CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
THÔNG QUA DẠY HỌC MƠN TIẾNG VIỆT LỚP 4
TRONG CHƯƠNG TRÌNH VNEN
Lệ Thuỷ, tháng 5 năm 2018
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
MỘT SỐ BIỆN PHÁP
GIÁO DỤC KĨ NĂNG SỐNG CHO HỌC SINH
THÔNG QUA DẠY HỌC MƠN TIẾNG VIỆT LỚP 4
TRONG CHƯƠNG TRÌNH VNEN
Họ và tên: Lê Thị Mĩ Lệ
Chức vụ: Giáo viên
Đơn vị công tác: Trường Tiểu học Phú Thủy
Lệ Thuỷ, tháng 5 năm 2018
I. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn sáng kiến:
“Giáo dục một người là đào luyện họ có thể đối đầu với mọi hồn cảnh”
địa đã thơi thúc tơi tìm hiểu và nghiên cứu về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh.
Qua một năm thử nghiệm có hiệu quả, tơi mạnh dạn đưa ra sáng kiến: Một số biện
pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua dạy học môn Tiếng Việt lớp
4 trong chương trình VNEN.
2. Điểm mới của sáng kiến:
Điểm mới của đề tài chính là đi sâu vào mơn Tiếng Việt lớp 4 chứ không phải
tràn lan ra ở nhiều môn học. Một điểm khác biệt nữa là sáng kiến này chỉ áp dụng
cho chương trình giảng dạy theo mơ hình VNEN. Vì từ trước đến nay, nhiều tài liệu
cũng có đề cập đến vấn đề này nhưng nó chỉ phù hợp với chương trình giáo dục
hiện hành.
3. Phạm vi áp dụng sáng kiến:
Sáng kiến “Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông
qua dạy học môn Tiếng Việt lớp 4 trong chương trình VNEN.” được áp dụng đối
với học sinh lớp 4 học theo mơ hình VNEN. Đặc biệt là học sinh ở vùng nông thôn.
II. PHẦN NỘI DUNG
1. Thực trạng của việc giáo dục kĩ năng sống cho học sinh:
Qua thực tế giảng dạy ở lớp 4, tôi thấy kĩ năng sống của học sinh chưa cao.
Chỉ một số học sinh có hành vi, thói quen, kĩ năng tốt. Cịn phần lớn các em có
nhận xét đánh giá về sự việc nhưng chưa có thái độ và cách ứng xử, cách xưng hô
chuẩn mực.
Sau khi tiến hành khảo sát lớp 4C đầu năm học với nội dung “kĩ năng của
em” tôi thu được kết quả như sau:
Kĩ năng tốt
SL
%
10
13
46.4
Tổng số
học sinh
Ứng xử tình huống trong chơi trò chơi tập thể
Biết cách ứng xử hài hòa, khá
Hay cãi nhau, xô đẩy bạn khi chơi.
phù hợp.
SL
%
SL
%
18
64.3
10
35.7
28
Về tổng hợp năng lực, phẩm chất đầu năm như sau:
SL
Đoàn
kết , yêu
thương
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
%
SL
16
35,7
28
Đạt
9
32,1
9
32,1
9
32,1
9
32,1
7
25,0
9
10,7
2
7,1
Học sinh thể hiện kĩ năng còn đại khái, chưa mạnh dạn thể hiện kĩ năng bản
thân. Trong giao tiếp nhiều khi cịn nói trống khơng, chưa lịch sự, chưa phản ứng,
đối đáp nhanh. Học sinh ngại nói, ngại viết, khả năng tự học, tự tìm tịi của học sinh
cịn hạn chế. Chính vì thế khả năng tiếp thu và lĩnh hội kiến thức còn chậm.
1.1 Thuận lợi:
Được sự quan tâm chỉ đạo của các cấp giáo dục về việc nâng cao tầm quan
trọng của việc giáo dục kĩ năng sống. Ngoài việc giáo dục kĩ năng sống theo tài liệu
riêng, Phòng Giáo dục và Đào tạo cũng như nhà trường cũng khuyến khích giáo
viên giáo dục kĩ năng sống thông qua các môn học. Chỉ đạo chun mơn và tổ
chun mơn cũng đã có kế hoạch bồi dưỡng thường xuyên về giáo dục kĩ năng
sống cho học sinh.
Trường áp dụng dạy học theo mô hình VNEN nên đây là một trong những
thuận lợi để giáo viên phát huy hết khả năng của mình trong việc giáo dục kĩ năng
sống. Bởi cốt lõi của mô hình VNEN đã tích hợp khá nhiều kĩ năng cho học sinh
trong nhiều môn học đặc biệt là môn Tiếng Việt.
Giáo viên trẻ, nhiệt tình ln nỗ lực học hỏi để tìm kiếm, sáng tạo các biện
pháp nhằm nâng cao kĩ năng sống cho học sinh. Bản thân giáo viên chủ nhiệm đã
được tham gia lớp tập huấn về giáo dục kĩ năng sống cho học sinh tiểu học qua tài
liệu Sống đẹp do Phòng Giáo dục và Đào tạo tổ chức.
Một số học sinh có ý thức trong việc lĩnh hội kiến thức cũng như tích luỹ kĩ
năng sống cho bản thân. Một số em có kĩ năng sống cơ bản tương đối tốt, có một số
ngày ít có thời gian quan tâm đến con. Nhiều phụ huynh trẻ phải đi làm ăn xa, gửi
con lại cho ông bà nên chưa quan tâm nhiều đến giáo dục kĩ năng sống cho con em
mình. Do đó, học sinh thiếu sự quan tâm, ít trau dồi về kĩ năng sống từ gia đình.
Thêm vào đó, ngơn ngữ cịn nhiều tiếng địa phương, lời nói cịn mộc mạc chưa lịch
sự, chưa tự tin khi sử dụng ngôn ngữ phổ thông nên trong giao tiếp còn rụt rè, e
ngại.
Những nguyên nhân trên đã ảnh hưởng khơng ít đến q trình hình thành kĩ
năng sống cho học sinh.
2. Một số biện pháp giáo dục kĩ năng sống cho học sinh thông qua dạy
học mơn Tiếng Việt lớp 4 trong chương trình VNEN:
2.1 Biện pháp 1: Giáo viên nắm vững khái niệm về kĩ năng sống và các
nội dung tích hợp trong mơn Tiếng Việt.
2.1.1 Nắm vững khái niệm về kĩ năng sống.
Trước hết để giáo dục kĩ năng sống thì bản thân chúng ta phải hiểu rõ kĩ năng
sống là gì?
Tổ chức Y tế Thế giới WHO định nghĩa kỹ năng sống là "khả năng thích
nghi và hành vi tích cực cho phép cá nhân có khả năng đối phó hiệu quả với nhu
cầu và thách thức của cuộc sống hàng ngày". Trong giáo dục tiểu học và giáo
dục trung học, kĩ năng sống có thể là một tập hợp những khả năng được rèn luyện
và đáp ứng các nhu cầu cụ thể của cuộc sống hiện đại hóa; ví dụ cuộc sống bao
gồm quản lý tài chính (cá nhân), chuẩn bị thức ăn, vệ sinh, cách diễn đạt, và kĩ
năng tổ chức.
Kĩ năng sống thực sự bao gồm:
Kĩ năng thoát hiểm: Trong tai nạn hay tình huống nguy hiểm xảy ra, nếu giỏi
văn, giỏi tốn mà khơng biết cách thốt hiểm thì cái giỏi kia trở nên công cốc. Lúc
bấy giờ, việc cần làm là phải biết cách thoát ra khỏi nơi nguy hiểm một cách an
toàn và hiệu quả. Những kĩ năng này bao gồm: thoát khỏi hỏa hoạn, ngập lụt, động
đất, tai nạn thương tích, xâm hại hay bắt cóc. Đặc biệt thời gian gần đây, tình trạng
băt cóc và xâm hại trẻ em đang là vấn đề nhức nhối. Vì vậy kĩ năng để thốt khỏi
bày một vấn đề nào đó. Kĩ năng này thực ra rất dễ thực hiện nếu như ta đã có tồn
bộ những kĩ năng ở trên. Bởi khi trong đầu chúng ta là một biển kiến thức và kinh
nghiệm sống, việc tham gia vào một cuộc đàm đạo sẽ khơng khiến ta q lo âu và
lúng túng. Vì vậy, giờ chỉ có học cách nói năng cho lưu lốt và tự tin là xong.
Hy sinh bản thân vì tập thể: Đôi khi trong cuộc sống, hy sinh cái tôi của
chính mình sẽ đem lại lợi ích to lớn cho tập thể và cộng đồng. Nếu trẻ nhỏ hiểu
được điều này, khơng những trẻ đóng góp được nhiều cơng sức cho đất nước mà
còn giúp xác định được lý tưởng sống và xây dựng khát vọng sống.
2.1.2. Nắm các nội dung tích hợp trong mơn Tiếng Việt
Giáo viên cần có kế hoạch về tồn bộ nội dung giáo dục kĩ năng sống tích
luỹ trong chương trình môn Tiếng Việt.
Cụ thể như sau:
BÀI
1A
1B
NỘI DUNG BÀI
CÁC KĨ NĂNG SỐNG CẦN ĐẠT
Thương người như thể thương -Thể hiện thông cảm
thân
- Xác định giá trị
- Tự nhận thức về bản thân
Thương người, người thương
1C
Làm người nhân ái
- Giao tiếp ứng xử lịch sự trong giao
tiếp
- Thể hiện sự cảm thông
- Xác định giá trị
- Tư duy sáng tạo
- Tìm kiếm và xử lí thơng tin
4A
Làm người chính trực ( Tiết 1)
- Xác định giá trị
- Tự nhận thức về bản thân
- Tư duy phê phán
4B
Con người Việt Nam( Tiết 1,2,3)
5A
Làm người trung thực, dũng cảm - Xác định giá trị
( Tiết 1)
- Tự nhận thức về bản thân
- Tư duy phê phán
5B
Đừng vội tin những lời ngọt
Bạn mơ ước điều gì ( Tiết 1)
- Tư duy sáng tạo, phân tích, phán đoán
- Thể hiện sự tự tin
- Hợp tác
9A
Những điều em mơ ước ( Tiết 1)
-Lắng nghe tích cực
- Giao tiếp
- Thương lượng
9B
Hãy biết ước mơ ( Tiết 2)
- Thể hiện sự tự tin
-Lắng nghe tích cực
- Đặt mục tiêu
- Kiên định
9C
Nói lên mong muốn của mình
- Thể hiện sự tự tin
-Lắng nghe tích cực
- Xác định gía trị
- Tự nhận thức về bản thân
- Đặt mục tiêu
13B
Kiên trì và nhẫn nại
13C
Mỗi câu chuyện nói với chúng ta - Thể hiện sự tự tin
điều gì?
- Tư duy sáng tạo
-Lắng nghe tích cực
14A
Món q tuổi thơ ( Tiết 1)
14B
Đồ chơi của ai ( Tiết 1)
- Xác định gía trị
- Tự nhận thức về bản thân
- Thể hiện sự tự tin
14C
Đồ vật quanh em ( Tiết 1)
Chuyện về những người tài giỏi
20C
Giới thiệu quê hương ( Tiết 2)
- Thu thập, xử lí thơng tin( về địa
phương cần giới thiêu)
- Thể hiện sự tự tin
- Lắng nghe tích cực, cảm nhận, chia
sẻ, bình luận ( về bài giới thiệu)
21A
Những cơng dân ưu tú ( Tiết 1)
- Tự nhận thức, xác định giá trị bản
thân
- Tư duy sáng tạo
21B
Đất nước đổi thay ( Tiết 2)
- Giao tiếp
- Thể hiện sự tự tin
- Ra quyết định
- Tư duy sáng tạo
23B
- Ra quyết định
- Tư duy sáng tạo
25A
Bảo vệ lẽ phải ( Tiết 1)
- Tự nhận thức: xác định giá trị bản
thân
- Ra quyết định
- Ứng phó, thương lượng
-Tư duy sáng tạo: bình luận, phân tích
26A
Dũng cảm chống thiên tai
( Tiết 1)
26B
Thiếu nhi dũng cảm ( Tiết 1)
29A
Quà tặng của thiên nhiên( Tiết 2)
- Giao tiếp: thể hiến sự cảm thông
- Ra quyết định. ứng phó
- Đảm nhận trách nhiệm
nhiệm
34A
Tiếng cười là liều thuốc bổ
- Kiểm soát
- Ra quyết định: tìm kiếm các lựa chọn
- Tư duy sáng tạo: nhận xét, bình luận
( Tiết 1)
2.2 Biện pháp 2: Gần gũi và tạo mối thân thiện với học sinh
Đầu tiên, sau khi nhận lớp, để tạo sự gần gũi và gắn kết giữa học sinh và giáo
viên chủ nhiệm, bản thân sắp xếp nhiều thời gian cho học sinh được giới thiệu về
mình, động viên khuyến khích các em chia sẻ với nhau về những sở thích, ước mơ
tương lai cũng như mong muốn của mình với các em. Đây là hoạt động giúp cơ trị
hiểu nhau, đồng thời tạo một môi trường học tập thân thiện “Trường học thật sự trở
thành ngôi nhà thứ hai của các em, các thầy cơ giáo là những người thân trong gia
đình". Đây cũng là một điều kiện rất quan trọng để phát triển khả năng giao tiếp
của học sinh. Bởi học sinh không thể mạnh dạn, tự tin trong một môi trường mà
giáo viên ln gị bó và áp đặt.
Tiếp theo trong tuần đầu, bản thân cho học sinh tự do lựa chọn vị trí ngồi của
mình để qua đó phần nào nắm được đặc điểm tính cách của các em: mạnh dạn hay
nhút nhát, thụ động hay tích cực, thích thể hiện hay khơng thích...Và tiếp tục qua
những tuần học sau, bản thân chú ý quan sát những biểu hiện về thái độ học tập,
những cử chỉ, hành vi tại vị trí ngồi mà các em chọn để bắt đầu có điều chỉnh phù
hợp.
nêu các kĩ năng mà em đã ứng dụng để giải quyết vấn đề đó.
Ví dụ: Trong bài 5B: Đừng vội tin những lời ngọt ngào (tiết 1) Khi dạy đọc
bài Gà Trống và Cáo, tôi cho học sinh đọc phân vai để các em cảm nhận được
đúng trạng thái nhân vật và biết cách ứng xử nhanh nhẹn của Gà Trống mà học tập.
Đồng thời liên hệ với học sinh phải cảnh giác với những lời dụ dỗ của người lạ để
tránh bị lừa gạt.
Ở bài 3B: Tiết 1: Đọc- hiểu bài Người ăn xin. Sau khi tìm hiểu xong nội dung
bài, tơi cho học sinh đóng vai thể hiện lại nội dung bài. Việc làm này vừa giúp học
sinh nắm được nội dung bài, vừa cho các em thực hành ứng xử khi gặp những
người có hồn cảnh khó khăn. Ngồi ra, tơi cịn cho học sinh một tình huống tương
tự bài học: Nếu em cùng mẹ đi chợ và gặp một người ăn xin ngồi ở cổng ngả nón ra
xin. Em sẽ làm gì? Sau đó u cầu học sinh tự thảo luận và đóng vai để ứng xử tình
huống đó. Nhiều nhóm có nhiều cách ứng xử khác nhau, nhưng nhìn chung các em
đều đã có chung cách giải quyết là giúp đỡ chứ khơng bỏ qua họ. Điều đó cho thấy
các em đã tiếp thu được ý nghĩa bài học một cách tích cực. Đó là biết thơng cảm,
chia sẻ với những người có hồn cảnh khó khăn.
2.5 Biện pháp 5: Tổ chức hoạt động với nhiều phương pháp tạo sự hứng
thú cho học sinh như: đóng vai, trị chơi,…
Một khi nội dung học được kết hợp vào trò chơi, đóng vai thường gây được
sự thích thú với học sinh. Các em được thể hiện bản thân mình một cách rõ rệt. Từ
đó, sử dụng nhiều biện pháp hỗ trợ kịp thời giúp học sinh phát huy tối đa các kĩ
năng mình có.
Ví dụ: Khi dạy các bài có nội dung như: “Luyện tập trao đổi ý kiến với người
thân”, “Luyện tập giới thiệu địa phương, … bản thân tổ chức cho các em, đóng vai,
chơi trị chơi. Sau vài lời khuyến khích đầu tiên, bản thân tổ chức cho các em đứng
thành vịng trịn đóng vai, giới thiệu, bày tỏ ý kiến,… Lúc đầu các em rất ái ngại
không tự tin khi đóng vai, bày tỏ ý kiến trước lớp nhưng bản thân đã kịp thời nhắc
nhở các em những điều cần chú ý trong khi giao tiếp, cộng thêm một mơi trường
học sinh. Đặc biệt khơng nên khen thưởng học sinh với những món q có giá trị
về vật chất cao để tránh việc học sinh nghĩ rằng việc đạt được thành tích cao là để
có được vật chất chứ khơng hiểu được là nó giúp ích cho chính cuộc sống của bản
thân các em.
Để động viên, khuyến khích học sinh thực hiện tốt việc rèn luyện các kĩ năng
sống. Tôi theo dõi hằng ngày các em có biểu hiện tốt ghi vào sổ, trong tiết sinh hoạt
cuối tuần cho các em bình chọn những bạn thực hiện tốt sẽ được một bông hoa thật
ý nghĩa để dành tặng mẹ và cơ giáo của mình. Hoặc một số món quà nhỏ như: Cây
bút, chiếc khăn quàng, .... Kèm theo lời khen thiết thực để khích lệ các em. Vì thế
các em khơng ngừng thi đua cố gắng thực hiện tốt để được nhận những món q
nhỏ mà cơ giáo thưởng. Đây là một hình thức động viên về tinh thần rất giá trị và
hiệu quả. Các em sẽ nhanh nhẹn hơn, có đạo đức tốt hơn, mạnh dạn hơn trong giao
tiếp, tự tin hơn trong cuộc sống.
Ngoài khen thưởng cụ thể, giáo viên cần sử dụng lời khen kịp thời và phù
hợp. Ví dụ sau khi đưa ra một biện pháp giải quyết tình huống tốt, giáo viên cần
khích lệ ngay học sinh bằng một lời khen hay một tràng pháo tay của các bạn. Các
em sẽ cảm thấy vui mừng và hứng thú hơn để lần sau sẽ không ngại đưa ra ý kiến
để được cô và bạn khen ngợi. Tuy nhiên, cũng không nên quá lạm dụng lời khen để
tránh làm mất giá trị của lời khen dành cho học sinh đôi khi sự tâng bốc cũng khiến
trẻ cứ nghĩ mình đã làm tốt rồi nên ý chí nỗ lực cũng sẽ vì thế mà thui chột.
• Kết quả:
Qua khảo sát lần 2 ở lớp 4C ( cuối năm) với chủ đề “ Kĩ năng của em”; kết
quả so với đầu năm thì các em tiến bộ rất nhiều. Cụ thể như sau:
Tổng số học
sinh
28
Tổng số
học sinh
Kĩ năng tốt
SL
0
%
0
Ứng xử tình huống trong chơi trị chơi tập thể
Biết cách ứng xử hài hịa, khá
Hay cãi nhau, xơ đẩy bạn khi
phù hợp.
chơi.
SL
%
SL
%
28
100
0
0
Tổng số
học sinh
28
Về tổng hợp năng lực, phẩm chất và kiến thức cuối năm như sau:
Năng lực
Phẩm chất
SL Mức
đạt
được
96,4
3,6
0
Tự học,
GQVĐ
%
96,4
3,6
0
Hồn thành chương
trình lớp học
SL
25
3
0
%
89,3
10,7
0
Chăm
học,
chăm
làm
SL
%
92,9
7,1
0
Đoàn kết
, yêu
thương
SL
27
1
0
%
96,4
3,6
0
Khen thưởng
Khen cuối năm
Khen đột xuất
Cấp Tỉnh
Cấp trường
SL
%
hiện rõ qua: Việc sinh hoạt hằng ngày trên lớp, trong nhiều nghi thức lời nói, các
em biết nói lời hay, ý đẹp với người xung quanh. Những lời chào, cảm ơn hay xin
lỗi, những yêu cầu, đề nghị lịch sự,... đã trở thành thói quen được các em sử dụng
hằng ngày. Các em rất hăng hái phát biểu trong tiết học và luôn được khen thưởng
trong tuần. Phụ huynh học sinh rất vui mừng phấn khởi với kết quả này của lớp.
III. PHẦN KẾT LUẬN
1. Ý nghĩa của sáng kiến:
Như vậy bằng nhiều hình thức khác nhau, bản thân luôn cố gắng rèn cho học
sinh những kĩ năng cơ bản có hiệu quả, thể hiện rõ nét ở sự tiến bộ của học sinh
trong nhận thức, trong cư xử, đối xử tốt với bạn bè, người lớn và linh hoạt xử lí
trong mọi trường hợp.
Một trong những yêu cầu quan trọng để thực hiện việc lồng ghép giáo dục kĩ
năng sống vào bài học trên lớp là giáo viên phải tìm ra được mối liên hệ giữa các kĩ
thuật dạy học với nội dung rèn luyện kĩ năng sống. Chẳng hạn, với học sinh tiểu
học, để hình thành nhóm kĩ năng nhận thức bao gồm: nhận thức bản thân, xây dựng
kế hoạch, xác định điểm mạnh, điểm yếu của bản thân, khắc phục khó khăn để đạt
mục tiêu, tư duy tích cực và tư duy sáng tạo ….Giáo viên cần sáng tạo rất nhiều
tình huống trong bài học để học sinh qua đó tự hình thành các kĩ năng này.
Để đạt được hiệu quả cao nhất, giáo viên cần phải nắm được các phương
pháp đặc trưng việc giáo dục và rèn luyện kĩ năng sống cho học sinh, biết lựa chọn
phương pháp, kĩ thuật dạy học phù hợp, kết hợp hình thức dạy học hợp lí nhằm
phát huy tính chủ động của học sinh sẽ giúp các em phát huy cao độ trí tuệ, cảm
xúc, năng động, sáng tạo trong học tập và giao tiếp. Đặc biệt, đòi hỏi ở giáo viên
một tinh thần trách nhiệm và khả năng sáng tạo rất cao.
"Không thể trồng cây ở những nơi thiếu ánh sáng, cũng khơng thể ni dạy
trẻ với chút ít nhiệt tình ." ( Can Jung )
Vì vậy, giáo dục kĩ năng sống chỉ thật sự có hiệu quả khi người thầy có tâm
huyết, sự kiên nhẫn và nhất là phải có thời gian.
Xin chân thành cảm ơn !