vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng từ thực tiễn tỉnh cao bằng - Pdf 70

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

NƠNG THỊ THU TRANG

VAI TRỊ CỦA TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG
HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG TỪ THỰC TIỄN
TỈNH CAO BẰNG

Ngành: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số: 8.38.01.02

LUẬN VĂN THẠC SĨ
LUẬT HIẾN PHÁP VÀ LUẬT HÀNH CHÍNH

NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. HỒ QUANG HUY

Hà Nội, 2020


LỜI CAM ĐOAN
Luận văn này là cơng trình nghiên cứu của cá nhân tôi, được thực hiện
dưới sự hướng dẫn của TS. Hồ Quang Huy. Các số liệu cũng như những kết
luận nghiên cứu được trình bày trong luận văn này là hồn tồn trung thực.
Tơi hồn tồn xin chịu trách nhiệm về lời cam đoan trên.
Học viên

Nông Thị Thu Trang


DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO.......................................................77


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Ngày 20/6/2017, tại kỳ họp thứ 6 Quốc hội khóa XIV, Luật Trợ giúp
pháp lý (viết tắt là TGPL) năm 2017 đã được thơng qua với tỷ lệ 100% đại
biểu Quốc hội có mặt tán thành. Luật TGPL năm 2017 đã bám sát các chủ
trương, đường lối của Đảng, chính sách của nhà nước về xóa đói, giảm nghèo,
đền ơn đáp nghĩa và quan điểm về quyền con người, quyền công dân trong
Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 nhằm bảo
đảm quyền con người, quyền công dân trong giai đoạn phát triển mới, đáp
ứng yêu cầu cải cách tư pháp, cải cách hành chính, xây dựng Nhà nước pháp
quyền xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế. Luật TGPL năm 2017 đã khắc
phục cơ bản những bất cập, hạn chế của hoạt động TGPL trong thời gian qua,
cũng như nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về TGPL, tinh gọn tổ
chức thực hiện TGPL của Nhà nước, chú trọng tính bền vững của công tác
TGPL theo hướng lấy người được TGPL làm trung tâm, kiểm soát chặt chẽ
chất lượng dịch vụ TGPL, đề cao hiệu quả sử dụng ngân sách và khuyến
khích sự đóng góp, hỗ trợ tài chính của xã hội cho hoạt động TGPL, tạo cơ sở
pháp lý cho công tác TGPL phát triển bền vững, thể hiện đúng bản chất của
TGPL là bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người dân, đưa hoạt động TGPL
vào nhiệm vụ trọng tâm là thực hiện vụ việc TGPL, đặc biệt là các vụ việc
tham gia tố tụng. Trong khi đó, qua nhiều năm thực hiện cải cách tư pháp,
chất lượng hoạt động điều tra, truy tố và xét xử đã từng bước đáp ứng được
yêu cầu của công cuộc cải cách tư pháp. Nghị quyết 49-NQ/TW của Bộ Chính
trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 cũng tiếp tục khẳng định một
trong những nhiệm vụ cụ thể của cải cách tư pháp là “... xác định rõ hơn vị trí,
quyền hạn, trách nhiệm của người tiến hành tố tụng và người tham


2


vậy, công tác TGPL trong hoạt động tố tụng tại địa bàn tỉnh vẫn chưa phát huy
được toàn diện, đầy đủ ý nghĩa, vai trò và hiệu quả trên thực tế.
Xuất phát từ lý luận và thực tiễn hoạt động tại địa phương, tác giả đã
lựa chọn đề tài: “Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng từ
thực tiễn tỉnh Cao Bằng” làm đề tài luận văn tốt nghiệp.
2. Tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
-

Đề tài "Mơ hình tổ chức và hoạt động TGPL, phương hướng thực

hiện trong điều kiện hiện nay" (Đề tài nghiên cứu khoa học cấp Bộ), do Viện
Khoa học pháp lý - Bộ Tư pháp chủ trì thực hiện, Chủ nhiệm Đề tài: TS. Tạ
Thị Minh Lý. Đề tài đã tập trung nghiên cứu về cơ sở lý luận, mục
đích, ý nghĩa của hoạt động TGPL; thực trạng tổ chức và hoạt động TGPL, từ
đó đề xuất các phương hướng hoàn thiện tổ chức và hoạt động này trong thời
gian tới.
- Luận án tiến sĩ "Điều chỉnh pháp luật về trợ giúp pháp lý ở Việt Nam
trong điều kiện đổi mới" của Tạ Thị Minh Lý, năm 2008. Luận án tập trung
nghiên cứu cơ sở lý luận, pháp lý của điều chỉnh pháp luật và điều chỉnh pháp
luật về TGPL; thực trạng điều chỉnh pháp luật về TGPL và phương hướng
hoàn thiện việc điều chỉnh pháp luật về TGPL trong điều kiện đổi mới.
- Luận văn thạc sĩ: “Các giải pháp nâng cao hiệu quả hoạt động trợ giúp
pháp lý” của tác giả Nguyễn Bích Ngọc, năm 2012. Luận văn tập trung
nghiên cứu đánh giá thực trạng và hiệu quả tổ chức và hoạt động TGPL ở Việt
Nam trong thời gian qua, phát hiện những hạn chế, khó khăn, vướng mắc, bất
cập và nguyên nhân để có giải pháp hoàn thiện.
Luận văn thạc sĩ: “Hoạt động TGPL của Luật sư ở Việt Nam

Nam; Vai trò của TGPL trong hoạt động tố tụng - Ngọc Hải-Phan Thủy (báo
Quảng Bình).
Nội dung các bài viết, bài nghiên cứu trên đã đưa ra những cơ sở lý
luận về vai trò của TGVPL trong việc tham gia tố tụng, từ đó chỉ ra những ưu
điểm, hạn chế và đề xuất một số giải pháp để nâng cao vai trò, chất lượng,
hiệu quả công tác của TGVPL trong giải quyết vụ án tố tụng nói riêng và hoạt
động tham gia tố tụng nói chung. Đặc biệt trong danh mục bài viết đã nêu ra
có bài viết của tác giả Ngọc Hải - Phan Thủy đăng trên báo Quảng Bình với
tiêu đề "Vai trị của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng", bài viết cũng đã

4


nêu bật được một số vai trò cùng với một số giải pháp nâng cao hiệu quả công
tác trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, tuy nhiên, đánh giá một cách
khách quan, chưa có bài viết cũng như luận văn có nội dung nghiên cứu một
cách tồn diện về vai trò của hoạt động TGPL về cả vai trò hoạt động của
người thực hiện cũng như tổ chức thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng,
đặc biệt là tại địa bàn miền núi, điều kiện kinh tế - xã hội cịn nhiều khó khăn,
nguồn lực dành cho cơng tác này vẫn cịn hạn chế. Với ý nghĩa đó, việc
nghiên cứu đề tài “Vai trò của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng từ thực
tiễn tỉnh Cao Bằng” là cần thiết, có ý nghĩa về cả mặt lý luận và thực tiễn để
từ đó góp phần tìm ra những định hướng, cũng như giải pháp nâng cao vai trò
của TGPL trong hoạt động tố tụng một cách tồn diện trong thời gian tới.
3.

Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1. Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận của pháp luật về thực hiện

pháp lý về TGPL bao gồm nghiên cứu về vai trò của tổ chức thực hiện TGPL,
người thực hiện TGPL, việc thực hiện TGPL trong các lĩnh vực tốt tụng cụ thể
trong hoạt động tố tụng.
Về thời gian: Nguồn số liệu giai đoạn từ năm 2018 – 2019 (từ khi Luật
Trợ giúp pháp lý năm 2017 có hiệu lực thi hành ngày 01/01/2018 đến ngày
31/12/2019).
Về khơng gian: Luận văn nghiên cứu vai trị của TGPL trong hoạt động
tố tụng từ thực tiễn tại địa bàn tỉnh Cao Bằng.
5.

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa
Mác – Lê Nin, tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước
về thực hiện chính sách bảo vệ quyền con người, quyền công dân.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Luận văn thực hiện dựa trên việc sử dụng các các phương pháp thu
thập, xử lý số liệu, thống kê, phân tích, so sánh, tổng hợp và phân tích thơng
tin … để giải quyết những vấn đề đã đặt ra. Cụ thể:
Tại chương 1 trình bày những vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý và trợ
giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng, tác giả sử dụng phương pháp thu thập,

6


phân tích, tổng hợp để đưa ra những luận điểm, căn cứ và lập luận đối với các
vấn đề trong nội dung đề tài.
Tại chương 2, để có thể đánh giá một cách khách quan, chính xác thực
trạng cơng tác trợ giúp pháp lý tại địa bàn tỉnh Cao Bằng, tác giả đã sử dụng

tụng tại tỉnh Cao Bằng.
Chương 3. Phương hướng, giải pháp nâng cao vai trò của TGPL trong
hoạt động tố tụng tại tỉnh Cao Bằng.

8


Chương 1
VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRỢ GIÚP PHÁP LÝ VÀ
TRỢ GIÚP PHÁP LÝ TRONG HOẠT ĐỘNG TỐ TỤNG
1.1. Vấn đề lý luận về trợ giúp pháp lý
1.1.1. Khái niệm trợ giúp pháp lý
Theo Từ điển Anh - Việt của tác giả Lê Khả Kế, Nxb. Khoa học xã hội,
1997 thì “Legal aid” được dịch là “Trợ cấp pháp lý”. Ngoài ra, trong một số
tài liệu khác dịch "Legal aid" là “hỗ trợ pháp luật”, “hỗ trợ pháp lý” hoặc
“hỗ trợ tư pháp”... Như vậy, có rất nhiều cách dịch khác nhau về thuật ngữ
này. Xuất phát từ bản chất và hình thức hoạt động “Legal aid” trên thế giới và
thực tiễn hoạt động này ở Việt Nam trong thời gian qua, thuật ngữ “Legal aid”
được dịch là“trợ giúp pháp lý” đang được sử dụng chính thức trong các văn
bản pháp luật và nhiều tài liệu chính thống khác ở nước ta hiện nay.
Trợ giúp pháp lý là một loại hoạt động phúc lợi xã hội được khởi nguồn
từ nước Anh và đã có một lịch sử hơn 500 năm. Ngay từ thế kỷ 15, pháp luật
Anh quốc đã quy định: “cần dành cho người nghèo khổ sự giúp đỡ để họ được
hưởng quyền lợi mà pháp luật ban cho. Năm 1495, vua Henry VII trong một
nghị án đã có quy định cụ thể hơn về vấn đề này: "chính nghĩa" cần được
dành chung cho người nghèo và những người thực hiện quyền tự do họ được
hưởng - điều đó khơng có gì thay thế được.
Tuy nhiên, trước thế kỷ 20, TGPL mới manh nha tại các nước vì khi đó
nhà nước tư bản phát triển rất mạnh, phúc lợi xã hội kém, TGPL mới chỉ dừng
lại ở ý tưởng của một số nhà chính trị tiến bộ, chứ chưa triển khai có tổ chức.

thúc đẩy sự ra đời và phát triển của hoạt động TGPL.
Ngày 06/9/1997, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số
734/TTg về việc thành lập hệ thống tổ chức TGPL cho người nghèo, đối
tượng chính sách, thành lập Cục TGPL thuộc Bộ Tư pháp. Theo đó, Cục
TGPL được thành lập thuộc Bộ Tư pháp, vừa có chức năng giúp Bộ trưởng
Bộ Tư pháp quản lý nhà nước về TGPL, vừa trực tiếp thực hiện TGPL trong
trường hợp cần thiết. Ở các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, Trung tâm
TGPL trực thuộc Sở Tư pháp được thành lập để tham mưu cho Ủy ban nhân

10


dân tỉnh quản lý và thực hiện hoạt động TGPL tại địa phương. Và cũng chính
trong Quyết định này, thuật ngữ TGPL được sử dụng chính thức tuy nhiên,
phải đến khi Luật TGPL năm 2006 ban hành thì khái niệm TGPL mới được đề
cập một cách chính thức (tại Điều 3).
Trên cơ sở nghiên cứu những kinh nghiệm xây dựng tổ chức và hoạt
động TGPL của các nước trên thế giới đã có từ hàng trăm năm nay và thực
tiễn hoạt động TGPL ở Việt Nam trong thời gian qua, chúng ta có thể đưa ra
quan niệm chung về TGPL một cách đầy đủ, thể hiện những đặc trưng cơ bản
của nó. Theo quan niệm chung hiện nay thì TGPL được hiểu là việc cung cấp
dịch vụ pháp lý miễn phí của Nhà nước và xã hội bằng các hình thức tư vấn
pháp luật, tham gia tố tụng, đại diện ngồi tố tụng, hồ giải... cho người
nghèo, người có cơng với cách mạng và các đối tượng khác theo quy định của
pháp luật nhằm bảo đảm cho mọi công dân đều bình đẳng trước pháp luật và
thực hiện cơng bằng xã hội.
Theo Điều 2 Luật trợ giúp pháp lý năm 2017 thì TGPL được hiểu là
việc cung cấp dịch vụ pháp lý miễn phí cho người được TGPL trong vụ việc
TGPL theo quy định của Luật này, góp phần bảo đảm quyền con người, quyền
công dân trong tiếp cận công lý và bình đẳng trước pháp luật [10] .Với tính

tiêu chuẩn riêng, theo quy định tại Điều 17 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017,
người thực hiện TGPL gồm có:
"- Trợ giúp viên pháp lý;
-

Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo hợp đồng với Trung tâm trợ

giúp pháp lý nhà nước; luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý theo phân công của
tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;
-

Tư vấn viên pháp luật có 02 năm kinh nghiệm tư vấn pháp luật trở lên

làm việc tại tổ chức tham gia trợ giúp pháp lý;
-

Cộng tác viên trợ giúp pháp lý." [10]

Nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ TGPL và phát triển công tác này
theo hướng chuyên nghiệp hóa, Luật TGPL năm 2017 đã chuẩn hóa, nâng cao
tiêu chuẩn đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý như luật sư tham gia thực hiện
TGPL.
-

Là hoạt động có tính chính trị, có tính pháp lý và có tính kinh tế

+ Tính chính trị:

12



Theo quy định tại Điều 7 Luật Trợ giúp pháp lý năm 2017, thì đối
tượng được TGPL bao gồm:
"- Người có cơng với cách mạng.

-

-

Người thuộc hộ nghèo.

-

Trẻ em.

Người dân tộc thiểu số cư trú ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc

biệt khó khăn.
-

Người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi.

-

Người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo.

tài

Người thuộc một trong các trường hợp sau đây có khó khăn về


Nạn nhân của hành vi mua bán người theo quy định của Luật phòng,

chống mua bán người;
+

Người nhiễm HIV "[10].

Trên cơ sở kế thừa quy định về đối tượng được TGPL theo Luật TGPL
năm 2006, Luật TGPL năm 2017 đã mở rộng diện người được TGPL (từ 06
diện người lên 14 diện người) để phù hợp với các chính sách đặc thù và điều
kiện kinh tế - xã hội của Việt Nam. Hai đối tượng được kế thừa hoàn toàn từ
quy định của Luật TGPL năm 2006 là người thuộc hộ nghèo và người có cơng
với cách mạng; hai đối tượng được kế thừa và mở rộng là trẻ em không


14


nơi nương tựa thành tất cả trẻ em, người dân tộc thiểu số "thường trú" thành
"cư trú" tại các vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn (cư trú sẽ
rộng hơn thường trú vì cư trú bao gồm thường trú và tạm trú).
Bên cạnh đó, Luật TGPL năm 2017 đã bổ sung hai nhóm người là
người bị buộc tội từ đủ 16 tuổi đến 18 tuổi (hiện nay đang thuộc trường hợp
cơ quan tiến hành tố tụng phải chỉ định người bào chữa theo quy định của Bộ
luật Tố tụng Hình sự) và người bị buộc tội thuộc hộ cận nghèo để bảo đảm
chính sách hình sự đối với đối tượng này. Ngồi ra, Luật TGPL năm 2017
cũng có quy định mới trong việc áp dụng điều kiện có khó khăn về tài chính
đối với 08 nhóm người cụ thể để tạo điều kiện cho những người thực sự có
nhu cầu nhưng khơng có khả năng tài chính để thuê dịch vụ pháp lý và các đối
tượng khác để phù hợp với những văn bản luật khác là Luật Người cao tuổi


Trung thực, khách quan;

+

Tuân thủ và tôn trọng pháp luật;

+
Bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp của người được trợ
giúp
pháp lý;

+

+

Bảo đảm bí mật thơng tin về vụ việc TGPL;

+

Tác phong, thái độ và hành vi ứng xử đúng mực;

+

Không phân biệt đối xử;

+

Tôn trọng, hợp tác và giúp đỡ đồng nghiệp;


Tổ chức thực hiện TGPL có trách nhiệm sử dụng các biện pháp cần
thiết để hỗ trợ người thực hiện TGPL trong việc thu thập đầy đủ các thông tin.
tài liệu liên quan; không can thiệp trái pháp luật vào quá trình thực hiện vụ
việc của người thực hiện TGPL hoặc có hành vi khác làm ảnh hưởng đến tính
khách quan của vụ việc.
Việc thực hiện TGPL phải kịp thời, đảm bảo bảo vệ quyền và lợi ích
hợp pháp cho đối tượng, tuân thủ một cách nghiêm túc quy định về trình tự,
thủ tục thực hiện TGPL.
-

Bảo vệ tốt nhất quyền, lợi ích hợp pháp của người được TGPL: Đây

cũng chính là một trong những nguyên tắc của hoạt động TGPL, giữ vai trò
quyết định, chi phối tất cả hoạt động TGPL [10]:
Nguyên tắc này đòi hỏi người thực hiện TGPL và tổ chức thực hiện
TGPL phải ln tơn trọng quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL,
đặt lợi ích của người được TGPL làm mục đích hoạt động của mình; phải sử
dụng mọi biện pháp để hướng đến bảo vệ tốt nhất quyền và lợi ích hợp pháp,
tơn trọng các quyền của người được TGPL; bảo đảm thời gian, tiến độ chất
lượng vụ việc TGPL.
-

Khơng thu tiền, lợi ích vật chất hoặc lợi ích khác từ người được

TGPL [10]:
Đây là một trong những nguyên tắc đặc trưng của hoạt động TGPL. Đối
tượng được TGPL là những đối tượng đặc thù, bao gồm người nghèo, người
dân tộc thiểu số sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó
khăn, đối tượng chính sách ... là những người yếu thế trong xã hội, họ khơng
có khả năng tài chính. Với vai trị là một chính sách xã hội, Nhà nước đã quy

TGPL theo quy định của Luật TGPL và pháp luật về tố tụng.

18


1.2.2. Đặc điểm của trợ giúp pháp lý trong hoạt động tố tụng
Về người thực hiện TGPL trong hoạt động tố tụng, đối với việc thực
hiện TGPL trong hoạt động tố tụng, người thực hiện phải đảm bảo thỏa mãn
điều kiện là Trợ giúp viên pháp lý hoặc Luật sư ký hợp đồng tham gia thực
hiện trợ giúp pháp lý. Cụ thể Luật TGPL năm 2017 đã chuẩn hóa, nâng cao
tiêu chuẩn đội ngũ Trợ giúp viên pháp lý như luật sư, bổ sung tiêu chuẩn phải
trải qua tập sự nghề (trợ giúp pháp lý hoặc luật sư) tại khoản 3 Điều 19 của
Luật. Việc tập sự TGPL tương tự như tập sự luật sư với tư cách là một dịch vụ
pháp lý tương đương, điều này rất cần thiết để chuyên viên pháp lý có thời
gian vận dụng kiến thức, giúp họ hoàn thiện những kỹ năng, đặc biệt là kỹ
năng tham gia tố tụng để tự tin cung cấp dịch vụ pháp lý khi được bổ nhiệm
Trợ giúp viên pháp lý. Đồng thời, Luật cũng tiếp tục ghi nhận sự tham gia của
đội ngũ luật sư, tư vấn viên pháp luật có kinh nghiệm đang hoạt động có hiệu
quả, đồng thời chọn lọc những người có kiến thức pháp luật, kinh nghiệm
thực tiễn và bảo đảm về mặt thời gian tham gia TGPL để làm cộng tác viên
TGPL một cách thực chất, hiệu quả. Đối với Tư vấn viên pháp luật hoặc Cộng
tác viên TGPL chỉ được thực hiện TGPL với hình thức là tư vấn pháp luật
hoặc đại diện ngoài tố tụng. Việc quy định như vậy nhằm đảm bảo năng lực
người thực hiện TGPL để từ đó, có thể bào chữa, bảo vệ một cách tốt nhất
quyền và lợi ích hợp pháp của người được TGPL trong các vụ việc tố tụng.
Về người được trợ giúp pháp lý, bên cạnh việc thỏa mãn là đối tượng
thuộc một trong các diện quy định tại Điều 7 Luật TGPL năm 2017, đối tượng
trong hoạt động tố tụng còn là đương sự trong các vụ án dân sự, hành chính,
là người bị buộc tội, bị can, bị cáo hoặc người bị hại trong các vụ án hình sự.
Tóm lại, đối tượng của TGPL trong hoạt động tố tụng là những đối tượng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status