BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thu Hiếu
THIẾT KẾ MỘT SỐ DỰ ÁN
DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH LỚP 4
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
Thành phố Hồ Chí Minh – 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Nguyễn Thị Thu Hiếu
THIẾT KẾ MỘT SỐ DỰ ÁN
DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT
CHO HỌC SINH LỚP 4
Chuyên ngành : Giáo dục học (Giáo dục Tiểu học)
Mã số
: 8140101
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
Nguyễn Thị Thu Hiếu
MỤC LỤC
Trang phụ bìa
Lời cam đoan
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt trong đề tài
Danh mục các bảng
MỞ ĐẦU .......................................................................................................................1
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN ..........................................7
1.1. Cơ sở lí luận............................................................................................................7
1.1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu ....................................................................7
1.1.2. Cơ sở khoa học ..............................................................................................14
1.2. Cơ sở thực tiễn ......................................................................................................24
1.2.1. Chương trình, tài liệu dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 ..............24
1.2.2. Thực trạng về dạy học dự án tại Thành phố Hồ Chí Minh ...........................27
Chương 2. THIẾT KẾ MỘT SỐ DỰ ÁN DẠY HỌC MÔN TIẾNG VIỆT 4........35
2.1. Căn cứ thiết kế dự án ............................................................................................35
2.1.1. Yêu cầu, chuẩn kiến thức kĩ năng .................................................................35
2.1.2. Chương trình, tài liệu dạy học .......................................................................36
2.2. Tiêu chí xây dựng dự án .......................................................................................37
2.2.1. Dự án đảm bảo lấy nội dung lấy Tiếng Việt làm trung tâm..........................37
2.2.2. Dự án phải cụ thể, dễ hiểu .............................................................................38
2.2.3. Dự án phải đo lường được.............................................................................38
2.2.4. Dự án phải đạt được mục tiêu .......................................................................39
2.2.5. Dự án phải thực tế .........................................................................................39
2.2.6. Dự án phải có thời gian .................................................................................39
3.4.3. Kết quả đánh giá quá trình thực hiện dự án của phụ huynh..........................71
3.4.4. Những thuận lợi và khó khăn khi thực nghiệm.............................................73
Tiểu kết chương 3 ......................................................................................................76
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ ...................................................................................77
TÀI LIỆU THAM KHẢO.........................................................................................80
DANH MỤC CƠNG TRÌNH CƠNG BỐ CỦA TÁC GIẢ ....................................83
PHỤ LỤC
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG ĐỀ TÀI
DHTDA
Dạy học theo dự án
GV
Giáo viên
HS
Học sinh
PH
Phụ huynh
TP
Thành phố
Bảng 3.6. Kết quả khảo sát về tác dụng tham gia thực hiện dự án............................ 71
Bảng 3.7. Kết quả khảo sát về mức độ phụ huynh muốn giáo viên dạy học cho
học sinh bằng phương pháp dạy học dự án ............................................... 72
DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ
Biểu đồ 3.1. Biểu đồ thể hiện mức độ hứng thú của học sinh với dự án ...................67
Biểu đồ 3.2. Biểu đồ thống kê mức độ học sinh lớp 4 mong muốn giáo viên
dạy học bằng phương pháp dạy học dự án ............................................68
Biểu đồ 3.3. Biểu đồ thể hiện nhận thức về bài học của học sinh lớp 4/5,
4/4, 4/6 ...................................................................................................70
Biểu đồ 3.4. Mức độ phụ huynh muốn giáo viên dạy học cho học sinh bằng
phương pháp dạy học dự án ...................................................................73
1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong cuốn Tâm lí học tiểu học và tâm lí học sư phạm tiểu học (2007), tác giả
Nguyễn Thị Bích Hạnh và Trần Thị Thu Mai có đề cập đến đặc điểm của học sinh
tiểu học chính là tính tò mò và ham hiểu biết. Học sinh tiểu học thu nhận được kiến
thức từ nhiều nguồn khác nhau và có xu hướng đem so sánh những hiểu biết thu
nhận từ trong sách vở, lời giảng của thầy cô với những điều thu nhận được trong thực
tế cuộc sống. Học sinh tiểu học không còn tiếp nhận tri thức một cách thụ động từ
giáo viên, mà chuyển thành người chủ động khai phá những tri thức trong bài học và
thực tiễn cuộc sống. Học sinh chủ đợng ghi nhận kết quả hoạt đợng, tự mình khám
phá tri thức và rèn kĩ năng cho mình thơng qua những cơ hội giáo viên tạo ra cho học
sinh trải nghiệm. Có thể nói, học sinh chính là chủ thể, trung tâm trong hoạt động
dạy học hiện nay.
có sự liên kết giữa các phân môn, liên kết với các môn học khác, lấy nội dung Tiếng
Việt làm trung tâm.
2. Làm rõ hiệu quả của việc vận dụng dạy học một số nội dung môn Tiếng Việt
lớp 4 bằng phương pháp dạy học theo dự án.
3. Cung cấp thêm cho giáo viên các dự án dạy học một số nội dung môn Tiếng
Việt lớp 4. Đồng thời đề xuất một số ngữ liệu mới, chủ điểm mới trong dạy học
Tiếng Việt lớp 4.
3. Nhiệm vụ nghiên cứu
1. Nghiên cứu cơ sở lí luận, cơ sở thực tiễn của phương pháp dạy học theo dự án.
2. Nghiên cứu các nguyên tắc, quy trình, phương tiện trong việc giảng dạy bằng
phương pháp dạy học theo dự án.
3. Tìm kiếm mợt số ngữ liệu mới phù hợp với nội dung dạy học môn Tiếng Việt
lớp 4.
4. Thiết kế một số dự án phù hợp với nội dung dạy học môn Tiếng Việt lớp 4
dựa trên cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn đã tìm hiểu.
5. Tổ chức thực nghiệm và tìm hiểu hiệu quả của dự án đã thiết kế.
4. Khách thể và đối tượng nghiên cứu
4.1. Khách thể nghiên cứu
Q trình dạy học mơn Tiếng Việt cho học sinh lớp 4.
3
4.2. Đối tượng nghiên cứu
Dự án dạy học một số nội dung môn Tiếng Việt lớp 4.
5. Giả thuyết nghiên cứu
Thực nghiệm một số nội dung dạy học Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 bằng
phương pháp dạy học theo dự án xuất phát từ giả thiết nghiên cứu sau: Nếu áp dụng
phương pháp dạy học theo dự án để dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 4 sẽ
giúp học sinh xác định được nội dung, ý nghĩa các bài học, biết sử dụng từ, câu hợp
lí để trình bày, viết văn, liên hệ các bài học với thực tiễn, hứng thú với học tập Tiếng
7.2.2. Phương pháp quan sát sư phạm
Quan sát sư phạm là phương pháp được sử dụng để thu thập thông tin đối tượng
về thái độ của học sinh và phụ huynh lớp 4/5, trường tiểu học T.K, quận 12, q trình
làm việc nhóm, q trình thực hiện dự án, có sự hỗ trợ của phương tiện kĩ thuật (máy
ảnh, quay phim,...), phối hợp với phương pháp thống kê và phương pháp phỏng vấn.
7.2.3. Phương pháp phỏng vấn trực tiếp
Phỏng vấn là phương pháp đưa ra những câu hỏi với người đối thoại để thu
thập thêm thông tin cho việc nghiên cứu. Trong đề tài này, phương pháp phỏng vấn
trực tiếp được sử dụng để phỏng vấn phỏng vấn trực tiếp giáo viên, cán bợ quản lí
(khối trưởng, hiệu phó phụ trách chuyên môn) và một số phụ huynh và học sinh tham
gia thực hiện dự án tại các trường tiểu học về việc áp dụng phương pháp DHTDA
dạy học môn Tiếng Việt, phối hợp với phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và
phương pháp thống kê.
7.2.4. Phương pháp phân tích sản phẩm
Đây là phương pháp sử dụng các bảng hỏi điều tra ý kiến đánh giá học sinh,
phụ huynh về sản phẩm dự án, từ đó phân tích ưu điểm, hạn chế và tính thực tiễn của
các sản phẩm dự án, phối hợp với phương pháp thống kê, phương pháp điều tra bằng
bảng hỏi và phương pháp phỏng vấn.
7.2.5. Phương pháp so sánh, đối chiếu
Trong đề tài, phương pháp so sánh, đối chiếu được tiến hành bằng cách so sánh,
đối chiếu các bảng hỏi điều tra những khó khăn, thuận lợi trong quá trình thực hiện
dự án, hiệu quả của các dự án thực nghiệm dựa trên các ý kiến đánh giá học sinh,
phụ huynh để điều chỉnh hồ sơ dự án phù hợp, phối hợp với phương pháp thống kê,
phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và phương pháp phỏng vấn.
5
7.2.6. Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Đây là phương pháp quan trọng trong đề tài. Tiến hành thực nghiệm để có
những dữ liệu so sánh, đối chứng, đánh giá mức độ hiệu quả và chứng minh giả
Trong qua trình thực hiện đề tài, người nghiên cứu khơng sao chép bất kì cơng
trình nghiên cứu của tác giả khác liên quan đến đề tài đang thực hiện.
9. Bố cục luận văn
Ngoài Phần Mở đầu, Kết luận và đề xuất, luận văn có các chương sau:
Chương 1: Cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
Chương 2: Thiết kế một số dự án dạy học môn Tiếng Việt 4.
Chương 3: Thực nghiệm một số dự án đã thiết kế và đánh giá dự án đã thực nghiệm
Phần Phụ lục gồm các bảng hỏi giáo viên, học sinh chưa tham gia học tập dự
án, học sinh đã tham gia học tập dự án, học sinh tham gia thực nghiệm, phụ huynh,
tiêu chí đánh giá các sản phẩm dự án, nhật kí thực nghiệm, hình ảnh thực nghiệm sư
phạm.
7
Chương 1. CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ CƠ SỞ THỰC TIỄN
Ở chương Mợt này, người viết sẽ trình bày giản lược về phương pháp dạy học
theo dự án. Đồng thời người viết cũng nêu lên những cơ sở lí luận và cơ sở thực tiễn
của việc thiết kế một số dự án dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 4.
1.1. Cơ sở lí luận
1.1.1. Tổng quan về vấn đề nghiên cứu
Các nghiên cứu ở nước ngoài
Dự án là một tổng thể các hoạt động phụ thuộc lẫn nhau nhầm tạo ra các sản
phẩm đạt, được những mục tiêu nhất định trong thời gian nhất định. Khái niệm dự án
(Project) và phương pháp dạy học theo dự án (Project-base learning) đã xuất hiện từ
rất lâu và ngày một phổ biến trong lĩnh vực dạy học và đào tạo từ phổ thông đến đại
học ở các nước phát triển trên thế giới.
Khổng Tử và Aristotle là những người đề xướng đầu tiên học bằng cách làm.
Khổng Tử đã sử dụng các phương pháp giáo dục giúp người học vận dụng những
hiểu biết vào cuộc sống, yêu cầu người học phải suy nghĩ và hỏi thật nhiều, kích
tạo ra mơi trường mang lại những kích thích và là nơi trẻ em tự do phát triển việc học
của chúng một cách tự nhiên và cá tính hóa. Nói cách khác, khái niệm sư phạm quan
trọng trong phương pháp Montessori bao gồm: lấy đứa trẻ làm trung tâm, theo đứa
trẻ, khuyến khích trẻ học tập một cách độc lập, thiết kế một môi trường học tập năng
động và quan sát trẻ. Sau đó, giáo viên với nghiệp vụ chun mơn của mình sẽ hỗ trợ
cho trẻ phát triển khả năng cá nhân với mợt lợ trình riêng cho từng trẻ. Về bản chất
phương pháp này là tự thực hiện và tự quyết. (Collete Gray and Macblain, Hiếu Tân
dịch, 2014).
Jean Piaget (1896 – 1980), nhà tâm lý học về phát triển Thụy Sĩ, đã giúp người
học hiểu cách họ tạo ra ý nghĩa từ những trải nghiệm của chính mình ở các lứa tuổi
khác nhau. Những hiểu biết của ông đặt nền tảng cho cách tiếp cận xây dựng vào
giáo dục, trong đó người học xây dựng dựa trên những gì họ biết bằng cách đặt câu
hỏi, điều tra, tương tác với người khác và phản ánh những kinh nghiệm này. Piaget
phê phán quan điểm của thuyết hành vi – một trường phái tư duy theo các thuyết tập
trình điều kiện hóa cổ điển và kết quả có sức mạnh áp đảo trong giáo dục trong gần
50 năm – nó chỉ khuyến khích trẻ em lặp lại những chuỗi vơ nghĩa mà khơng nâng
câo hiểu biết. Ơng đề cao khám phá việc học thông qua chuỗi những hoạt động thực
9
tế hơn là những hành động lặp lại như thuyết hành vi. Piaget mô tả trẻ em như những
nhà khoa học cô đơn để hết tâm trí vào việc học của mình. Thầy giáo là người tạo
điều kiện thuận lợi trong học tập hơn là người rao giảng. Và ông quan tâm đến quá
trình hơn là sản phẩm. Lí thuyết của ông đưa ra là thuyết kiến tạo, lí thuyết đưa ra
một trong những thuyết đầu tiên về sự nảy nở và phát triển tư duy của trẻ em và nó
có tầm ảnh hưởng rợng lớn cho đến ngày nay. Cũng theo Piaget, giai đoạn trẻ từ 7 –
11 tuổi thuộc giai đoạn hoạt động cụ thể. Giai đoạn này các các qui tắc hoạt đợng
tiến triển dần và có thứ tự khi các kĩ năng đơn giản được củng cố, kết hợp và tổ chức
lại thành những cấu trúc ngày càng phức tạp. Lúc này, trẻ có khả năng đảo ngược ý
nghĩ của nó để giải quyết vấn đề, làm cho tư duy linh hoạt và hiệu quả hơn (Collete
viên để đáp ứng các thơng tin giáo dục.
Trong q trình đào tạo, giáo viên được yêu cầu đặt nền tảng của công nghệ
thông tin vào học sinh và xem xét làm thế nào để sử dụng cơng nghệ thơng tin trong
q trình học tập. Do đó, trong nhiều hoạt đợng sáng tạo, giáo viên được yêu cầu
đóng vai trò của học sinh, tạo ra các ví dụ về các tác phẩm điện tử cho học sinh
(được gọi là các tác phẩm của học sinh, như các bài trình bày đa phương tiện, bản tin
điện tử và các trang web) và các mẫu công cụ hỗ trợ học tập nghiên cứu của học
sinh.
Trong bài viết Project-Based Learning của Joseph S. Krajcik and Phyllis C.
Blumenfeld (2006), có đề cập đến học tập theo dự án là mợt hình thức học tập tại chỗ
và dựa trên kết quả của việc xây dựng kiến trúc, sinh viên hiểu rõ hơn về tài liệu khi
họ tích cực xây dựng hiểu biết của mình bằng cách làm việc và sử dụng ý tưởng.
Trong học tập theo dự án, người học tham gia vào các vấn đề thực sự, có ý nghĩa
quan trọng đối với họ và tương tự như những gì các nhà khoa học, nhà tốn học, nhà
văn và những người đồng nghiệp làm. Một lớp học theo dự án cho phép người học
điều tra các câu hỏi, đưa ra các giả thuyết và giải thích, thảo luận về ý tưởng của
mình, thách thức các ý kiến của người khác và thử những ý tưởng mới. Nghiên cứu
đã chứng minh rằng học sinh trong các lớp học theo dự án có điểm số cao hơn so với
học sinh trong các lớp học có điều kiện truyền thống. Học tập theo dự án là một cách
tiếp cận tổng thể để thiết kế môi trường học tập dựa trên dự án đã có các tính năng
chính.
Shannon Dauphin (2015) cho rằng học tập theo dự án là học sinh học tốt nhất
bằng cách giải quyết các vấn đề thực tế. Học sinh được tham gia nhiều hơn với chủ
11
đề và nhìn vào giáo viên như nhiều hơn mợt người hướng dẫn họ thông qua phản ánh
và ý tưởng của riêng mình. Học tập theo dự án thường liên quan đến học sinh làm
việc theo cặp hoặc nhóm, do đó tạo điều kiện cho sự hiểu biết sâu hơn về hợp tác và
giao tiếp trong việc giải quyết các vấn đề.
của dự án. Đồng thời, các tác giả nêu rõ quy trình thực hiện của phương pháp dạy
học dự án gồm 3 bước: giao nhiệm vụ cho học sinh, tổ chức cho học sinh làm việc và
tổ chức cho học sinh báo cáo kết quả và đánh giá kết quả làm việc. Hay trong cuốn
“Lí luận dạy học Tiếng Việt ở Tiểu học Phần I (Hoàng Thị Tuyết, 2012), người viết
đã cho rằng dạy học theo dự án là phương pháp dạy học thể hiện rõ quan điểm tích
hợp trong dạy học, tạo cơ hội hội cho học sinh vận dụng kiến thức, giải quyết những
vấn đề thực tiễn, góp phần phát triển các kĩ năng học tập suốt đời cho học sinh.
Trong bài viết “Giáo dục môi trường cho học sinh lớp 5 bằng phương pháp dạy học
theo dự án” (Nguyễn Minh Giang và Hoàng Thy Thơ, 2013) đã nhận định phương
pháp dạy học theo dự án không những đáp ứng được nhu cầu học tập ngày càng cao
của lứa tuổi cuối bậc học tiểu học mà còn đáp ứng được những yêu cầu mục tiêu
ngày càng mở rộng khi học tập nội dung giáo dục môi trường.
Bài viết “Dạy học dự án – Từ lí luận đến thực tiễn” của nhóm tác giả Trịnh Văn
Biều, Phan Đồng Châu Thủy, Lê Trịnh Hồng Phương (2011), nêu rõ dạy học theo dự
án làm cho nợi dung học tập trở nên có ý nghĩa hơn, góp phần đổi mới phương pháp
dạy học, thay đổi phương thức đào tạo. Đồng thời, dạy học dự án tạo ra môi trường
thuận lợi cho người học rèn luyện và phát triển, phát huy tính tích cực, tự lực, chủ
động, sáng tạo của người học, giúp người học phát triển khả năng giao tiếp. Ngoài
tác dụng của dạy học dự án trong bài viết, các tác giả còn nêu rõ khái niệm, các hình
thức dạy học dự án, cấu trúc của dạy học dự án, các đặc điểm đặc trưng cũng như
những ưu, nhược điểm của phương pháp dạy học dự án. Có thể nói, đây là nguồn tài
liệu quý giá về dạy học dự án cho những người nghiên cứu về dạy học theo dự án nói
chung cũng như người nghiên cứu đề tài này nói riêng. Bất kì giáo viên nào cũng có
thể thiết kế được hồ sơ dạy học theo dự án dựa trên tài liệu quý giá này.
Ngoài những bài viết trên, hiện nay dạy học dự án được nhiều sinh viên, giáo
viên, nhà nghiên cứu giáo dục tìm hiểu để vận dụng vào thực tế nước ta. Những cơng
trình nghiên cứu liên quan tới dạy học dự án ở Việt Nam có thể kể đến như:
“Vận dụng dạy học dựa trên dự án vào dạy làm văn ở trường trung học” của
Huỳnh Thị Thanh Mai, Khóa luận tốt nghiệp, chuyên ngành Sư phạm Ngữ văn,
“Ca dao dân ca” của mình.
Riêng ở thành phố Hồ Chí Minh, những năm gần đây, Sở Giáo dục và Đào tạo
14
thành phố đã tổ chức “Cuộc thi Giáo viên sáng tạo trên nền tảng công nghệ thông tin
cấp thành phố” hàng năm. Cuộc thi cũng nhằm nâng cao nhận thức và kỹ năng của
giáo viên về việc sử dụng các phương pháp giảng dạy lấy học sinh làm trung tâm
thông qua ứng dụng công nghệ thông tin một cách hiệu quả, dạy học theo dự án, tích
hợp liên môn, học tập bên ngoài lớp học. Đồng thời đổi mới trong cách thức kiểm tra
và đánh giá kết quả học tập của học sinh. Xây dựng các kỹ năng học tập thế kỷ 21
cho học sinh như: tính sáng tạo, kỹ năng giải quyết vấn đề, kỹ năng hợp tác, giao
tiếp, làm việc nhóm, tư duy đợc lập và tự kỷ luật. Bên cạnh các phần thi thiết kế bài
giảng trên PM PowerPoint, thiết kế bài giảng điện tử E-Learning, thiết kế bài giảng
trên bảng tương tác, phần mềm, trang web cho giáo dục, dạy học theo dự án là một
nội dung đầu tiên và quan trọng của cuộc thi. Cuộc thi thu hút không chỉ giáo viên
cấp trung học cơ sở, trung phổ thơng mà còn có giáo viên cấp tiểu học tham gia ngày
càng nhiều qua mỗi năm. Có thể thấy, dạy học theo dự án ngày càng trở nên phổ biến
hơn ở cấp tiểu học ở TP. Hồ Chí Minh hiện nay.
Tuy có nhiều giáo viên mạnh dạn thực hiện dạy học theo dự án này càng nhiều
nhưng ở Việt Nam hiện nay, dạy học dự án cũng chưa được áp dụng đại trà ở cấp
tiểu học, cũng như chưa có cơng trình nào thiết kế dự án để dạy một số nội dung
Tiếng Việt lớp 4 cụ thể. Các cơng trình trên có đề cập đến phương pháp dạy học theo
dự án, đó là những tài liệu quý báu cho người viết nghiên cứu, thiết kế hồ sơ dự án
dạy học môn Tiếng Việt cho học sinh lớp 4.
1.1.2. Cơ sở khoa học
a. Giản yếu về phương pháp dạy học dự án
Khái niệm
Có nhiều quan niệm và định nghĩa về dạy học dự án. Theo Hoàng Thị
Tuyết (2012) :
khái niệm về dạy học dự án phổ biến và phù hợp với đề tài: Dạy học theo dự án là
một hình thức dạy học phức hợp, trong đó học sinh dưới sự điều khiển và giúp đỡ
của giáo viên tự lực giải quyết một nhiệm vụ học tập mang tính phức hợp, theo sát
chương trình học, có sự kết hợp giữa lý thuyết với thực hành, thơng qua đó tạo ra
các sản phẩm thực hành có thể giới thiệu, cơng bố được.
16
Phân loại dạy học dự án
- Phân loại theo thời gian thực hiện dự án: Dự án nhỏ là dự án thực hiện trong
mợt số giờ học, có thể từ 2 đến 6 giờ. Dự án trung bình được thực hiện trong một số
ngày (còn gọi là ngày dự án) nhưng giới hạn trong một tuần hoặc 40 giờ học. Dự án
lớn là dự án được thực hiện với quỹ thời gian lớn, tối thiểu là mợt tuần, có thể kéo
dài trong nhiều tuần.
- Phân loại theo nhiệm vụ có 3 loại: Dự án tìm hiểu là dự án khảo sát thực trạng
đối tượng, dự án nghiên cứu là dự án nhằm giải quyết các vấn đề, giải thích các hiện
tượng, quá trình và dự án kiến tạo là dự án tập trung vào việc tạo ra các sản phẩm vật
chất hoặc thực hiện các hành động thực tiễn, nhằm thực hiện những nhiệm vụ như
trang trí, trưng bày, biểu diễn, sáng tác.
- Phân loại theo mức độ phức hợp của nội dung học tập có dự án mang tính
thực hành là dự án có trọng tâm là việc thực hiện một nhiệm vụ thực hành mang tính
phức hợp trên cơ sở vận dụng kiến thức, kĩ năng cơ bản đã học nhằm tạo ra một sản
phẩm vật chất và dự án mang tính tích hợp là dự án mang nợi dung tích hợp nhiều
nợi dung hoạt đợng như tìm hiểu thực tiễn, nghiên cứu lí thuyết, giải quyết vấn đề,
thực hiện các hoạt động thực hành, thực tiễn.
- Phân loại theo chun mơn thì có dự án trong mợt môn học (nội môn), dự án
liên môn và dự án ngồi mơn học (xun mơn). Nợi mơn là tích hợp các nội dung
kiến thức chỉ trong một môn học. Liên môn là tích hợp các nội dung dạy học, kiến
thức, kĩ năng có sự tương đồng đến hai hay nhiều môn học để dạy học, tránh học
sinh phải học đi học lại nhiều lần một nội dung kiến thức ở nhiều môn học không