Kỹ năng tự học của sinh viên ngành tâm lý học trường đại học sư phạm thành phố hồ chí minh - Pdf 70

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP
HỒ CHÍ MINH KHOA TÂM LÝ HỌC

BÙI THẾ BẢO

KHĨA LUẬN TỐT NGHIỆP

KỸ NĂNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN NGÀNH
TÂM LÝ HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Chuyên ngành: Tâm lý học

Thành phố Hồ Chí Minh, 2019


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ
PHẠM TP HỒ CHÍ MINH KHOA TÂM LÝ HỌC

KỸ NĂNG TỰ HỌC
CỦA SINH VIÊN NGÀNH
TÂM LÝ HỌC TRƯỜNG ĐẠI HỌC
SƯ PHẠM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Người thực hiện: Bùi Thế Bảo
Người hướng dẫn: Tiến sĩ Đỗ Tất Thiên

Thành phố Hồ Chí Minh, 2019


i
LỜI CAM ĐOAN

1.1.1 Trên thế giới............................................................................................. 5
1.1.2 Tại Việt Nam......................................................................................... 12
1.2 Lý luận về kỹ năng tự học của sinh viên........................................................... 16
1.2.1 Lý luận về kỹ năng................................................................................ 16
a. Khái niệm kỹ năng............................................................................ 16
b. Mức độ của kỹ năng.......................................................................... 17
1.2.2 Lý luận về hoạt động tự học.................................................................. 18
a. Khái niệm tự học............................................................................... 18
b. Tự học dưới góc độ Hoạt động......................................................... 20
1.2.3 Lý luận về kỹ năng tự học..................................................................... 22
a. Khái niệm kỹ năng tự học................................................................. 22
b. Các thành tố của kỹ năng tự học....................................................... 22
c. Vai trò của kỹ năng tự học................................................................. 26


iii
1.2.4 Lý luận về kỹ năng tự học của sinh viên ngành Tâm lý học..................27
a. Khái niệm KNTH của sinh viên ngành Tâm lý học 27
b. Biểu hiện kỹ năng tự học của sinh viên ngành Tâm lý học 28
c. Một số đặc điểm của sinh viên Tâm lý học

31

Tiểu kết chương 1.................................................................................................... 34
CHƯƠNG 2. TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU.......................35
2.1 Tổ chức nghiên cứu........................................................................................... 35
2.1.1 Địa bàn nghiên cứu................................................................................ 35
2.1.2 Khách thể nghiên cứu............................................................................ 35
2.1.3 Quá trình nghiên cứu............................................................................. 35
a. Giai đoạn nghiên cứu lý luận


39

c. Nội dung đánh giá

40

d. Độ tin cậy bảng hỏi

41

e. Cách tính điểm

42

f. Cách đánh giá

43

g. Xử lý số liệu

44

2.2.3 Phương pháp phỏng vấn........................................................................ 44
a. Mục đích 44
b. Nội dung 44
c. Q trình thực hiện

44



b. Cơ sở thực tiễn

68

3.3.2 Nội dung biện pháp............................................................................... 68
Tiểu kết chương 3.................................................................................................... 70
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ............................................................................... 71
TÀI LIỆU THAM KHẢO....................................................................................... 74
PHỤ LỤC................................................................................................................... i
PHỤ LỤC 1 - PHIẾU KHẢO SÁT............................................................................ i
PHỤ LỤC 2 - BIÊN BẢN PHỎNG VẤN................................................................. x
PHỤ LỤC 3 - KẾT QUẢ PHÂN TÍCH BẰNG SPSS....................................... xxviii


v
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

Nội dung
Đại học Sư phạm
Kỹ năng
Kỹ năng bổ trợ
Kỹ năng tự học
Lĩnh hội kiến thức
Nhận thức về tự học
Sinh viên
Tâm lý học
Thành phố Hồ Chí Minh
Vận dụng kiến thức



vii
DANH MỤC BIỂU ĐỒ
Hình 1.1 Sơ đồ cấu trúc hoạt động tự học......................................................... 21
Hình 2.1. Hệ thống thành tố KNTH.................................................................. 41
Hình 3.1. Thành phần mức độ kỹ năng tự học của SV TLH.............................48
Hình 3.2. Các yếu tố của việc tìm chọn tài liệu................................................ 52
Hình 3.3. Các yếu tố trong tối ưu hóa đọc tài liệu............................................ 53
Hình 3.4. Q trình tiêu hóa kiến thức.............................................................. 54
Hình 3.5. Q trình vận dụng kiến thức trong tự học....................................... 56
Hình 3.6. Độ hiệu quả của VDKT qua đánh giá từ người khác........................57
Hình 3.7. Độ hiệu quả của VDKT tự sinh viên đánh giá..................................58
Hình 3.8. Điểm số các bước trong quy trình lập kế hoạch tự học.....................62


1

PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài

Triết gia Herrert Spencer từng nói: "Trong việc giáo dục, vị trí rộng lớn nhất cho
q trình tự bồi dưỡng, chỉ có qua con đường tự học, lồi người mới có thể phát triển
mạnh mẽ lên được" (Trần Thị Anh Thư - dẫn theo, 2015). Thật vậy, hoạt động tự học
đóng vai trị quan trọng trong việc hồn thiện bản thân cả về năng lực lẫn phẩm chất
ở mỗi người. Có thể dẫn ra một số nhân vật như: Thomas Edison, Abraham Lincol,

Michael Faraday, hay huyền thoại toán học Srinivasa Ramanujan v.v. Đó là những
bậc tiên phong trong khoa học, có tầm ảnh hưởng của nhân loại. Thành tích của họ
đều đến từ kết quả của tự học. Chỉ có qua con đường tự học, kiến thức mới được
chuyển hóa thành đạo đức, trí tuệ, thành một nhân cách cao đẹp. Là con đường tất

tạo bài bản, có quy mơ ở nước ta cịn q ít, trong khi nhu cầu lại hết sức cấp thiết,
đa dạng và phong phú. Các bệnh viện, trường học, cơ quan, doanh nghiệp… rất
cần lực lượng tốt nghiệp ngành này. Xã hội muốn phát triển thì con người phải
khỏe mạnh cả về thể chất, tâm lý lẫn các mối quan hệ” (Võ Văn Nam, 2018). Do
vậy, ở góc độ này, sinh viên ngành Tâm lý học cần phải ra sức rèn luyện năng lực và
phẩm chất hơn hết. Nói cách khác, sinh viên ngành Tâm lý học cần phải tự học. Vì
xã hội Việt Nam đang cần hàng ngàn nhân lực về Tâm lý đầy về phẩm chất, đủ về
năng lực. Hàng chục ngàn học sinh, hàng triệu con người đang trầm cảm, stress,
đang mất định hướng trong cuộc sống đang rất cần những chuyên gia Tâm lý có
tâm, có tầm và có tài. Trước một nhu cầu nhân lực cháy bỏng như thế của xã hội
hiện nay, liệu rằng: sinh viên Tâm lý học đã và đang tự học như thế nào?
Xuất phát từ thực tế trên, và trong điều kiện cũng như nguồn lực hiện có, đề tài
kỹ năng tự học của sinh viên ngành Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm thành
phố Hồ Chí Minh được chọn để nghiên cứu.
2. Mục đích nghiên cứu


Xác định thực trạng kỹ năng tự học của sinh viên ngành Tâm lý học, trường
Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh. Trên cơ sở đó, đề ra biện pháp
nâng cao kỹ năng tự học cho SV ngành Tâm lý học, trường Đại học Sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh.

3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu

3.1. Đối tượng nghiên cứu


Kỹ năng tự học của sinh viên.

3.2. Khách thể nghiên cứu

6.1. Về nội dung


Nghiên cứu tập trung vào bốn thành tố của kỹ năng tự học: (1) Nhận thức về
tự học, (2) Lĩnh hội kiến thức, (3) Vận dụng kiến thức, và (4) Sử dụng các kỹ
năng bổ trợ cho tự học (gồm KN đặt câu hỏi bản chất và KN lập kế hoạch tự
học).



Xác định thực trạng kỹ năng tự học của sinh viên ngành Tâm lý, trường ĐH
Sư phạm TP.HCM; từ đó đề xuất một số biện pháp cho vấn đề.

6.2. Về thời gian


Nghiên cứu được thực hiện trong 06 tháng: từ tháng 10/2018 đến tháng
03/2019.

6.3. Về khách thể


Nghiên cứu được thực hiện trên sinh viên hệ chính quy, ngành Tâm lý học,
trường Đại học Sư phạm thành phố Hồ Chí Minh, khóa 41, 42, 43, 44.

7. Cách tiếp cận và phương pháp nghiên cứu

7.1. Cách tiếp cận
7.1.1. Tiếp cận Hoạt động




5

CHƯƠNG 1.

LÝ LUẬN VỀ

KỸ NĂNG TỰ HỌC CỦA SINH VIÊN
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu về kỹ năng tự học
1.1.1 Trên thế giới
Ngay từ thời trước công nguyên, các nhà hiền triết đã quan tâm đến vấn đề tự
học. Socrate đã tuyên bố: “Giáo dục phải giúp con người tự khẳng định chính
mình”. Ơng cũng đề xuất một phương pháp dạy học chính là: Hỏi-Đáp. Phương
pháp này cho đến hiện nay vẫn còn được sử dụng trong giáo dục, cũng như giải
quyết vấn đề. (Hà Nhật Thăng, Đào Thanh Âm, Lịch sử giáo dục thế giới, 1998).
Vào thế kỷ 18-19, nhiều nhà giáo dục lỗi lạc như: J.J. Rousseau, Pestalozi,
Disterver, Usinski, J. Dewey, v.v, đã đề ra xu hướng đẩy mạnh việc phát huy tiềm
năng trong mỗi người, nhấn mạnh phương thức học tập bằng cách tự tìm tịi, khám
phá của bản thân để lĩnh hội tri thức. Về sau và mãi cho đến hiện nay, những tư
tưởng này vẫn được tiếp thu và phát triển thành các phương pháp dạy học tích cực,
hiện đại (Hà Nhật Thăng, Đào Thanh Âm, Lịch sử giáo dục thế giới, 1998).
Năm 1984, tác giả N.A. Rubakin trong cuốn “Tự học như thế nào?” đã nhấn
mạnh vai trị và thái độ tích cực trong tự học của học sinh trong việc chiếm lĩnh tri
thức. Ông khẳng định: “Việc giáo dục động cơ đúng đắn là điều kiện cơ bản để học
sinh tích cực, chủ động trong tự học”. Và ông cũng kết luận rằng: “Hãy mạnh dạn
tự mình đặt ra câu hỏi, rồi tự mình tìm lấy câu trả lời” - đó chính là phương pháp
tự học” (N.A. Rubakin, 1984).
Trong những năm gần đây, người ta vẫn không ngừng quan tâm nghiên cứu về
tự học. Cụ thể như sau:

Esham Ahmad, Faizah Abdul Majid, 2014).
Tại Thái Lan, năm 2015, các tác giả Tipparat Sittiwonga và Wanitcha Manyum đã
thực hiện đề tài: “Nghiên cứu ý kiến của sinh viên về hệ thống quản lý kiến thức để hỗ
trợ hướng dẫn trực tuyến cho việc tự học”. Nghiên cứu này tập trung vào ý kiến của
sinh viên về hệ thống quản lý kiến thức cho hướng dẫn trực tuyến có vai trị tăng cường
tự học. Nhóm khách thể gồm là 43 học viên cao học đã học từ kì học thứ 2 năm 2011
ngành Giáo dục và Truyền thông. Các công cụ nghiên cứu là ba bảng câu hỏi: (1) Bảng
câu hỏi tìm hiểu các thành phần trang web để đào tạo chuyên nghiệp;
(2) Bảng câu hỏi thu thập ý kiến đối với toàn bộ trang web; và (3) Bảng câu hỏi về

mức độ hài lòng của người dùng (Tipparat Sittiwonga, 2015).
Một nghiên cứu năm 2017 tại Malaysia với tựa đề: “Tự học trong mắt những nhà


7
giáo dục”. Nghiên cứu này nhằm mục đích điều tra: (i) làm thế nào các nhà giáo dục
xem vai trò của họ là tiên phong trong việc tự học; và (ii) Làm thế nào để các nhà
giáo trao quyền và nghĩa vụ cho sinh viên về việc Tự học của chúng. Để trả lời câu
hỏi nghiên cứu, 30 nhà giáo dục tại Malaysia, những người tự nguyện đề nghị được
tham gia trong nghiên cứu này, đã được phỏng vấn để đưa ra quan điểm. Nghiên
cứu đã áp dụng lý thuyết kiến tạo của Charmaz để thu thập dữ liệu. Dữ liệu thu về
cho thấy không phải tất cả những nhà giáo được khảo sát đều chấp nhận mình với
vai trị là người hỗ trợ học tập vì họ khơng muốn từ bỏ vị trí quyền lực. Mặc dù
phần lớn những người tham gia nghiên cứu vẫn gắn bó chặt chẽ với vai trò truyền
thống của họ là chuyên gia tri thức, họ khơng xem mình là người có thẩm quyền
tuyệt đối khi áp dụng phương pháp sư phạm thông thường và chủ động. Nghiên cứu
này kết luận rằng các nghiên cứu trong tương lai nên điều tra lý do đằng sau sự do
dự của các nhà giáo dục Malaysia trong việc từ bỏ vai trị của các nhân vật có thẩm
quyền (Nurfaradilla Mohamad Nasri, 2017).
Như vậy, các nghiên cứu về thực trạng KNTH nói chung khá đa dạng, từ việc

sử dụng. Thành tích học tập được đo lường bằng kết quả học tập vào cuối năm học.
Phân tích tương quan và hồi quy bội được sử dụng để kiểm tra mối quan hệ giữa đặc
điểm tính cách và việc tự học. Kết quả cho thấy các thành tố của tự học và tính cách
tự định hướng có mối tương quan với nhau; và việc tự học quyết định một phần
thành tích học tập (Ana-Maria Cazan, Bianca-Andreea Schiopca, 2014).
Tại Thổ Nhĩ Kỳ, năm 2014, các tác giả Emine Senyuva và Hülya Kaya đã
nghiên cứu về “Sự ảnh hưởng của việc tự học của sinh viên điều dưỡng với việc học
dựa trên web”. Nghiên cứu này nhằm mục đích trình bày ảnh hưởng của một khóa
học trên web đến sự sẵn sàng Tự học của của sinh viên điều dưỡng. Khách thể
nghiên cứu gồm 162 sinh viên năm hai tại một trường điều dưỡng ở Thổ Nhĩ Kỳ
trong học kỳ mùa thu năm học 2011-2012. Dữ liệu là được thu thập bằng cách sử
dụng biểu mẫu điều tra trực tuyến. Thang điểm sẵn sàng cho việc tự học tính từ tuần
đầu tiên của web bài học đến 14 tuần sau đó. Phần lớn khách thể nghiên cứu là nữ
sinh và tuổi trung bình của họ là 20,28 ± 1,59. Tất cả các sinh viên đã sử dụng
internet. Kết quả thu về có sự khác biệt có ý nghĩa giữa điểm trung bình của sinh
viên về sự sẵn sàng cho việc tự học trước và sau khóa đào tạo trên web. Từ đó, cho
thấy một khóa học dựa trên web ảnh hưởng tích cực đến sự sẵn sàng của sinh viên
về việc tự học. Theo những kết quả này, có thể đề xuất tích hợp mơi trường học tập
dựa trên web vào giáo dục các chương trình để phát triển sự sẵn sàng của sinh viên
điều dưỡng về tự học (Emine Senyuva, Hülya Kaya, 2014).
Nghiên cứu năm 2014 tại Thái Lan của tác giả Anchalee Suknaisith về “Kết quả
của tự học với các kỹ năng đánh giá dự án của sinh viên”. Đối tượng là 50 sinh viên


9
đại học. Dụng cụ nghiên cứu bao gồm: (1) Giáo án tám tuần cho thực nghiệm; (2)
Thang đo sẵn sàng tự học dành cho sinh viên; (3) Thang đo về kỹ năng đánh giá dự
án; và (4) Bảng câu hỏi về chiến lược giảng dạy về việc tự học. Các phát hiện cho
thấy những sinh viên sẵn sàng tự học thì đạt điểm số cao. Sau thực nghiệm, sinh
viên đã đạt điểm số cao hơn về kỹ năng đánh giá dự án. Kiến thức và kỹ năng đánh

trên máy tính cho Bộ Giáo dục ở Oman để dạy các chiến lược chính trong việc thiết
kế các khóa học trực tuyến không đồng bộ. Nghiên cứu đã tiếp cận bằng mô hình hệ
thống Dick and Carey và nguyên tắc First Principles of Instruction của Merrills để
thiết kế nội dung mơ hình (Thuraya Khalifa AL Ghafri, 2013).
Cùng năm 2013 tại Thái Lan, một nghiên cứu của tác giả Nattaphon Rampai về
“ Phát triển mơ hình quản lý kiến thức qua truyền thơng xã hội nhằm nâng cao kỹ
năng tự học cho sinh viên tốt nghiệp”. Nghiên cứu này khám phá rằng mô hình quản
lý tri thức và cơng nghệ truyền thơng xã hội cho sinh viên tốt nghiệp, cũng như tác
động của nó trong lớp học đối với việc học và dạy, đặc biệt là kỹ năng tự học của
sinh viên tốt nghiệp. Trong q trình này, cơng nghệ web có vai trị cần thiết để thúc
đẩy và tích hợp kiến thức và hoạt động học tập trong quá trình quản lý kiến thức
(Nattaphon Rampai, 2013).
Tại Thái Lan, một nghiên cứu năm 2015 của tác giả Phalaunnaphat Siriwongs
với đề tài: “Phát triển năng lực học tập của sinh viên dựa trên việc Tự học ”.
Nghiên cứu nhằm mục đích tìm cách tiếp cận các phong cách và nhu cầu học tập cá
nhân bằng cách Tự học và đánh giá sinh viên lĩnh hội kiến thức từ kinh nghiệm thực
tế của họ. Sinh viên cũng có thể cho thấy kinh nghiệm của họ trong việc bán hàng
và mua sản phẩm. Họ có thể áp dụng các kỹ năng cho những trải nghiệm mà tất cả
phải đối mặt trong Hội chợ Quốc tế do Đại học Quốc tế Suan Sunandha tổ chức.
Sinh viên phải lĩnh hội được một phần kiến thức lý thuyết Kinh tế và vận dụng
chúng vào thực tiễn. Nghiên cứu đã thực hiện trên 200 sinh viên năm nhất với mục
đích học kinh nghiệm mới từ mỗi tình huống đã được chọn và kết quả có thể dễ
thấy: việc tự học như một công cụ của dạy và học (Phalaunnaphat Siriwongs, 2015).
Cũng trong năm 2015 tại Thái Lan với đề tài: “Hỗ trợ học tập qua việc kết hợp tự
học và kỹ năng giao tiếp cho sinh viên năm nhất Đại học Srinakharinwirot”. Nghiên
cứu được thực hiện bới nhóm tác giả Jaemjan Sriarunrasmeea, Wawta
Techataweewanb, và Rattiya Panichkul Mebusaya với mục đích nghiên cứu tính hiệu
quả của mơ hình học tập kết hợp Tự học và việc phát triển các kỹ năng giao tiếp cho
sinh viên bằng cách sử dụng phương pháp nghiên cứu thực nghiệm. Công cụ thu thập
dữ liệu bao gồm các bài kiểm tra kỹ năng tự học và kỹ năng giao tiếp. Khách thể

Nhóm thứ ba bao gồm các kỹ năng và khả năng liên quan đến hoạt động nhận
thức: khả năng xác định tính logic, trình tự thời gian của các sự kiện; tái tạo thông
tin, thực hiện so sánh, phân tích, tổng hợp, tóm tắt và phân loại; thực hiện giao tiếp
liên ngành và hệ thống hóa chúng; tích hợp kiến thức (Rimma Sagitova, 2014).
Trong khi ở Mỹ năm 2014 thì có nghiên cứu về “Sử dụng mơ hình máy tính như


12
một công cụ tự học trong lĩnh vực kinh tế tài chính”. Bài báo trình bày một ví dụ về
việc sử dụng mơ hình mơ phỏng trên máy tính làm nền tảng cho sinh viên tự học
trong lĩnh vực kinh tế tài chính. Sinh viên sử dụng mơ hình mơ phỏng như một
phương tiện để phân tích dự kiến kết quả cho một khoản đầu tư điển hình, chịu ảnh
hưởng của một tập hợp biến số trong kinh tế vĩ mơ. Kỹ thuật này có thể được sử
dụng để phân tích một loạt các quyết định tài chính, nhưng ở đây, nó được sử dụng
để tiên liệu và cho ra quyết định về cấu trúc tài chính trong đầu tư bất động sản
(Robert D. Campbell, 2014).
Như vậy, có thể nói ở góc độ giải pháp, những nghiên cứu đã tác động một cách
đa chiều nhằm nâng cao KNTH hay ứng dụng tự học cho một năng lực khác. Từ
việc thiết kế khóa học khơng đồng bộ đến phát triển mơ hình quản lý kiến thức qua
truyền thơng; từ việc kết hợp tự học và kỹ năng giao tiếp đến việc phát triển khóa
học nhằm hỗ trợ, chuẩn bị để SV tự học và tự học suốt đời, hay là việc sử dụng mơ
hình máy tính như một cơng cụ tự học trong lĩnh vực kinh tế tài chính.
Tóm lại, các nước trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu rất đa dạng về nội dung,
phương pháp, cũng như đối tượng xoay quanh vấn đề tự học và kỹ năng tự học. Từ
các nghiên cứu thực trạng, đến tìm các mối liên hệ hay là về giải pháp. Từ nghiên
cứu trên sinh viên đến nghiên cứu trên các nhà giáo dục, các phương tiện cơng
nghệ, v.v. Điều này đã có tác động đến những nghiên cứu về tự học cũng như kỹ
năng tự học tại Việt Nam. Một mặt, những nghiên cứu trên thế giới là những nguồn
tài liệu kham khảo tin cậy cho những nghiên cứu trong nước Mặt khác, đây cũng là
thách thức cho những nhà nghiên cứu tại Việt Nam.

chủ quan và bảy nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến quá trình tự học của sinh viên
dân tộc thiểu số. Phương pháp chính sử dụng là điều tra viết. Dữ liệu thu về xử lý bằng
phần mềm Microsoft Excel (Phạm Văn Cường, 2010).
Một nghiên cứu năm 2013 của tác giả Nguyễn Thị Thu Huyền: “Thực trạng kỹ
năng tự học ngồi lớp học của sinh viên chính quy sư phạm Trường Đại học Sư phạm
thành phố Hồ Chí Minh”. Nghiên cứu tập trung vào năm kỹ năng: lập kế hoạch tự học,
đọc sách, ghi chép, ôn tập và tự kiểm tra, đánh giá. Từ đó, đưa ra một số biện pháp để
nâng cao kỹ năng tự học ngoài lớp học cho sinh viên của trường. Phương pháp được sử
dụng chính là điều tra bằng bảng hỏi và phỏng vấn (Nguyễn Thị Thu


14
Huyền, 2013)
Một nghiên cứu khác năm 2016 của tác giả Nguyễn Thị Hiền với đề tài “Thực
trạng tự học của sinh viên khoa địa lí, trường đại học Sư phạm – đại học Huế theo
phương thức đào tạo tín chỉ”. Kỹ năng tự học được xét trong cấu trúc gồm chín kỹ
năng thành phần. Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi và xử lý
số liệu trên phần mềm Microsoft Excel (Nguyễn Thị Hiền, 2016).
Một nghiên cứu năm 2017, về “thực trạng kỹ năng tự học của sinh viên trường
đại học Đồng Nai” của tác giả Nguyễn Thị Thu Trang. Trong bài báo, tác giả nêu
thực trạng bốn nhóm kỹ năng tự học cơ bản của sinh viên, đồng thời chỉ ra năm
nguyên nhân chủ quan và bảy nguyên nhân khách quan ảnh hưởng đến quá trình tự
học của sinh viên theo phương thức đào tạo theo học chế tín chỉ. Khách thể nghiên
cứu chính là 200 sinh viên sư phạm năm thứ nhất khoa Sư phạm Tiểu học. Phương
pháp nghiên cứu chính là điều tra viết; xử lý số liệu bằng phần mềm Microsoft
Excel (Nguyễn Thị Thu Trang, 2017).
Cùng năm 2017, một đề tài có tên “Khảo sát mức độ biểu hiện năng lực tự học
môn hóa học của học sinh trung học phổ thơng” của tác giả Cao Cự Giác và
Nguyễn Thị Phượng Liên. Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra bằng bảng hỏi
trực tuyến bằng ứng dụng Google Drive. Khách thể là 1268 học sinh và 72 giáo viên

thực nghiệm so sánh kết quả giữa nhóm sinh viên thực nghiệm và nhóm đối chứng
(Trần Thị Thu Ba, 2016).
Năm 2017, nghiên cứu của tác giả Nguyễn Tuấn Lê về “Những giải pháp cơ
bản góp phần bồi dưỡng năng lực tự học cho học viên ở các trường Đại học Quân
sự”. Bằng phương pháp nghiên cứu tài liệu, tác giả tập trung vào các nội dung: nâng
cao nhận thức giảng viên, biên soạn giáo trình phù hợp, hướng dẫn học viên tự học,
và hướng kiểm tra đánh giá vào tự học (Nguyễn Tuấn Lê, 2017).
Cùng năm 2017, một tác giả khác có đề tài “Phát huy năng lực tự học, tự nghiên
cứu cho sinh viên khoa Giáo dục tiểu học trường Đại học Thủ đô Hà Nội qua phân
môn lịch sử”. Tác giả tập trung vào các chủ đề: tập dượt nghiên cứu khoa học cho sinh
viên, lập kế hoạch tự học, hướng dẫn tự học trên lớp (Lê Thúy Mai, 2017).
Một nghiên cứu khác năm 2018 của Phạm Thị Hồng Tú về “Phát triển năng lực tự
học cho sinh viên ngành Sư phạm Sinh học trong dạy học học phần “Lí luận dạy học
Sinh học”. Tác giả đã tập trung vào ba nội dung chính: (1) thiết kế tài liệu tự học có
hướng dẫn theo module; (2) quản lí hoạt động tự học của sinh viên; và (3) đổi mới


16
phương pháp dạy và đánh giá (Phạm Thị Hồng Tú, 2018).
Tác giả Hồng Thu Phương thì có bài đăng trên tạp chí Giáo dục về “Một số
biện pháp phát triển năng lực tự học cho sinh viên trong dạy học mơn “Những
ngun lí cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin”. Tác giả tập trung vào các giải pháp
về: dạy cách nghiên cứu giáo trình, giao chủ đề cho sinh viên nghiên cứu, hướng
dẫn sinh viên tìm và nghiên cứu tài liệu, đổi mới phương pháp dạy và đổi mới kiểm
tra đánh giá (Hồng Thu Phương, 2018).
Như vậy, có thể thấy vấn đề tự học đã thu hút sự nhiều sự quan tâm của giới
nghiên cứu trong nước. Từ nghiên cứu thực trạng đến nghiên cứu về lý luận, cũng
như giải pháp. Từ thực hiện trên học sinh phổ thông đến sinh viên cao đẳng, đại
học. Từ các ngành quân sự, ý tế, đến sư phạm. Đây là một dấu hiệu khả quan cho
nền giáo dục tại Việt Nam. Tuy nhiên, chúng ta chưa có những nghiên cứu theo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status