Hành Vi Sử Dụng Mạng Xã Hội Facebook Của Sinh Viên Trường Đại Học Đồng Nai - Pdf 70

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Mai Thị Duyên

HÀNH VI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI
FACEBOOK CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

Thành phố Hồ Chí Minh – 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP. HỒ CHÍ MINH

Mai Thị Duyên

HÀNH VI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI
FACEBOOK CỦA SINH VIÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐỒNG NAI
Chuyên ngành

: Tâm lí học

Mã số

: 60 31 04 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ TÂM LÍ HỌC

thực hiện đề tài.
Xin chân thành cảm ơn!
Tác giả
Mai Thị Duyên


MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các từ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các biểu đồ
MỞ ĐẦU

............................................................................................................................... 1

Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HÀNH VI SỬ DỤNG MẠNG XÃ HỘI
FACEBOOK CỦA SINH VIÊN .................................................................... 7
1.1. Lịch sử nghiên cứu vấn đề ............................................................................................... 7
1.1.1. Những nghiên cứu về hành vi con người ........................................................... 7
1.1.2. Những nghiên cứu về mạng xã hội, mạng xã hội Facebook............................. 9
1.2. Các khái niệm cơ bản .....................................................................................................19
1.2.1. Khái niệm hành vi ................................................................................................19
1.2.2. Khái niệm mạng xã hội Facebook......................................................................25
1.2.3. Khái niệm hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên .................39
1.3. Biểu hiện hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên .............................39
1.3.1. Đặc điểm tâm lý của sinh viên............................................................................39
1.3.2. Biểu hiện hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook của sinh viên ..................43

Tiểu kết chương 2 .............................................................................................................. 106
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ......................................................................................... 108
TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................................................... 113
PHỤ LỤC


DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Click : kích chuột
ĐLC : độ lệch chuẩn
ĐTB : điểm trung bình
Like

: thích

MXH : mạng xã hội
Status : trạng thái
SV

: sinh viên


DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1.

Vài nét về khách thể nghiên cứu .................................................................... 53

Bảng 2.2.

Cách thức quy đổi điểm................................................................................... 57


Bảng 2.10. Biểu hiện hành vi sử dụng MXH Facebook của sinh viên qua các hoạt
động ................................................................................................................... 76
Bảng 2.11. So sánh sự khác biệt về biểu hiện hành vi sử dụng MXH Facebook
trong hoạt động................................................................................................. 80
Bảng 2.12. Thời điểm sử dụng MXH Facebook trong một ngày của sinh viên........... 85
Bảng 2.13. Cách giải quyết tình huống của sinh viên đại học Đồng Nai ..................... 90
Bảng 2.14. Các yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử dụng MXH Facebook của sinh
viên..................................................................................................................... 96
Bảng 2.15. Kết quả khảo nghiệm về tính cần thiết và khả thi của các
biện pháp tác động đến hành vi sử dụng MXH Facebook của SV .......... 102


DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ
Biểu đồ 2.1. Nhận thức về mục đích sử dụng MXH Facebook của sinh viên............... 64
Biểu đồ 2.3. Thời gian bắt đầu sử dụng MXH Facebook của sinh viên......................... 82
Biểu đồ 2.4. Thời gian sử dụng MXH Facebook của sinh viên trong một ngày........... 83
Biểu đồ 2.5. Thời điểm sử dụng MXH Facebook trong một ngày của sinh viên ......... 85
Biểu đồ 2.6. Những hoạt động sinh viên thường hay sử dụng MXH Facebook ........... 87
Biểu đồ 2.7. Biểu hiện hành vi sử dụng MXH Facebook của sinh viên qua cơ thể ..... 88


1

MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Nghị quyết hội nghị lần thứ bảy Ban chấp hành Trung Ương khóa X “Về xây
dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh cơng nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước”
đã khẳng định: “Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí
thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Ngày nay, cùng với sự phát

hiện diện của bản thân. Và đây cũng có thể lí giải được ngun nhân các em đã làm
quen và chọn các trang mạng xã hội để đáp ứng nhu cầu của bản thân mình.
Sự xuất hiện với những tính năng đa dạng, nguồn thơng tin phong phú, mạng xã
hội Facebook đã cho phép người dùng tiếp nhận, chia sẻ và chọn lọc thơng tin một
cách có hiệu quả, mạng xã hội Facebook giúp thế giới “phẳng” hơn, nhỏ hơn, gần hơn
vượt qua trở ngại về không gian hay thời gian. Nó giúp nâng cao vai trị của mỗi công
dân trong việc tạo lập quan hệ và tự tổ chức xoay quanh những mối quan tâm chung
trong những cộng đồng thúc đẩy sự liên kết các tổ chức xã hội. Với chức năng đa dạng
và sự gia tăng ngày càng nhanh số lượng thành viên, mạng xã hội Facebook đã có tác
động làm thay đổi nhiều thói quen cũ và hình thành những biểu hiện mới của tư duy,
lối sống, văn hóa đối với người sử dụng trong đó một bộ phận khá lớn là sinh viên.
[13].
Đồng Nai trong ba năm trở lại đây, mạng xã hội ảo trở thành một hiện tượng nổi
trội trong đời sống tinh thần của các em sinh viên. Hiện nay, mọi lúc mọi nơi chúng ta
đều bắt gặp hình ảnh các em truy cập mạng xã hội Facebook, Có thể từ máy tính để
bàn, laptop, hoặc từ điện thoại di động. Mục đích, mức độ và cách thức tham gia của
mỗi cá nhân khi tham gia mạng xã hội tuy có điểm khác nhau, nhưng một điểm chung
không thể phủ nhận rằng, sinh viên đã nhìn nhận mạng xã hội Facebook như một phần
không thể thiếu trong cuộc sống của họ. Đối với nhiều bạn trẻ việc lạm dụng thái quá
mạng xã hội Facebook thì những mặt tích cực lại trở thành tiêu cực, ảnh hưởng khơng
ít đến thời gian học tập, giảm sự tập trung trong học tập, hệ lụy đến sức khỏe, tinh thần
của sinh viên, trường hợp nặng có thể nghiện mạng xã hội Facebook, các em có thể bị
cuốn cuộc sống ảo mà rời xa hiện thực. Những tác hại tiêu cực của mạng xã hội
Facebook đã phần nào hạn chế giá trị đạo đức, văn hóa nhân văn của một bộ phận
thanh niên sinh viên hiện nay.
Tốc độ ảnh hưởng của mạng xã hội Facebook đang lan truyền rất rộng, thiết nghĩ
cần phải có các đề tài nghiên cứu cụ thể nhằm tác động tích cực đến hành vi sử dụng


3

6.1. Giới hạn về nội dung nghiên cứu


4

Đề tài chỉ tập trung nghiên cứu thực trạng mức độ biểu hiện hành vi sử dụng
mạng xã hội Facebook của sinh viên trường Đại học Đồng Nai thông qua ba mặt: nhận
thức, cảm xúc, hành động và một số biểu hiện trên bình diện sinh học.
6.2. Giới hạn về khách thể nghiên cứu
Đề tài chỉ khảo sát khách thể là 400 sinh viên trường Đại học Đồng Nai. Trong
đó 200 sinh viên năm nhất, 200 sinh viên năm hai.
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
7.1.1. Quan điểm hệ thống cấu trúc
Vận dụng quan điểm hệ thống cấu trúc để xây dựng cơ sở lý luận như khái niệm
hành vi, phân loại hành vi, biểu hiện, nguyên nhân và những ảnh hưởng của hành vi sử
dụng mạng xã hội Facebook. Xây dựng bảng hỏi được tiến hành trên cấu trúc đã được
xác lập.
7.1.2. Quan điểm thực tiễn
Hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook hiện là mối quan tâm của toàn xã hội
hiện nay. Báo chí và các phương tiện thơng tin đại chúng khác không ngừng đưa tin về
một số thực trạng, một số hậu quả nghiêm trọng xảy ra từ việc sử dụng một cách lệ
thuộc vào mạng xã hội Facebook quá mức, đặc biệt là giới sinh viên. Đáng báo động
hơn là một số trang cá nhân của các em sinh viên nữ đăng ảnh “khoe thân” để gây sự
chú ý, sự quan tâm của người khác đến những dòng trạng thái hay hình ảnh của bản
thân và để họ có thể ấn “like”. Tác dụng tích cực của mạng xã hội Facebook được rất
ít sinh viên khai thác. Vì vậy việc tìm hiểu hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook,
phân tích yếu tố ảnh hưởng đến hành vi, đề xuất một số biện pháp nhằm tác động đến
nhận thức của các em để giảm thiểu việc sử dụng quá mức mạng xã hội Facebook là
đáp ứng với yêu cầu thực tiễn đang đề ra.

cậy)
- Bước 3: Xây dựng phiếu thăm dị chính thức.
7.2.2.2. Phương pháp phỏng vấn
Mục đích
Tiến hành phỏng vấn sinh viên để làm rõ hành vi sử dụng mạng xã hội Facebook.
Cách thức thực hiện
- Phỏng vấn nhóm: phỏng vấn một số nội dung gắn với bảng hỏi để làm tăng
tính thuyết phục cũng như độ phong phú và thực tế của số liệu.


6

- Phỏng vấn cá nhân: chọn một vấn đề nào đó nổi trội trong các nội dung phỏng
vấn nhóm để phỏng vấn sâu thêm ở một số đối tượng.
- Nội dung câu hỏi phỏng vấn chủ yếu nhằm tìm hiểu biểu hiện hành vi mạng xã
hội Facebook của sinh viên, những ảnh hưởng của hành vi sử dụng mạng xã hội
Facebook.
- Bảng hỏi gồm 2 phần: Phần thứ nhất là lời chào và những câu hỏi tạo bầu
khơng khí thân thiện, thoải mái cho buổi phỏng vấn. Phần thứ hai là những câu hỏi
nhằm tìm hiểu biểu hiện hành vi sử dụng Facebook, yếu tố ảnh hưởng đến hành vi sử
dụng mạng xã hội Facebook.
7.2.3. Phương pháp thống kê toán học
Mục đích
Xử lí số liệu thống kê có liên quan đến đề tài như: tính tần số, phần trăm, kiểm
nghiệm T – Test, ANOVA,…
Cách thức thực hiện
Sử dụng phần mềm: SPSS for Window 16.0 để xử lý các số liệu thống kê.


7


8

Sexting liên quan đến việc sử dụng hình ảnh của bản thân hoặc với những người khác
trong một hành vi sex thân mật hoặc phô trương thân thể. Các bức ảnh được chụp bằng
điện thoại di động sau đó được phân tán cho bạn bè nhờ MXH [50].
Hành vi đã được quan tâm, nghiên cứu dưới góc độ tâm lý ngày càng được
nghiên cứu sâu hơn, đa dạng hơn trên mọi lĩnh vực.
 Những nghiên cứu về hành vi con người ở Việt Nam
Luận văn thạc sỹ Tâm lý học của tác giả Nguyễn Thị Diễm My nghiên cứu hành
vi tương đối mới đó là “ Hành vi nói dối của học sinh THCS”. Kết quả nghiên cứu cho
thấy có đến 79,8% học sinh thừa nhận mình đã nói dối ít nhất một lần và 5,2% học
sinh tự đánh giá mình đã nói dối liên tục từ 2 tháng trở lên, 2,08% học sinh cho rằng
mình đã nói dối liên tục trên 4 tháng và 12,9% học sinh thừa nhận liên tục nói dối trên
6 tháng. Tác giả đã làm cho lịch sử nghiên cứu vấn đề về hành vi thêm phong phú
[19].
Một vấn đề mà giới trẻ đang bị cuốn vào cuộc sống của bản thân đấy là nghiện
mạng xã hội Facebook. Tác giả Nguyễn Thị Đào Lưu đã đưa ra kết quả nghiên cứu
trong luận văn thạc sỹ “ Hành vi nghiện mạng xã hội – Facebook ở học sinh lớp 9 tại
thành phố Hồ Chí Minh” là 61,5% các em học sinh (trong đó 57,6% đánh giá
Facebook quan trọng và 3,9% đánh giá rất quan trọng) cho rằng Facebook có vai trị
quan trọng và rất quan trọng. Các em cho rằng cuộc sống của mình sẽ thật sự nhàm
chán thậm chí cuộc sống rất tẻ nhạt nếu khơng có Facebook [17].
Luận văn Thạc sĩ “Một số biểu hiện ở hành vi mua sắm của nữ doanh nhân tại
Thành phố Hồ Chí Minh” của tác giả Nguyễn Võ Huệ Anh cho thấy các nhóm sản
phẩm ưu tiên trong việc mua sắm của nữ doanh nhân là: thực phẩm (88%), vật dụng
sinh hoạt gia đình (69,5%), quần áo (58,5%), và sách, báo, tạp chí (54,5%). Mức độ
nghiện mua sắm hay còn gọi là mua hàng cưỡng bức trong nữ doanh nhân lên đến 9%
[2].
Tác giả Nguyễn Thụy Diễm Chi nghiên cứu “Biểu hiện hành vi hung tính của

trưởng là 37,7% năm, mặc dù số người sử dụng MXH ở quốc gia chỉ chiếm 7,7% dân
số. Tiếp theo là Indonesia (tăng 28,7%) và đứng thứ ba là Mexico (tăng 21,1%).
EMarketer cho biết thêm, Mỹ vẫn đang là quốc gia có tỷ lệ người dùng Facebook lớn
nhất thế giới với 146,8 triệu người. Tuy nhiên, theo nhận định của các chuyên gia phân
tích tại eMarketer, với lượng dân số đơng đảo và tốc độ tăng trưởng mạnh mẽ, Ấn Độ
sẽ trở thành quốc gia có số người dùng Facebook đơng nhất thế giới vào năm 2016
[41].


10

Theo trung tâm rối loạn ăn uống tại Sheppard Pratt, 51% người sử dụng
Facebook được khảo sát cho biết họ cảm thấy tự ý thức hơn về cơ thể sau khi nhìn
thấy hình ảnh của mình trên mạng xã hội. “Facebook khiến cho những thành viên dành
nhiều thời gian và năng lượng để chỉ trích cơ thể mình và họ muốn bản thân mình
trơng giống như một người khác hơn” - Tiến sĩ Harry Brandt nói. 80% những người
được khảo sát cho biết họ đăng nhập vào Facebook ít nhất 1 lần/ngày và việc tiếp xúc
với hình ảnh bản thân và bạn bè là thường xuyên. 44% nói rằng họ muốn có cơ thể
hoặc trọng lượng như bạn mình khi nhìn vào các bức ảnh và 32% thừa nhận cảm thấy
buồn khi so sánh hình ảnh Facebook của mình và người khác. 37% cịn nói rằng họ
cảm thấy cần thiết phải thay đổi các phần trên cơ thể họ nữa. Các phát hiện cho thấy
rằng thật sự nguy hiểm khi nhìn vào hình ảnh trên Facebook có thể khiến cho mọi
người ám ảnh về trọng lượng của mình dẫn đến việc cơ thể sẽ phải chịu những thay
đổi từ việc giảm cân sai quy cách và các hành vi kiểm soát cân nặng gây nguy hiểm
khác. Nghiên cứu đã lấy mẫu 600 Mỹ người sử dụng Facebook trong độ tuổi từ 16 đến
40 [29].
Granovetter – một nhà xã hội học người Mỹ nghiên cứu về vấn đề bạn bè trên
MXH có tính “liên kết yếu” và “liên kết chặt”. Thơng thường, bạn bè trên MXH của
một số người nhiều hơn số bạn bè mà họ liên hệ thực sự trong đời sống thực. Kiểu kết
nối trên được gọi là “liên kết yếu”. Các “liên kết yếu” theo Granovetter có tính chất

truyền thơng có thể khốy sâu vào sự bất an của trẻ thông qua những áp lực được hiển
thị từ những bạn bè đồng lứa. Mức độ ái kỷ và hành vi gây hấn có tương quan với giá
trị của một người trên MXH. Hơn nữa, những phiên bản cập nhật ấn tượng của MXH
có thể ảnh hưởng đến suy nghĩ và tâm trí của giới trẻ [31].
Một trong những nghiên cứu về học thuật đầu tiên về sự riêng tư và MXH của
Gross và Acquisti đã phân tích 4000 hồ sơ Facebook của Đại học Carnegie Mellon và
vạch ra các mối đe dọc tiềm ẩn đến sự riêng tư chứa trong thông tin cá nhân trên trang
web của SV, chẳng hạn như nguy cơ tái tạo sổ bảo hiểm xã hội của người sử dụng
thơng tin thường được tìm thấy trong các hồ sơ, như việc công khai nơi sinh và ngày
sinh [48].
Hội đồng quốc gia về thông tin và quyền tự do của Pháp đã điều tra về sử dụng
MXH ở trẻ từ 8-17 tuổi trên 1200 trẻ độ tuổi 8-17 tuổi tại các trường học công lập trên
nước Pháp. Kết quả cho thấy 96% trẻ trong độ tuổi này sử dụng Internet, trong số đó,
48% trẻ sử dụng MXH (tuyệt đại đa số đó sử dụng Facebook). Mặc dù trử dưới 13 tuổi
khơng có quyền sử dụng Facebook, tuy nhiên vẫn có 18% trẻ dưới 13 tuổi có trang


12

Facebook cá nhân, 59% trẻ ngày nào cũng truy cập vào MXH. Thống kê cho thấy 94%
trẻ chỉ có 01 hồ sơ cá nhân trên MXH, 92% các em sử dụng thông tin cá nhân thật để
đăng tải. Giới trẻ cũng cơng bố nhiều thơng tin thực của mình trên mạng: Tên thật
(90%), ảnh cá nhân (88%), ngày sinh (77%), sở thích (69%), email, nick chat (68%),
tên trường (67%), tình trạng độc thân, hẹn hò,… (58%), địa chỉ nhà (27%), số di động
(9%), tơn giáo, quan điểm chính trị (7%), số điện thoại bàn (5%) [51].
Ngày nay với tốc độ lan truyền nhanh chóng của mạng xã hội đã ảnh hưởng
khơng ít đến cuộc sống của người sử dụng. Với nhiều tính năng đa dạng MXH nói
chung MXH Facebook nói riêng cám dỗ người sử dụng dành nhiều thời gian trên
mạng hơn là đi ra ngoài và thiết lập các mối quan hệ thực, gặp gỡ nhiều người. Với
những nội dung tìm kiếm được từ trang MXH khiến người sử dụng lãng phí thời gian

4/ Kích động hoặc dễ bị kích thích khi có xu hướng giảm hoặc ngừng sử dụng
5/ Tiêu tốn thời gian lên mạng nhiều hơn dự kiến
6/ Các mối quan hệ quan trọng, hoạt động nghề nghiệp, xã hội, giải trí bị mất
hoặc có nguy cơ bị mất do sử dụng internet và các ứng dụng.
7/ Nói dối gia đình, nhà trị liệu để che dấu hiện trạng thực sự về việc sử dụng
8/ Sử dụng Internet để trốn tranh khó khăn hoặc để giải tỏa sự hoảng loạn (ví dụ:
cảm giác bất lực, tội lỗi, lo âu, trầm cảm).
Cùng với sự phát triển của công nghệ, nhu cầu giải trí của con người tăng cao,
đặc biệt là sự ra đời của các trang MXH đáp ứng được các nhu cầu của con người.
MXH, MXH Facebook càng ngày được nghiên cứu nhiều hơn trên thế giới. MXH đã
được nghiên cứu dưới các dạng tiếp cận khác nhau và ngày càng được làm rõ hơn về
tính năng, cách sử dụng, lợi ích cũng như những tác hại mà MXH đem lại.
 Những nghiên cứu về mạng xã hội, mạng xã hội Facebook ở Việt Nam
Tại Việt Nam, ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học luôn là nội dung
trọng điểm được nhà nước quan tâm đầu tư. Lê Thị Nhị đã thực hiện Nghiên cứu đề
xuất xây dựng MXH học tập tại Việt Nam. Trên cơ sở phân tích tài liệu, tác giả chỉ ra
vai trị của MXH đối với giáo dục, các ưu điểm và thách thức của việc sử dụng MXH
trong giáo dục. Cụ thể: ban đầu một số trường của các quốc gia trên thế giới ngăn cặn,
nghiêm cấm học sinh, SV sử dụng MXH nhưng sau đó, trước sự bao phủ rộng khắp,
mạnh mẽ của MXH trong mọi mặt của đời sống xã hội, đặc biệt là với học sinh và giáo
viên. Ngoài tỉ lệ sử dụng đáng kinh ngạc trong giới học sinh, SV, các trang MXH có
những tính năng có thể áp dụng cho giáo dục (thông báo, nhắn tin, gửi thư điện tử, gửi
video, hình ảnh) và cịn cho phép tạo thêm các ứng dụng hồn tồn có thể hỗ trợ cho


14

chức năng giáo dục [22].
Không chỉ phục vụ cho công tác giảng dạy MXH cịn thực hiện cơng tác truyền
thơng khá tốt, hiệu quả và chi phí khơng cao cho các doanh nghiệp, các tổ chức trong


tiếp tục nằm trong top 10 cho tới tận thời điểm này [8].
Trong nghiên cứu của tác giả Nguyễn Thị Tuyết Mai đã chứng minh rằng các
giảng viên Trường Đại học Thương mại có thể sử dụng Facebook như một cơng cụ hỗ
trợ hoạt động giảng dạy vì nó có tác động tích cực đến kết quả học tập của sinh viên
[18].
Thứ nhất, một cách trực tiếp hoặc gián tiếp, kết quả của nghiên cứu này chứng
minh rằng mạng xã hội trực tuyến (Facebook) giúp sinh viên Trường Đại học Thương
mại phát triển bản thân bằng cách tác động tích cực đến nhân tố tự trọng. Nghĩa là qua
Facebook sinh viên có thái độ tích cực về bản thân, tự thấy có giá trị, có phẩm chất tốt
và khả năng làm việc như mọi người. Kết quả khảo sát cũng cho thấy rằng Facebook
giúp sinh viên Trường Đại học Thương mại có thể thể hiện bản thân mà khơng có vấn
đề "sợ xấu hổ " trong sự tương tác mặt đối mặt. 639 trên 968 người được hỏi thừa nhận
rằng mạng xã hội trực tuyến cho phép họ cảm thấy thoải mái hơn trong việc thể hiện
và thảo luận về ý tưởng, và tương tác với các bạn học và các giáo viên. Do đó,
Facebook giúp sinh viên Trường Đại học Thương mại tăng khả năng học hỏi từ xã hội
để thích ứng với giáo dục dựa trên web. Giảng viên có thể khơi gợi các ý kiến, sự sáng
tạo của sinh viên bằng cách thu thập các ý kiến đóng góp/nhận định/cách nhìn của sinh
viên trên Facebook về các vấn đề liên quan đến mơn học. Từ đó vừa có thể tạo cơ hội
cho sinh viên thể hiện bản thân mình, bày tỏ các ý kiến, sự mong muốn đóng góp để
hồn thiện bản thân đồng thời giảng viên và sinh viên Trường Đại học Thương mại có
thể kết nối và tương tác với nhau tốt hơn khi các giờ giảng trên lớp bị hạn chế mặt thời
gian và không gian.
Thứ hai, những kết quả của nghiên cứu này cho thấy rằng Facebook dẫn đến tăng
sự hài lòng với cuộc sống đại học của sinh viên Trường Đại học Thương mại.Nó có
nghĩa là Trường Đại học Thương mại có thể sử dụng Facebook như một công cụ để
kết nối sinh viên và hỗ trợ công tác giảng dạy cho giáo viên Trường Đại học Thương
mại.Qua đó, sinh viên Trường Đại học Thương mại vơ hình có thể thúc đẩy về hình
ảnh của Đại học Thương mại.Hơn nữa, các nhà hoạch định chính sách/giảng viên có
thể ban hành chính sách khuyến khích sinh viên Trường Đại học Thương mại tương

Hồng Thị Hải Yến đã thực hiện nghiên cứu “Trao đổi thông tin trên MXH của
giới trẻ Việt Nam từ năm 2010 đến nắm 2011 – Thực trạng và giải pháp – Khảo sát
mạng Facebook, ZingMe và Go.vn” Điều tra xã hội học được tiến hành trên 900 thành
viên ngẫu nhiên đang sử dụng một trong 3 trang MXH, trong độ tuổi từ 15-30 tuổi,
mỗi trang mạng đều tra 300 người. Các phương pháp được thực hiện trong nghiên cứu



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status