VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ HỊA BÌNH
TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TỪ THỰC
TIỄN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
Ngành: Luật Hình sự và Tố tụng hình sự
Mã số: 8.38.01.04
ĐỀ CƯƠNG LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HÌNH SỰ VÀ TỐ TỤNG HÌNH SỰ
Thành phố Hồ Chí Minh, năm 2020
VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
ĐỖ THỊ HỊA BÌNH
TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
TỪ THỰC
TIỄN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
người trực tiếp hướng dẫn và ln tận tình chỉ dẫn tơi trong q trình thực
hiện luận văn.
Xin chân thành cảm ơn Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng
Nai, các đồng chí lãnh đạo và thẩm phán của Tịa án nhân dân thành phố Biên
Hịa, gia đình, bạn bè đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho tơi
trong suốt q trình học tập, nghiên cứu và hoàn thành luận văn này.
Do điều kiện về thời gian và khả năng có hạn, chắc chắn luận văn khơng
tránh khỏi những hạn chế, thiếu sót nhất định, tơi rất mong nhận được những
ý kiến góp ý quý báu của các chuyên gia, các nhà khoa học, các giảng viên và
các bạn đồng nghiệp để luận văn được hoàn chỉnh hơn.
Chân thành cảm ơn!
Thành phố Hồ Chí Minh, ngày 10 tháng 09 năm 2020
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Đỗ Thị Hòa Bình
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU...................................................................................................... 1
Chương 1: NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ
VIỆT NAM VỀ TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY..............8
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội tàng trữ trái phép chất ma
túy......................................................................................................................8
1.2. Các dấu hiệu pháp lý và hình phạt của tội tàng trữ trái phép chất ma
túy....................................................................................................................15
1.3. Khái quát lịch sử phát triển quy định về tội tàng trữ trái phép chất ma
túy qua các giai đoạn.......................................................................................18
Chương 2: THỰC TIỄN ÁP DỤNG PHÁP LUẬT VỀ TỘI TÀNG
TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY TẠI THÀNH PHỐ BIÊN HÒA,
2015-2019).
Bảng 2.3. Bảng thống kê số lượng bị cáo bị xét xử theo các khoản của
Tội tàng trữ trái phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Biên Hòa (giai đoạn
2015-2019).
Bảng 2.4. Bảng thống kê các hình phạt áp dụng đối với Tội tàng trữ trái
phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Biên Hòa (giai đoạn 2015-2019).
PHỤ LỤC CÁC BẢN ÁN
1.
Bản án số 479/2018/HSST ngày 28/11/2018 của Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa đối với Hồng Đức T.
2.
Bản án số 491/2018/HSST ngày 31/11/2018 của Tịa án nhân dân
thành phố Biên Hòa đối với Nguyễn Văn B.
3.
Bản án số 576/2019/HSST ngày 27/11/2019 của Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa đối với Phạm Quang H.
4.
Bản án số 183/2018/HS-ST ngày 12/6/2018 của Tòa án nhân dân
thành phố Biên Hòa đối với Nguyễn Hữu P.
tác phịng, chống và kiểm sốt ma túy; Luật Hình sự và tố tụng hình sự; Luật
Phịng chống ma túy; … Và nhất là trong giai đoạn hiện nay, khi nền kinh tế
nước ta chính thức chuyển sang cơ chế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
khi nước ta đang mở rộng quan hệ với các nước trên thế giới thì ma túy và tội
phạm ma túy đã trở thành một trong những vấn đề được Đảng và nhà nước ta
đặc biệt quan tâm.
1
Trong quá trình áp dụng pháp luật thì hoạt động xét xử của Tòa án nhân
dân đối với các tội phạm về ma túy đóng vai trị rất quan trọng. Hoạt động xét
xử của các cơ quan Tòa án là hoạt động áp dụng pháp luật để ra các bản án, các
quyết định thể hiện tính nghiêm minh và sự cơng bằng của pháp luật.
Tại thành phố Biên Hịa, thực hiện chủ trương cải cách tư pháp của trung
ương và của tỉnh, thời gian qua, các cơ quan tố tụng của thành phố Biên Hòa đã
xét xử rất nhiều vụ án về ma túy, trong đó đa số là tội tàng trữ trái phép chất ma
túy, đưa ra xét xử lưu động về các tội phạm ma túy tại nhiều địa bàn trong tỉnh
nhằm tuyên truyền, giáo dục các tầng lớp nhân dân về tác hại của ma túy và răn
đe các đối tượng có biểu hiện vi phạm, góp phần thực hiện có hiệu quả cơng tác
đấu tranh phịng, chống tội phạm ma túy. Tuy nhiên, do có sự sửa đổi, bổ sung
của Bộ luật hình sự năm 2015 đối với các tội phạm về ma túy, trong đó “Tội
tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định thành một điều độc lập là Điều
249 đã dẫn đến công tác xét xử của các cơ quan tố tụng cịn gặp khơng ít khó
khăn, vướng mắc trong q trình định tội danh và quyết định hình phạt đối với
tội tàng trữ trái phép chất ma túy, do đó vẫn cịn những sai sót nhất định như
định sai tội danh, định đúng tội danh nhưng sai khung hình phạt, bỏ lọt tội phạm,
… dẫn đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự khơng đúng người, đúng tội, bỏ lọt
tội phạm, khơng đảm bảo tính nghiêm minh, cơng bằng của pháp luật… và hậu
quả là một số bản án bị tòa án có thẩm quyền hủy, sửa. Số lượng bản án, quyết
Luận án tiến sĩ của Nguyễn Tuyết Mai: “Đấu tranh phòng, chống tội
phạm ma túy ở Việt Nam”, bảo vệ năm 2007.
+
Luận án tiến sĩ của Phạm Minh Tuyên: “Trách nhiệm hình sự đối với tội
phạm về ma túy trong Luật hình sự Việt Nam”, bảo vệ năm 2006.
+
Luận văn thạc sĩ Phạm Nguyễn Hồng Trang: “Áp dụng pháp luật trong
xét xử các vụ án ma túy của Tòa án nhân dân ở tỉnh Nghệ An”, bảo vệ năm
2010.
+
Luận văn thạc sỹ của Bùi Mạnh Cường: “Áp dụng pháp luật trong giai
đoạn điều tra, truy tố các vụ án ma túy ở Việt Nam”, bảo vệ năm 2006.
+
Về đề tài nghiên cứu khoa học
Đề tài nghiên cứu khoa học của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Ninh: “Những
giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống các tội phạm về ma
túy trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh” do tiến sĩ Phạm Minh Tuyên - Phó Chánh án
TAND tỉnh Bắc Ninh nghiên cứu, đề tài nghiệm thu năm 2009.
+
Bài viết của tác giả Nguyễn Thị Mai Nga: “Bàn về quy định xử lý tội
phạm ma túy của Bộ luật hình sự trong thời kỳ hội nhập”, Tạp chí kiểm sát số
12, năm 2008.
Mỗi cơng trình, bài viết nêu trên đều có giá trị khoa học và thực tiễn nhất
định, trong đó, có nhiều cơng trình, bài viết có giá trị khoa học và thực tiễn rất
cao; đa số các cơng trình nghiên cứu về vấn đề áp dụng pháp luật trong xét xử
các vụ án hình sự nói chung, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy
trong luật hình sự nói riêng hoặc nghiên cứuviệc áp dụng pháp luật liên quan
đến tội phạm ma túy ở các địa phương khác, chưa có tại thành phố Biên Hòa,
tỉnh Đồng Nai. Việc nghiên cứu hoạt động xét xử các vụ án về tội tàng trữ trái
phép chất ma túy tại thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai còn phụ thuộc rất nhiều
vào các yếu tố về điều kiện tự nhiên, các đặc điểm về chính trị, kinh tế, văn hóa,
xã hội.
Vì vậy, việc nghiên cứu sâu hơn các quy định về “Tội tàng trữ trái phép
chất ma túy” trong BLHS Việt Nam, đồng thời phân tích, đánh giá thực trạng
4
giải quyết các vụ án về tội tàng trữ trái phép chất ma túy thông qua số liệu thực
tiễn xét xử tại thành phố Biên Hòa giai đoạn 2015-2019 là cần thiết nhằm chỉ ra
những hạn chế, bất cập để kiến nghị, góp phần hồn thiện các quy định pháp luật
cũng như nâng cao hiệu quả công tác áp dụng pháp luật đối với tội tàng trữ trái
phép chất ma túy của BLHS.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn về tội tàng trữ trái
phép chất ma túy trên địa bàn thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai nhằm góp
phần hồn thiện các quy định pháp luật cũng như bảo đảm áp dụng đúng quy
phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
-
Về nội dung: Nghiên cứu tập trung trong quy định của BLHS năm 2015
về tội tàng trữ trái phép chất ma túy. Phần thực tiễn tập trung nghiên cứu vào hai
hoạt động chính của TAND thành phố Biên Hịa là hoạt động định tội danh và
hoạt động quyết định hình phạt.
-
Về khơng gian: Tại TAND thành phố Biên Hịa, tỉnh Đồng Nai.
Về thời gian: Các số liệu, bản án được thu thập, nghiên cứu trong thời
gian từ năm 2015 đến năm 2019.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận nghiên cứu
Luận văn được thực hiện dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa
duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử của Chủ nghĩa Mác - Lênin; tư
tưởng Hồ Chí Minh; quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng cộng sản Việt
Nam về đấu tranh phịng chống tội phạm và chính sách pháp luật hình sự của
Nhà nước Cộng hịa xã hội chủ nghĩa Việt Nam về các nội dung: tội phạm, hình
phạt, cải cách tư pháp.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, luận văn được sử dụng rất nhiều các phương
pháp nghiên cứu khác như: phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, quy nạp, diễn
dịch, hệ thống hóa, nghiên cứu tài liệu, nghiên cứu bản án… và các phương
pháp nghiên cứu của khoa học hình sự để hồn thiện pháp luật hình sự đối với
tội tàng trữ trái phép chất ma túy.
7
Chương 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỀ
TỘI TÀNG TRỮ TRÁI PHÉP CHẤT MA TÚY
1.1. Khái niệm và ý nghĩa của việc quy định tội tàng trữ trái phép chất
ma túy
1.1.1. Khái niệm
1.1.1.1. Khái niệm về tội phạm
Tại Điều 8 BLHS năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) của nước
CHXHCNVN đã đưa ra khái niệm tội phạm. Và theo định nghĩa tại Điều 8 của
BLHS cho thấy, tội phạm khác với những hành vi không phải là tội phạm bằng
bốn dấu hiệu đặc trưng cơ bản là: (1) Nguy hiểm cho xã hội; (2) có lỗi; (3) trái
pháp luật hình sự; (4) phải chịu hình phạt [12, tr. 108].
* Về tính nguy hiểm cho xã hội
Chỉ hành vi nguy hiểm cho xã hội đến một mức độ nhất định mới được coi
là tội phạm. Đây là dấu hiệu bản chất, nội dung cơ bản, quan trọng nhất, quyết
định các dấu hiệu khác của tội phạm. Dưới dạng chung nhất, những quan hệ xã
hội đó là độc lập, chủ quyền, thống nhất, tồn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm
chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hóa, quốc phịng, an ninh, trật tự, an
tồn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm quyền con người,
quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật
tự pháp luật xã hội chủ nghĩa. Tội phạm là những hành vi xâm phạm các quan hệ
xã hội này [12, tr. 110].
Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm xác định đặc tính về chất của
thiệt hại do tội phạm gây ra. Tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm thể
hiện đặc tính về chất của tội phạm, còn mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội
phạm là sự thể hiện về lượng nhất định của cùng một chất - tính nguy hiểm cho
bên trong của tội phạm. Chỉ có hành vi phạm tội mới phải chịu biện
9
pháp trách nhiệm là hình phạt. Khơng phạm tội thì cũng khơng có hình phạt [12,
tr. 115].
Như vậy, theo quy định tại Khoản 1 Điều 8 của BLHS đã định nghĩa một
cách đầy đủ về tội phạm; thể hiện tính khoa học và phản ánh đầy đủ các dấu hiệu
của tội phạm về nội dung và về hình thức pháp lý; thể hiện tập trung nhất quan
điểm của Nhà nước ta về tội phạm. Nó khơng chỉ là cơ sở khoa học thống nhất
cho việc xác định những loại tội phạm cụ thể trong phân loại các tội phạm của
BLHS nước ta mà còn là cơ sở để nhà làm luật quy định khung hình phạt tương
ứng từng loại tội phạm cụ thể, cơ sở cho việc nhận thức và áp dụng đúng đắn,
đầy đủ những điều luật quy định về từng loại tội phạm trong thực tiễn.
Từ những phân tích nêu trên, có thể định nghĩa một cách chung nhất về tội
phạm như sau:
“Tội phạm là hành vi gây nguy hiểm đáng kể cho xã hội, có lỗi, trái pháp
luật hình sự và phải chịu hình phạt hình sự”.
1.1.1.2. Khái niệm về chất ma túy
Ma túy, theo gốc Hán - Việt, “ma” có nghĩa là tê liệt hoặc là “làm mê mẩn”
hoặc là làm cho tê liệt; “túy” có nghĩa là say sưa [46, tr. 14]. “Ma túy” là một
danh từ dùng để chỉ chất thuốc có khả năng gây ra hiện tượng thần kinh tê liệt,
dùng nhiều sẽ bị nghiện.
Đến nay vẫn chưa có khái niệm thống nhất về chất ma túy, vẫn còn nhiều ý
kiến khác nhau về chất ma túy, như:
Theo ý kiến một số chuyên gia thì: “Ma túy là chất tự nhiên hoặc hóa học
hợp thành, khi hấp thụ vào con người sẽ gây nguy hại cho con người”.
Ý
chất gây nghiện, chất hướng thần, các loại cây có chứa chất ma túy, khái niệm
người nghiện ma túy.
Các quy định nêu trên cơ bản đều có định nghĩa giống nhau về chất ma túy,
đó là các chất gây nghiện, chất hướng thần được quy định trong các danh mục
do Chính phủ ban hành, tác hại nghiêm trọng nhất của ma túy là tạo ra sự lệ
thuộc cả về tâm lý và thể chất đối với người sử dụng. Như vậy theo nghĩa chung
nhất thì:
11
“Ma túy là một số chất tự nhiên hoặc chất tổng hợp (hóa học) khi đưa vào
cơ thể người dưới bất kỳ hình thức nào sẽ gây ức chế hoặc kích thích mạnh hệ
thần kinh, làm giảm đau hoặc gây ảo giác, nếu sử dụng nhiều lần sẽ dẫn đến
tình trạng nghiện đối với người sử dụng”.
Đặc biệt, gần đây nhất là Nghị định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của
Chính phủ Quy định các danh mục chất ma túy và tiền chất. Theo đó, ngồi 46
chất thuộc Danh Mục I gồm các chất ma túy tuyệt đối cấm sử dụng trong y học
và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này trong phân tích, kiểm nghiệm,
nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm theo quy định đặc biệt của cơ quan có
thẩm quyền; 398 chất thuộc Danh Mục II gồm các chất ma túy được dùng hạn
chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm hoặc
trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có thẩm quyền; 71 chất thuộc
Danh Mục III gồm các chất ma túy được dùng trong phân tích, kiểm nghiệm,
nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế, thú y theo quy
định của cơ quan có thẩm quyền thì Nghị định cịn quy định thêm Danh Mục IV
gồm các tiền chất gồm 44 tiền chất được sử dụng vì mục đích quốc phịng, an
ninh do Bộ Công an quản lý và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu. Các tiền chất sử
dụng trong lĩnh vực thú y do Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn quản lý và
cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu.
1999 thì: “Tàng trữ trái phép chất ma túy là cất giữ, cất giấu bất hợp pháp chất
ma túy ở bất cứ nơi nào (như trong nhà, ngồi vườn, chơn dưới đất, để trong
vali, cho vào thùng xăng xe, cất dấu trong quần áo, tư trang mặc trên người
hoặc theo người…) mà khơng nhằm mục đích mua bán, vận chuyển hay sản xuất
trái phép chất ma túy. Thời gian tàng trữ dài hay ngắn không ảnh hưởng đến
việc xác định tội này”.
Từ những định nghĩa nêu trên có thể đưa ra khái niệm về tội tàng trữ trái
phép chất ma túy như sau:
13
“Tàng trữ trái phép chất ma túy là một trong những hành vi nguy hiểm cho
xã hội được quy định trong BLHS, do người có năng lực trách nhiệm hình sự cố
ý cất giữ trái phép chất ma túy mà khơng nhằm mục đích để mua bán, vận
chuyển, sản xuất; xâm phạm chế độ quản lý các chất ma túy của nhà nước và bị
xử lý hình sự”.
1.1.2. Ý nghĩa của việc quy định tội tàng trữ trái phép chất ma túy
Pháp luật là hệ thống các quy tắc xử sự do nhà nước ban hành và bảo đảm
thực hiện, thể hiện ý chí của giai cấp thống trị trong xã hội, là nhân tố điều chỉnh
các quan hệ xã hội phù hợp với thực tiễn khách quan của đời sống kinh tế - xã
hội trong một thời kỳ lịch sử nhất định.
Tại Khoản 1 Điều 8 Hiến pháp năm 2013 lại tiếp tục khẳng định: “Nhà
nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp và pháp luật, quản lý xã hội
bằng Hiến pháp và pháp luật, thực hiện nguyên tắc tập trung dân chủ”.
Để khẳng định một chuẩn mực đạo đức và biến nó thành thói quen thì pháp
luật là một trong những biện pháp tối ưu được các nhà nước áp dụng. Vai trò của
pháp luật càng quan trọng bao nhiêu đồng nghĩa với chuẩn mực càng khó bấy
nhiêu. Vì vậy, khơng thể bng lỏng pháp luật nếu việc này chưa được chuẩn bị
bằng sự tiến bộ đạo đức của xã hội. Giữa đạo đức và pháp luật ln có mối quan
Khách thể của tội phạm là các quan hệ xã hội bị tội phạm gây ra thiệt hại
hoặc đe dọa trực tiếp gây ra thiệt hại. Khách thể của tội phạm có vai trị, ý nghĩa
rất quan trọng đối với việc định tội danh hành vi nguy hiểm cho xã hội và đối
với quyết định hình phạt. Khách thể của tội phạm là căn cứ phân biệt tội phạm
với những hành vi không phải là tội phạm [12, tr. 143, tr. 144].
Tội tàng trữ trái phép chất ma túy có khách thể là chế độ độc quyền quản lý
của Nhà nước về việc cất giữ các chất ma túy. Theo đó, hành vi tàng trữ trái
phép chất ma túy đã xâm phạm tới các chính sách, quy định của Nhà nước trong
việc quản lý, cất giữ các chất ma túy.
Hiện nay, nhà nước đang quản lý 515 chất ma túy được quy định tại Nghị
định số 73/2018/NĐ-CP ngày 15/5/2018 của Chính phủ Quy định các danh mục
15
chất ma túy và tiền chất, trong đó: 46 chất thuộc Danh Mục I “Các chất ma túy
tuyệt đối cấm sử dụng trong y học và đời sống xã hội; việc sử dụng các chất này
trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm theo quy
định đặc biệt của cơ quan có thẩm quyền”; 398 chất thuộc Danh Mục II “Các
chất ma túy được dùng hạn chế trong phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa
học, Điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh vực y tế theo quy định của cơ quan có
thẩm quyền; 71 chất thuộc Danh Mục III “Các chất ma túy được dùng trong
phân tích, kiểm nghiệm, nghiên cứu khoa học, Điều tra tội phạm hoặc trong lĩnh
vực y tế, thú y theo quy định của cơ quan có thẩm quyền”; 44 tiền chất thuộc
Danh Mục IV được sử dụng vì mục đích quốc phịng, an ninh do Bộ Cơng an
quản lý và cấp phép xuất khẩu, nhập khẩu.
1.2.1.2. Mặt khách quan
Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm các
biểu hiện của tội phạm diễn ra trong thế giới khách quan. Mặt khách quan của
tội phạm có ý nghĩa quan trọng đối với việc định tội danh và là một dấu hiện
(một yếu tố) xác định nội dung của tội phạm [12, tr.363].
được thực hiện do cố ý trực tiếp, khơng có trường hợp nào do cố ý gián tiếp [11,
tr.363].
1.2.1.4. Chủ thể
Theo pháp luật hình sự nước ta, chủ thể của tội phạm là con người cụ thể đã
cố ý hoặc vô ý thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được luật hình sự quy
định là tội phạm trong tình trạng có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi
nhất định do luật quy định và trong một số trường hợp khác có dấu hiệu đặc biệt
được chỉ ra trong điều luật tương ứng [12, tr. 181].
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự của BLHS năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung
năm 2017) quy định như sau:
“Điều 12.
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội
phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác
17