, Methamphetamine, Amphetamine, MDMA, XLR-11, các
chất ma túy khác ở thể lỏng, các chất ma túy khác ở thể rắn.
Đồng thời, khái niệm chất ma túy cũng được Luật số 23/2000/QH10 ngày
09/12/2000 của Quốc hội về Phòng, chống ma túy, Luật số 16/2008/QH12 ngày
03/6/2008 của Quốc hội về Sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Phòng, chống

nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế, thú y theo quy
định của cơ quan có thẩm quyền thì Nghị định cịn quy định thêm Danh Mục IV
gồm các tiền chất gồm 44 tiền chất được sử dụng vì mục đích quốc phịng, an
ninh do Bộ Công an quản lý và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu. Các tiền chất sử
dụng trong lĩnh vực thú y do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý và
cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu.
Từ những phân tích trên cho thấy, có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về
định nghĩa ma túy, tác giả đồng tình với quan điểm cho rằng:
“Ma túy là các chất có nguồn gốc tự nhiên hoặc tổng hợp. Khi được đưa
vào cơ thể con người, nó làm thay đổi trạng thái ý thức của người sử dụng. Nếu
lạm dụng ma túy, con người sẽ bị phụ thuộc vào nó, dẫn đến tình trạng nghiện
và sẽ gây tổn thương đối với người sử dụng, gia đình và cộng đồng”.
1.1.1.3. Khái niệm tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Hiện nay, tồn tại khá nhiều khái niệm khác nhau về tội phạm ma túy
như:“Tội phạm về ma túy là hành vi cố ý xâm phạm chế độ quản lý các chất ma
12


túy của nhà nước” hoặc “Tội phạm về ma túy là hành vi cố ý xâm phạm chế độ
quản lý của nhà nước đối với các chất ma túy”.
Theo Tiến sĩ Phạm Minh Tuyên thì: “Tội phạm ma túy là những hành vi
nguy hiểm cho xã hội, do người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu
trách nhiệm hình sự, thực hiện, có lỗi, xâm phạm đến chế độ quản lý, sử dụng
các chất ma túy của nhà nước từ đó gây thiệt hại cho lợi ích của nhà nước của
xã hội và của công dân, gây mất trật tự an tồn xã hội”.
Theo Thơng tư liên tịch số 01/1998/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BNV
ngày 02/01/1998 của Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao,
Bộ Nội vụ (nay là Bộ Công an) Hướng dẫn áp dụng một số quy định của Luật
sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 1997 thì: “Hành vi tàng trữ trái
phép chất ma túy là hành vi cất giữ bất hợp pháp chất ma túy ở bất cứ nơi nào

bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”.
Để khẳng định một chuẩn mực đạo đức và biến nó thành thói quen thì pháp
luật là một trong những biện pháp tối ưu được các nhà nước áp dụng. Vai trò của
pháp luật càng quan trọng bao nhiêu đồng nghĩa với chuẩn mực càng khó bấy
nhiêu. Vì vậy, khơng thể bng lỏng pháp luật nếu việc này chưa được chuẩn bị
bằng sự tiến bộ đạo đức của xã hội. Giữa đạo đức và pháp luật ln có mối quan
hệ qua lại, tác động tương hỗ lẫn nhau.
Nhận thức được ý nghĩa, vai trò và tầm quan trọng của pháp luật trong việc
bảo tồn, phát huy các giá trị đạo đức, Đảng và nhà nước ta đã từng bước xây
dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật, trong đó có các quy định nhằm đấu
tranh, phòng ngừa đối với các tội phạm về ma túy nói chung và tội phạm về tàng
trữ trái phép chất ma túy nói riêng. Những hành vi tội phạm về ma túy nói chung
và tội phạm về tàng trữ trái phép chất ma túy nói riêng khơng chỉ gây nguy hiểm
cho xã hội mà còn là hành vi vi phạm pháp luật, ảnh hưởng đến các giá trị đạo
đức truyền thống tốt đẹp của nhân dân ta. Các hành vi này ngày càng gia tăng
với mức độ nhanh chóng, gây ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế, xã hội, an
14


ninh, chính trị của mỗi quốc gia, địa phương. Có rất nhiều nguyên nhân làm cho
tệ nạn ma túy và tội phạm ma túy càng ngày càng tăng nhanh, trong đó có thể kể
đến nguyên nhân là do hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy. Do đó, để ngăn
chặn và phịng, chống một cách có hiệu quả tệ nạn ma túy và tội phạm ma túy
thì cần thiết phải ban hành các quy định để hạn chế, xử lý nghiêm hành vi tàng
trữ trái phép chất ma túy.
Tóm lại, việc quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy trong BLHS Việt
Nam là một đòi hỏi khách quan và có tính tất yếu cả về lý luận và thực tiễn của
xã hội. Những quy định này không chỉ phản ánh trung thực các điều kiện kinh tế
- xã hội, quốc phòng - an ninh và thể hiện bản chất tốt đẹp của chế độ chính trị ở
Việt Nam hiện nay mà còn thể hiện rõ quan điểm, quyết tâm của Đảng và Nhà

quản lý và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu.
1.2.1.2. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm các
biểu hiện của tội phạm diễn ra trong thế giới khách quan. Mặt khách quan của
tội phạm có ý nghĩa quan trọng đối với việc định tội danh và là một dấu hiện
(một yếu tố) xác định nội dung của tội phạm [12, tr.363].
Mặt khách quan của tội tàng trữ trái phép chất ma túy thể hiện ở hành vi
tàng trữ trái phép chất ma túy (hành vi nguy hiểm cho xã hội) [11, tr. 362]. Tàng
trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất ma túy.
Thời gian tàng trữ có thể dài hoặc ngắn, bất kể là bao lâu không ảnh hưởng đến
việc xác định tội danh. Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy bị coi là trái phép
khi việc tàng trữ đó được thực hiện mà khơng có giấy phép của cơ quan có thẩm
quyền.
Mục đích của người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội là dấu hiệu
bắt buộc để xác định người đó có bị truy cứu trách nhiệm đối với tội tàng trữ trái
phép chất ma túy hay không.
Người phạm tội cứ có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy với khối lượng
được quy định đối với từng loại chất ma túy tại Điều 249 BLHS năm 2015
16


(được sửa đổi, bổ sung năm 2017) thì đã phải chịu trách nhiệm hình sự đối với
tội này. Hay nói cách khác tội tàng trữ trái phép chất ma túy có cấu thành tội
phạm hình thức.
1.2.1.3. Mặt chủ quan
Mặt chủ quan của tội phạm là mặt bên trong của tội phạm, là thái độ tâm lý
của người phạm tội đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội do họ thực hiện và với
hậu quả do hành vi đó gây ra cho xã hội hoặc đối với khả năng gây ra hậu quả
đó. [12, tr. 197]
Mặt chủ quan của tội tàng trữ trái phép chất ma túy được thực hiện do lỗi


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status