Quản lý công tác xã hội trong hoạt động giảm nghèo từ thực tiễn tỉnh bà rịa vũng tàu - Pdf 39

VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI

TRẦN QUỐC KHÁNH

QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI TRONG
HOẠT ĐỘNG GIẢM NGHÈO TỪ THỰC TIỄN
TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU

Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60 90 01 01

LUẬN VĂN THẠC SĨ CÔNG TÁC XÃ HỘI

NGƢỜI HƢỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HÀ THỊ THƢ

HÀ NỘI, 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn “Quản lý Công tác xã hội trong hoạt động giảm
nghèo từ thực tiễn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu” là công trình nghiên cứu của bản thân tôi.
Các số liệu, kết quả nghiên cứu trình bày trong luận văn là trung thực, được trích từ
các nguồn công khai, hợp pháp, không sao chép từ bất kỳ công trình nào khác.
Tác giả luận văn

Trần Quốc Khánh


LỜI CẢM ƠN

nghèo ......................................................................................................................... 26
1.4. Cơ sở pháp lý về quản lý công tác xã hội trong hoạt động giảm nghèo ............ 31
Chương 2. THỰC TRẠNG VỀ THỰC HIỆN QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG HOẠT ĐỘNG GIẢM NGHÈO TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÀ RỊAVŨNG TÀU ......................................................................................................... …36
2.1. Vài nét về địa bàn và khách thể nghiên cứu … .................................................. 36
2.2. Thực hiện quản lý công tác xã hội đối với hoạt động giảm nghèo ở tỉnh Bà
Rịa-VT hiện nay ........................................................................................................ 39
2.3.Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác xã hội đối với hoạt
động giảm nghèo ở tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu hiện nay ................................................ 63
Chương 3. BIỆN PHÁP THÚC ĐẨY HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ
HỘI TRONG HOẠT ĐỘNG GIẢM NGHÈO TỪ THỰC TIỄN TỈNH BÀ RỊAVŨNG TÀU…............................................................ .............................................. 70
3.1. Biện pháp quản lý về văn bản chính sách pháp luật ........................................... 70
3.2. Biện pháp quản lý về nhân lực làm việc trong hoạt động giảm nghèo .............. 71
3.3. Biện pháp quản lý về đối tượng hưởng chính sách giảm nghèo .................. …..72
3.4. Biện pháp quản lý về chuyên môn/nghiệp vụ hoạt động giảm nghèo................ 73
3.5. Biện pháp quản lý chương trình/hoạt động giảm nghèo .................................... 74
KẾT LUẬN .............................................................................................................. 77
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ................................................................. 79


DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

BRVT

Bà Rịa-Vũng Tàu

CTXH

Công tác xã hội


Bảng 2.9. Mức độ các yếu tố thuộc ảnh hưởng đến việc vay vốn nhiều lần của
người nghèo tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ................................................................... ..60
Bảng 2.10. Mức độ tham gia các hoạt động nâng cao chất lượng đào tạo nghề cho
người nghèo của đội ngũ làm công tác giảm nghèo ……........................................... ..60
Bảng 2.11. Mức độ kết hợp với các ban ngành thực hiện các chương trình/hoạt
động giảm của đội ngũ cán bộ làm công tác giảm nghèo. ..................................... …..61
Bảng 2.12. Mức độ các yếu tố thuộc về điều kiện tự nhiên ảnh hưởng đến quản lý
công tác xã hội trong hoạt động giảm nghèo. .............................................................. .63
Bảng 2.13. Mức độ các yếu tố kinh tế ảnh hưởng đến quản lý công tác xã hội trong
hoạt động giảm nghèo .................................................................................................. 64
Bảng 2.14. Mức độ các yếu tố thuộc về xã hội ảnh hưởng đến quản lý công tác xã
hội trong hoạt động giảm nghèo.................................................................................... 64
Bảng 2.15. Mức độ các yếu tố đặc điểm của người nghèo ảnh hưởng đến vai trò
quản lý công tác xã hội trong hoạt động giảm nghèo tại tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ...... .65
Bảng 2.16. Mức độ các yếu tố ảnh hưởng đến vai trò quản lý công tác xã hội đối
với hoạt động giảm nghèo ở cộng đồng, chính quyền địa tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu ..... 66


MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xóa đói, giảm nghèo là một chủ trương, quyết sách lớn và nhất quán của
Đảng Cộng sản và Nhà nước Việt Nam. Chủ trương này được hình thành ngay từ
những ngày đầu khai sinh nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa và hoàn thiện trong
quá trình phát triển xã hội. Nó không những đáp ứng nhu cầu, nguyện vọng đông
đảo của tầng lớp nhân dân Việt Nam mà còn phù hợp với xu hướng chung của thời
đại và các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ mà Liên Hiệp Quốc đề ra. Mặt khác,
nước ta vẫn là một trong những nước có thu nhập thấp, do đó chương trình mục tiêu
quốc gia xóa đói, giảm nghèo là một chiến lược lâu dài cần được sự quan tâm giúp
đỡ của cộng đồng quốc tế, kết hợp chặt chẽ với tinh thần tự lực tự cường, đoàn kết
của cả dân tộc để đẩy lùi đói nghèo. Việt Nam xem công tác xóa đói, giảm nghèo là

2. Tình hình nghiên cứu đề tài
2. 1. Các công trình nghiên cứu ở nước ngoài
Nghiên cứu nước ngoài về vấn đề đói nghèo khá nhiều, có thể kể đến một số
tác phẩm tiêu biểu sau:
Nghiên cứu của Prof. Miu Chung Yan trong tác phẩm “Công tác xã hội và
xóa đói, giảm nghèo” tại Umuebu–Nigeria đã chỉ ra các quan điểm và tiếng nói của
các nhân viên xã hội ít khi tìm thấy trong việc lập kế hoạch và thực hiện chương
trình xóa đói giảm nghèo ở Nigeria. Nghiên cứu nhằm lấp đầy khoảng trống này
bằng cách chứng minh các quan điểm và tiếng nói của các nhân viên xã hội có thể
đóng góp cho các chương trình giảm nghèo thành công ở Nigeria. Xóa đói, giảm
nghèo là một trong những thách thức của ngân hàng thế giới và một trong những
mục tiêu của các mục tiêu phát triển thiên niên kỷ. Nghiên cứu này là một nguồn
kiến thức cho các nhà hoạch định chính sách ở Nigeria, ngân hàng thế giới và cộng
đồng quốc tế về những lợi ích của việc kết hợp các quan điểm và tiếng nói của các
nhân viên xã hội trong việc lập kế hoạch và thực hiện các chương trình xóa đói,
giảm nghèo. [24]
Nghiên cứu của Remenyi Joe, Benjamin Quinones trong “Vai trò của quỹ tín
dụng trong xóa đói, giảm nghèo” đã chứng minh được mức tăng thu nhập từ những
hộ được nhận tín dụng nhỏ cao hơn những nhóm hộ đối chứng (nhóm không vay).
Ở Indonesia, mức tăng thu nhập trung bình hàng năm của những hộ có vay tăng lên

2


12,9% so với mức tăng 3% của nhóm đối chứng. Tương tự như vậy, ở Bangladesh
mức tăng thu nhập trung bình năm của nhóm vay là 29,3% trong khi nhóm đối
chứng là 22%, ở Sri Lanka là 15,6% so với nhóm đối chứng là 9%. Kết quả nghiên
cứu ở Ấn Độ cũng cho kết quả tương tự mức tăng thu nhập trung bình năm của
nhóm vay là 46% trong khi nhóm không vay mức tăng thu nhập trung bình năm chỉ
tăng 24%. [36]

vai trò của quản lý công tác xã hội trong xóa đói, giảm nghèo.[13]
Theo “Nghèo đói và xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam” của Lê Xuân Bá và
các đồng nghiệp chỉ ra rằng vấn đề xóa đói, giảm nghèo luôn gắn bó và chịu ảnh
hưởng của quan hệ giai cấp và các chế độ xã hội khác nhau. Hiện tượng bị tha hóa
và tự tha hóa con người dưới chế độ tư bản chủ nghĩa luôn là một lực cản đối với
công việc xóa đói, giảm nghèo. Tác giả đã đưa ra được những cái nhìn chung nhất,
tổng quát nhất về tình hình nghèo đói và công tác xóa đói, giảm nghèo ở Việt Nam.
Nghèo đói được nhìn nhận và đánh giá ở nhiều mức độ khác nhau. Công tác xóa
đói, giảm nghèo cũng được nhìn nhận dưới nhiều khía cạnh và góc độ khác nhau.
Bên cạnh việc đánh giá tình hình chung, tác giả còn đưa ra một số giải pháp để nâng
cao hiệu quả giảm nghèo bền vững.[1]
Nghiên cứu của Vũ Thị Ngọc Phùng trong “Vấn đề tăng trưởng kinh tế, công
bằng xã hội và vấn đề xóa đói giảm nghèo ở Việt Nam” đã đặt ra vấn đề cần giải
quyết giữa tăng trưởng kinh tế và công bằng xã hội cũng như vấn đề nghèo đói của
Việt Nam. Nghiên cứu được hoàn thiện sau khi nước ta bỏ nền kinh tế bao cấp được
7 năm, cuộc sống nhân dân đã phần nào được cải thiện tuy nhiên trong bối cảnh nền
kinh tế vẫn bị cấm vận nên nền kinh tế phải tự mình vận động là chính.Tác giả đã
tìm hiểu từng khía cạnh và mối liên hệ giữa các vấn đề đã nêu. [35]
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hằng trong “Vấn đề xóa đói, giảm nghèo ở
nông thôn nước ta hiện nay” đã đánh giá tình hình nghèo đói của nông thôn Việt
Nam sau 3 năm dở bỏ cấm vận, nền kinh tế có bước chuyển động đầu tiên nhưng tỷ
lệ hộ nghèo ở nông thôn Việt Nam vẫn còn cao. Qua đi sâu nghiên cứu tình hình
nghèo đói ở nông thôn, tác giả đã chỉ ra những khó khăn cũng như những biện pháp
thực hiện xóa đói, giảm nghèo trong điều kiện hiện tại.[15]
Nghiên cứu của Trần Thị Hằng trong quyển sách “Vấn đề giảm nghèo trong
nền kinh tế thị trường ở Việt Nam hiện nay” đã dựa trên kết quả nghiên cứu thực tế
và những số liệu thống kê, để đánh giá tình hình thực hiện công tác xóa đói, giảm

4


người nghèo có trình độ văn hoá thấp hoặc mù chữ, họ thường cảm thấy cô lập, tự

5


ti, bị tước đoạt những cái mà người khác có được, khi được trợ cấp xã hội thì dường
như họ lại trông chờ ỷ lại. Tác giả cũng đưa ra được những giải pháp khoa học có
tính khả thi, tuy nhiên các giải pháp đó chủ yếu là dựa vào nguồn ngân sách Nhà
nước chứ chưa tập trung phát huy được tổng lực của toàn xã hội, sự tự lực của
người nghèo bởi nâng cao trình độ văn hoá cho người nghèo cần phải có một thời
gian dài. Tác giả cho rằng, muốn xóa được tận gốc của cái nghèo và có tính bền
vững thì phải nâng cao văn hoá cho người nghèo vì khi con người có tri thức thì họ
tiếp cận được với thế giới bên ngoài và tiếp thu khoa học kỹ thuật nhanh đặc biệt là
trong việc sản xuất kinh doanh.[30]
Nghiên cứu “Xóa đói, giảm nghèo ở Malaysia và Thái Lan: Bài học kinh
nghiệm cho Việt Nam” của tác giả Võ Thị Thu Nguyệt đã phân tích mô hình xóa
đói, giảm nghèo ở Malaysia và Thái Lan và chỉ ra điểm tương đồng, sự khác biệt
với thực tế đói nghèo ở nước ta. Thông qua đó, tác giả nêu lên những bài học kinh
nghiệm thiết thực cho Việt Nam trên bước đường tiến bộ đến xóa đói nghèo[28]
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1. Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận và thực trạng quản lý công tác xã hội trong hoạt động
giảm nghèo; trên cơ sở đó đề xuất các biện pháp đẩy mạnh và phát huy công tác
quản lý công tác xã hội trong hoạt động giảm nghèo từ thực tiễn tỉnh Bà Rịa- Vũng
Tàu.
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Hệ thống hóa các vấn đề lý luận về quản lý, quản lý công tác xã hội trong
hoạt động giảm nghèo.
Nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích các hoạt động hỗ trợ gia đình nghèo và
đánh giá tác động của hoạt động giảm nghèo tại địa phương trên 3 cấp độ: cá nhân,

Nghiên cứu vấn đề lý luận trong hệ thống: nghiên cứu hệ thống những lý
thuyết có liên quan trực tiếp đến đề tài, hệ thống các yếu tố có liên quan như dịch vụ
hỗ trợ của công tác xã hội đối với hoạt động giảm nghèo, hệ thống chính sách trợ
giúp xã hội đối với người nghèo...
5.2. Phương pháp nghiên cứu
5.2.1. Phương pháp nghiên cứu tài văn bản tài liệu
Với phương pháp này chúng tôi thu thập các cách tiếp cận nghiên cứu, các
luận điểm, luận cứ, các kết quả phân tích thực nghiệm, các khác biệt và tranh luận

7


đối với các vấn đề liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài. Mục đích của
phương pháp này là dựa trên các tài liệu đã có từ thống kê, báo cáo, các luận văn có
liên quan đến vấn đề quản lý công tác xã hội. Qua những nghiên cứu trên giúp cho
tác giả có thêm thông tin và cơ sở lý luận phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
Thu thập, xử lý thông tin qua văn bản, báo cáo, báo chí, thông tin trên
phương tiện truyền thông đại chúng.
5.2.2. Phương pháp bảng hỏi
Phương pháp nghiên cứu chính của đề tài này là phương pháp nghiên cứu
định lượng dựa trên các khái niệm đã được thao tác hóa. Bảng hỏi là công cụ thu
thập thông tin chủ yếu trong cuộc điều tra này, bao gồm những câu hỏi được xây
dựng xoay quanh vấn đề như: thực hiện quản lý công tác xã hội trong hoạt động
giảm nghèo. Thông qua việc thu thập và phân tích các thông tin định lượng giúp đo
lường một cách hệ thống các vấn đề mà cuộc nghiên cứu đặt ra.
5.2.3. Phương pháp phỏng vấn sâu
Để có thông tin sâu hơn về đối tượng nghiên cứu, đề tài cũng tiến hành các
cuộc phỏng vấn sâu đối với người nghèo được hỗ trợ và cán bộ công tác xã hội
nhằm khai thác tối đa có chiều sâu hơn các nội dung mà phương pháp điều tra định
lượng không phù hợp hoặc bổ sung cho cách tiếp cận này.

Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ góp phần nhỏ bé giúp các nhà
chuyên môn xây dựng, bổ sung, hoàn thiện các chính sách, chương trình hoạt động
một cách sâu rộng, có hiệu quả trong xóa đói, giảm nghèo. Mặt khác, tác giả cũng
hy vọng đề tài sẽ trở thành một tài liệu tham khảo giúp ích được trong việc học tập,
nghiên cứu của sinh viên ngành công tác xã hội cũng như phục vụ phần nào cho
công tác giảng dạy và học tập các môn chuyên ngành công tác xã hội.
7. Cơ cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mực tài liệu tham khảo, danh mục bảng
biểu, mục lục. Nội dung luận văn bao gồm 3 chương, cụ thể:
Chương 1: Những vấn đề lý luận về quản lý công tác xã hội trong hoạt động
giảm nghèo.
Chương 2: Thực trạng về thực hiện quản lý công tác xã hội trong hoạt động
giảm nghèo từ thực tiễn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Chương 3: Biện pháp thúc đẩy hiệu quả quản lý công tác xã hội trong hoạt
động giảm nghèo từ thực tiễn tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.

9


Chƣơng 1
NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI
TRONG HOẠT ĐỘNG GIẢM NGHÈO
1.1. Lý luận về giảm nghèo
1.1.1. Khái niệm về nghèo và giảm nghèo
* Khái niệm về nghèo
Có nhiều khái niệm nghèo khác nhau, theo một số tác giả nước ngoài hay tổ
chức quốc tế, như tại hội nghị bàn về xóa đói, giảm nghèo ở khu vực Châu Á-Thái
Bình Dương do ESCAP tổ chức tại Băng Cốc tháng 9/1993: “Nghèo đói là tình
trạng một bộ phận dân cư không có khả năng thỏa mãn những nhu cầu cơ bản của
con người, mà những nhu cầu ấy phụ thuộc vào trình độ phát triển kinh tế - xã hội,

“Đói nghèo là tình trạng một bộ phận dân cư không có những điều kiện về cuộc
sống như ăn, mặc, ở, vệ sinh, y tế, giáo dục, đi lại, quyền được tham gia vào các
quyết định của cộng đồng”
Qua các cách tiếp cận trên đã giúp chúng ta nâng cao sự hiểu thêm về các
nguyên nhân gây ra nghèo đói nhằm có những phương hướng cách thức hành động
đúng đắn để tấn công đẩy lùi nghèo đói, làm cho chất lượng cuộc sống của người
dân ngày càng tốt đẹp hơn.
* Khái niệm về giảm nghèo
Khái niệm về giảm nghèo đã được Thomas Robert Malthus (1766-1834),
một nhà kinh kế học người Anh, trong Thuyết Nhân Văn, cho rằng: dân số tăng theo
cấp số nhân, trong khi lương thực tăng theo cấp số cộng. Vì đói nghèo chủ yếu do
sự bùng nổ dân số làm số lượng lương thực, thực phẩm tạo ra không đáp ứng đủ
nhu cầu tiêu dùng đi đôi với môi trường sống ngày càng bị thu hẹp. Đời sống con
người lâm vào cảnh khó khăn, nghèo đói. Do đó, ông đưa ra quan niệm giảm nghèo
bằng cách dùng dịch bệnh, nạn đói, chiến tranh để giảm số lượng người nghèo. Với
quan điểm này, Malthus đã đưa ra giải pháp theo hướng tiêu cực, ông đã không nghĩ
tới sự phát triển của xã hội loài người là sự phát triển của lực lượng sản xuất, là
trình độ khoa học, kỹ thuật càng hiện đại. Do vậy, giảm nghèo cần tính toán đến yếu
tố này nhằm tạo ra nhiều cơ hội để người nghèo có thể tự tham gia vào quá trình sản
xuất của xã hội. Qua đó, bản thân người nghèo cũng đã tự giảm nghèo cho chính

11


mình.Tuy nhiên, Malthus cũng có yếu tố hợp lý khi xác định được mối quan hệ giữa
dân số và nghèo đói, điều này hoàn toàn đúng với các nước đang phát triển và kém
phát triển [40]
Chủ nghĩa Mác–Lê Nin cho rằng nghèo là do quá trình phân phối thặng dư
trong chủ nghĩa tư bản. Bởi vì, chủ nghĩa tư bản dựa trên chế độ chiếm hữu tư nhân
tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất. Trong xã hội tư bản, một số ít nhà tư bản

Thứ hai, xóa đói, giảm nghèo phải dựa trên cơ sở tăng trưởng kinh tế nhanh,
hiệu quả và bền vững, đồng thời chủ động tạo ra các nguồn lực cho các hoạt động
trợ giúp người nghèo đói
Thứ ba, xóa đói, giảm nghèo luôn đi đôi với thực hiện công bằng xã hội.
Thứ tư, xóa đói, giảm nghèo là công việc toàn xã hội.
Đồng thời, xuất phát từ thực tế là mức độ nghèo đói là khác nhau, do vậy,
quan niệm giảm nghèo này không xét đến nguyên nhân gây ra nghèo đói, mà chú
trọng đến vấn đề tạo điều kiện để tiến tới giảm mức độ nghèo của người dân. Quan
điểm này phản ánh tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh vì người nhấn mạnh xóa
đói, giảm nghèo là: “Làm cho người nghèo thì đủ ăn, người dư ăn thì khá giàu,
người giàu thì giàu thêm”. Không dừng lại ở đó, điều mới mẻ trong tư tưởng của
Người về xóa đói, giảm nghèo đó là đi kèm với tăng gia sản xuất phải thực hành tiết
kiệm, có vậy mới đảm bảo chắc chắn lâu dài công cuộc xóa đói, giảm nghèo.
Khi đề cập đến vấn đề giảm nghèo thì đã bao hàm xóa đói. Bởi vì, đói chính
là tình trạng nghèo cùng cực, con người thiếu hẳn những nhu cầu cơ bản để duy trì
cuộc sống, nó có thể đe dọa trực tiếp đến tính mạng của con người. Vì vậy, giảm
nghèo về một góc độ nào đó, nó sẽ giải quyết được cái đói nhưng vẫn chưa thể giải
phóng con người thoát khỏi hoàn toàn cái nghèo. Ngoài ra, còn có một số quan
điểm khác, góp phần làm rõ hơn về xóa đói, giảm nghèo ở những phương tiện khác
nhau. Cần phải hiểu xóa đói, giảm nghèo là yếu tố cơ bản đảm bảo công bằng xã hội
và tăng trưởng bền vững. Xóa đói, giảm nghèo không chỉ là công việc trước mắt mà
còn là nhiệm vụ lâu dài. Trước mắt là xóa bỏ đói, giảm hộ nghèo, lâu dài là xóa sự
nghèo, giảm khoảng cách giàu nghèo, phấn đấu xây dựng một xã hội giàu mạnh,
dân chủ, công bằng, văn minh.
Trong luận văn này, tác giả sử dụng khái niệm giảm nghèo của Trần Thị
Hằng khi định nghĩa về giảm nghèo “Giảm nghèo là làm cho một bộ phận dân cư
nghèo nâng cao mức sống, từng bước thoát khỏi tình trạng nghèo. Biểu hiện ở tỷ lệ
phần trăm và số lượng người nghèo giảm xuống. Nói một cách khác, giảm nghèo là

13

Đường đói nghèo chung là đường đói nghèo ở mức cao hơn, bao gồm cả
mặt hàng lương thực thực phẩm và tính thêm chi phí cho các mặt hàng phi lương

14


thực, thực phẩm. Tính thêm những chi phí này với đường đói nghèo về lương thực
và thực phẩm ta sẽ có đường đói nghèo chung. Với cách xác định này, một hộ gia
đình được coi là nghèo nếu chi tiêu trung bình theo đầu người dưới 1.789.000
đồng/năm.
Hai là, chuẩn nghèo do Bộ Lao động–Thương binh và Xã hội đưa ra để áp
dụng trong công tác xóa đói, giảm nghèo theo tiêu chí thu nhập bình quân đầu
người.
Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội xác định chuẩn đói nghèo theo tiêu
chuẩn quốc gia được tính toán dựa vào mức thu nhập tối thiểu/người/ngày tính ra
đơn vị lương thực quy ra gạo hay ra tiền Việt Nam và khác nhau giữa các vùng.
Trên cơ sở quy định chuẩn nghèo của Trung ương và tình hình thực tế tại địa
phương, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu ban hành Quyết định số 45/2010/QĐ-UBND ngày
11/10/2010 về mức chuẩn nghèo của tỉnh Bà Rịa- Vũng Tàu áp dụng cho giai đoạn
2011-2015, theo đó chuẩn nghèo của tỉnh cao gấp 1,75 lần chuẩn nghèo quốc gia.
Giai đoạn 20016-2020 : Áp dụng phương pháp đo lường nghèo đa chiều.
Việc áp dụng duy nhất tiêu chí thu nhập để xác định đối tượng hộ nghèo,
cận nghèo đã dẫn đến sự phân loại đối tượng chưa thực sự chính xác vì chuẩn nghèo
hiện hành chưa phản ánh được đầy đủ các nhu cầu cơ bản cũng như thực trạng tiếp
cận các dịch vụ xã hội cơ bản, lại được duy trì trong cả giai đoạn trong điều kiện chỉ
số giá tiêu dùng (CPI) hàng năm đều tăng, dẫn đến giá trị chuẩn nghèo không còn
phù hợp, không đáp ứng được nhu cầu đảm bảo mức sống tối thiểu của người dân.
Đồng thời, các chính sách giảm nghèo được xây dựng dựa trên tiêu chí thu nhập chủ
yếu nhằm xử lý vấn đề thiếu tiền và khả năng chi trả dịch vụ, do vậy chưa thực sự
tác động đến các nguyên nhân khác của nghèo đói như vấn đề khó tiếp cận dịch vụ,

dịch vụ, nếu thiếu hụt từ 3 chỉ số trở lên thì rơi vào tình trạng nghèo.
Ngoài ra để đầu tư cho các địa phương khó khăn, Chính phủ ban hành chính
sách đầu tư cho các vùng nghèo bao gồm huyện nghèo và xã nghèo, mục tiêu của
chính sách nầy là nâng cao phúc lợi xã hội như hạ tầng giao thông, y tế…và chính
sách hỗ trợ cho người dân ở các vùng nầy. Tiêu chí huyện nghèo, xã nghèo căn cứ
vào tỷ lệ nghèo, và sự thiếu hụt các công trình hạ tầng phúc lợi xã hội.

16


- Giảm nghèo : Giảm nghèo là tinh trạng hộ nghèo được cho là đã thoát nghèo
theo một tiêu chí nhất định. Trong giai đoạn 1999-2015 tiêu chí nghèo ở nước ta
được xác định trên thu nhập bình quân đầu người/ tháng, một số địa phương có tiêu
riêng cao hơn tiêu chí quốc gia. Việc xác định giảm nghèo được thực hiện vào cuối
mỗi năm thông qua bình xét ở công đồng dân cư, những hộ được cho là thoát nghèo
theo tiêu chí thì không còn trong danh sách hộ nghèo và còn được hưởng một số
chính sách của nhà nước đối với người thoát khỏi nghèo ở một khoảng thời gian
quy định từng chính sách cụ thể .
1.2. Lý luận về quản lý công tác xã hội trong hoạt động giảm nghèo
1.2.1. Một số khái niệm
1.2.1.1. Khái niệm quản lý
Quản lý là một hoạt động cơ bản của đời sống xã hội bên cạnh các hoạt động
như sản xuất vật chất, tái sản sinh xã hội, sản xuất của cải tinh thần, giao tiếp.Về nội
dung, thuật ngữ quản lý có nhiều cách hiểu khác nhau.
Có ý kiến cho rằng quản lý là công tác phối hợp có hiệu quả hoạt động của
những người cộng sự khác cùng chung một tổ chức.
Theo lý thuyết hệ thống: quản lý là sự tác động có hướng đích của chủ thể
quản lý đến một hệ thống nào đó nhằm biến đổi nó từ trạng thái này sang trạng thái
khác theo nguyên lý phá vỡ hệ thống cũ để tạo lập hệ thống mới và điều khiển hệ
thống [32].

số công việc cụ thể như sau:
-Thực hiện tiến trình quản lý công tác xã hội là hoạch định, tổ chức lãnh đạo và
kiểm tra.
- Chuyển đổi chính sách thành các dịch vụ xã hội cụ thể và đúc kết kinh nghiệm
thực tiễn để điều chỉnh, bổ sung, thiết kế chính sách xã hội, đâ là tiến trình hai chiều
trong quản lý công tác xã hội
- Quản lý hệ thống công tác xã hội: Bao gồm quản lý các tổ chức từ thấp đến
cao theo tiêu chuẩn, nội dung cần thiết như quản trị nhân lực, kiểm soát,... để bảo
đãm điều hành thực hiện mục tiêu của tổ chức với hiệu quả cao nhất.
- Quản lý nghiệp vụ công tác xã hội : Quản lý tác nghiệp của nhân viên công tác
xã hội như quản lý ca, hồ sơ, kiểm huấn,...
1.2.1.3. Khái niệm quản lý công tác xã hội trong hoạt động giảm nghèo

18


Từ khái niệm giảm nghèo, quản lý công tác xã hội thì quản lý công tác xã hội
trong hoạt động giảm nghèo được hiểu như sau: là một hoạt động bao gồm lập kế
hoạch, tổ chức chỉ đạo triển khai thực hiện kế hoạch, kiểm soát và điều chỉnh các
hoạt động chuyên môn CTXH với hoạt động giảm nghèo. Quá trình quản lý tuân
thủ theo nguyên tắc tập trung dân chủ để thúc đẩy tính tích cực của cá nhân; thông
qua giám sát để điều hoà quan hệ giữa người với người, giảm mâu thuẫn giữa hai
bên; đồng thời tăng cường hợp tác hỗ trợ lẫn nhau để làm được những việc mà một
cá nhân không thể làm được, nhằm tạo ra giá trị lớn hơn giá trị cá nhân - giá trị
tập thể.
Mục đích của Quản lý CTXH với hoạt động giảm nghèo nhằm trợ giúp người
nghèo giải quyết các vấn đề khó khăn mà họ đang gặp phải từ đó giúp họ phục hồi,
phòng ngừa hay nâng cao năng lực để tăng cường chức năng xã hội, tạo ra những
thay đổi về vai trò, vị trí của họ để giúp họ hòa nhập xã hội, đồng thời thúc đẩy các
điều kiện xã hội để họ tiếp cận được với chính sách, nguồn lực và dịch vụ xã hội


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status