THỰC TRẠNG QUẢN LÝ RỦI RO DỊCH VỤ THẺ TÍN DỤNG
TẠI NHNTVN
2.1 Khái quát thực trạng phát triển dịch vụ thẻ tín dụng tại Ngân hàng ngoại
thương Việt Nam
2.1.1 Sự hình thành và phát triển thẻ tín dụng tại Ngân hàng Ngoại thương
Việt Nam
Ta có thể phân quá trình phát triển thẻ tại Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam ra làm 3 giai đoạn:
2.1.1.1 Giai đoạn 1990-1995
Có thể nói hoạt động thẻ của NHNTVN bắt đầu vào năm 1990, khi
NHNTVN trở thành đại lý thanh toán thẻ Visa đầu tiên tại Việt Nam của ngân
hàng BFCE Singapore, tiếp đó trở thành đại lý thanh toán thẻ Mastercard của Công
ty tài chính MBF Malayxia và đại lý thanh toán thẻ JCB của công ty JCB Nhật.
Đến năm 1994, một ngày sau khi Mỹ bỏ cấm vận kinh tế đối với Việt Nam,
NHNTVN ký hợp đồng trở thành đại lý thanh toán thẻ American Express với Công
ty American Express Hongkong. NHNTVN giữ vị thế độc quyền trong việc cung
ứng dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng quốc tế đến gần hết năm 1995.
Năm 1995, NHNTVN thực hiện dự án thẻ ATM với công nghệ thẻ từ và
được Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chọn là ngân hàng triển khai thí điểm với hai
máy ATM được đặt tại trụ sở chính. Thẻ được phát hành để trả lương cho cán bộ
nhân viên Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam và một số cán bộ nhân viên Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam
2.1.1.2 Giai đoạn 1996-1999
Đến năm 1996 thị trường thẻ Việt Nam bắt đầu trở nên sôi động, vị thế độc
quyền trong lĩnh vực thẻ của NHNTVN bị phá vỡ khi có sự tham gia của các
NHTM trong nước và các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.
Vào tháng 4 năm 1996, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam cùng với Ngân
hàng thương mại cổ phần Á Châu-ACB, Ngân hàng thương mại cổ phần Eximbank
và ngân hàng liên doanh FirstVina trở thành 4 thành viên đầu tiên của tổ chức thẻ
quốc tế Mastercard tại Việt Nam. Đây là điểm mốc đánh dấu sự tiến triển đầu tiên
của thị trường thẻ Việt nam và cũng là điểm mốc chấm dứt tư cách ngân hàng đại
* Hoạt động phát hành thẻ quốc tế
Hoạt động thẻ tín dụng được bắt đầu vào năm 1996. Đối tượng phát hành thẻ
tín dụng quốc tế của NHNTVN là các cá nhân người Việt Nam và người nước
ngoài từ 18 tuổi trở lên, sống và làm việc hợp pháp tại Việt Nam, được các tổ chức
nơi cá nhân công tác đứng ra uỷ quyền cho cá nhân đó sử dụng thẻ với trách nhiệm
thanh toán chi tiêu thẻ của chính tổ chức đó; hoặc người có thu nhập cao, ổn định;
hoặc người có tiền ký quỹ hoặc chứng từ có giá dùng để thế chấp, cầm cố tại
NHNTVN hoặc người được các đối tượng trên bảo lãnh.
Ngay từ những ngày đầu tiên triển khai việc phát hành thẻ, NHNTVN đã
xây dựng một qui trình phát hành đảm bảo thông suốt từ trung ương xuống các chi
nhánh. Trung ương đưa ra các quy định chung, khống chế hạn mức tín dụng tối đa
và tối thiểu cho từng hạng thẻ, các loại phí và các mức phí, các thông tin phải thu
thập từ khách hàng... Theo đó NHNTVN phát hành 2 hạng thẻ cho từng loại thẻ
Vietcombank Visa và Vietcombank MasterCard: hạng vàng với hạn mức tín dụng
từ 50 triều VNĐ đến 90 triệu VNĐ và hạng chuẩn với hạn mức tín dụng từ 10 triệu
VNĐ đến dưới 50 triệu VNĐ.
Thời gian đầu việc phát triển thẻ gặp rất nhiều rất khó khăn bởi thẻ vẫn là
một sản phẩm rất xa lạ đối với người dân kể cả những người thuộc tầng lớp tri
thức. Thẻ chỉ được những người thường xuyên đi công tác ở nước ngoài chú ý tới.
Bên cạnh đó, vào thời điểm này sau một loạt các vụ đổ vỡ tín dụng vào đầu thập
niên 90 có quy mô lớn thì tình hình cấp phát tín dụng của các ngân hàng rất khó
khăn. Chính vì thắt chặt tín dụng, việc thẩm định khả năng tài chính của khách
hàng được NHNTVN làm rất thận trọng, hầu hết khách hàng đều được yêu cầu thế
chấp hoặc ký quỹ để phát hành thẻ. Số lượng thẻ phát hành vì thế tăng trưởng rất
chậm.
Sau những năm khó khăn cho dịch vụ thẻ phát triển, từ năm 2000 trở lại đây,
số thẻ phát hành của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam đã có dấu hiệu tăng
trưởng và tốc độ tăng trưởng về phát hành là rất cao về số tương đối tuy còn khiêm
tốn về số tuyệt đối.
Bảng 2.1: Số lượng thẻ quốc tế phát hành qua các năm
lượng thẻ phát hành đang sử dụng của NHNTVN lên đến 28.680 thẻ . Năm 2003
cũng là năm đầu tiên NHNTVN chính thức ký hợp đồng là ngân hàng độc quyền
phát hành và thanh toán thẻ American Express tại Việt Nam. Trong năm 2003,
NHNTVN đã phát hành được 1140 thẻ American Express, một con số rất đáng
khích lệ nếu so sánh với các sản phẩm thẻ tín dụng khác của NHNTVN khi bắt đầu
đưa ra phát hành. Số lượng phát hàng thẻ tín dụng trong năm 2003 vẫn tăng nhưng
đã có dấu hiệu chậm lại, đạt mức tăng trưởng thấp nhất ( 39%) trong 4 năm 2000
đến 2003 do gặp phải sự cạnh tranh gay gắt của các ngân hàng thương mại trong
nước và các ngân hàng nước ngoài. Sang năm 2004, NHNTVN chỉ phát hành được
8765 thẻ, thấp hơn so với năm 2003, đặc biệt thẻ Visa chỉ còn phát hành được 5953
thẻ so với 8570 thẻ của năm 2003. Nguyên nhân là do trong năm 2004, ngân hàng
thương mại cổ phần Á Châu (ACB) đã phát hành thẻ Visa Electron và Master
Electronic. Đây là sản phẩm thẻ ghi nợ quốc tế, sử dụng trên cơ sở số dư trên tài
khoản của khách hàng, ưu thế hơn hẳn thẻ tín dụng Visa, MasterCard phát hành
bằng hình thức thế chấp, do đó đã thu hút nhiều khách hàng đến phát hành thẻ. Đây
là thách thức thật sự với hoạt động phát hành thẻ tín dụng của NHNTVN, đòi hỏi
NHNTVN cũng phải nhanh chóng phát hành thẻ ghi nợ, đồng thời nghiên cứu,
phát triển tính năng của thẻ tín dụng Visa, MasterCard nhằm duy trì sự tăng trưởng
trong hoạt động phát hành thẻ quốc tế.
Trước với sự gia tăng những thách thức trong hoạt động cạnh tranh đối với
thị trường dịch vụ ngân hàng trong điều kiện hội nhập quốc tế, các ngân hàng đều
chú trọng tập trung đầu tư phát triển dịch vụ thẻ và tung ra thị trường nhiều sản
phẩm thẻ phong phú, đa dạng. Sự đa dạng về thành phần sở hữu và các sản phẩm
dịch vụ thẻ của các ngân hàng đã làm cho hoạt động thẻ trở nên rất sôi động, cạnh
tranh diễn ra gay gắt trên cả hai lĩnh vực phát hành và thanh toán thẻ. Và
NHNTVN với vai trò là ngân hàng đi tiên phong trong lĩnh vực thẻ đã có những
chiến lược hợp lý đẩy số lượng thẻ quốc tế phát hành của ngân hàng có những
bước tiến đáng kể trong 2 năm 2006 và 2007.
Bảng 2.2: Số lượng thẻ quốc tế của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
Loại thẻ 2003 2004 2005 2006 2007
Connect24 vừa triển khai đã được khách hàng và xã hội đón nhận nồng nhiệt. Đến
nay, ngoài các giao dịch truyền thống như rút tiền từ tài khoản cá nhân, đổi mã số
cá nhân, tra cứu thông tin tài khoản, hệ thống giao dịch tự động ATM của
NHNTVN còn cung cấp cho khách hàng những dịch vụ gia tăng khác như: rút tiền
mặt bằng thẻ tín dụng Visa/MasterCard, in sao kê giao dịch, chuyển khoản, thanh
toán tiền điện, điện thoại, nước, mua thẻ trả trước ... đặc biệt là trong năm 2007
NHNTVN đã và đang triển khai nhiều dịch vụ mới trên hệ thống ATM như: gửi
tiền trực tiếp qua máy ATM đây là một bước đột phá và là một sự nỗ lực cố gắng
rất lớn của NHNTVN trước xu thế và sự cạnh tranh gay gắt trên thị trường.
Kể từ khi chính thức ra mắt trên thị trường, tổng số phát hành thẻ Connect24
liên tục tăng, năm 2003 tăng trên 500% so với năm 2002. Sang năm 2004, số thẻ
phát hành đạt 300.000 thẻ, gấp đôi tổng số thẻ phát hành trong 2 năm 2003,2004,
đưa tổng số thẻ Connect24 đang lưu hành trên thị trường lên tới 488.721 thẻ.
Biều 2.1 Số thẻ Connect 24 của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam
( Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2007của phòng thẻ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam )
Đến năm 2005 sự tăng trưởng này càng mạnh hơn, số thẻ Connect 24 của
NHNTVN đã gần đạt 1 triệu thẻ (920 nghìn thẻ) gần gấp đôi năm 2004. Và đến
năm 2006 thì số lượng này đã lên đến khoảng 1,5 triệu thẻ. Đến năm 2007 số
lượng thẻ Connect 24 đạt mức kỷ lục 1,95 triệu thẻ. Mức tăng trưởng này cho thấy
sự phát triển nhanh của thẻ Connect 24 cũng như cho thấy sự chiếm lĩnh thị trường
thẻ ghi nợ nội địa của NHNTVN
2.1.2.2 Thực trạng thanh toán thẻ
* Hoạt động thanh toán thẻ tín dụng quốc tế:
Giai đoạn trước năm 1996:
Từ năm 1996 trở về trước, đây là giai đoạn NHNTVN chiếm độc quyền
trong lĩnh vực thẻ ở Việt Nam. Thời gian này doanh số thanh toán thẻ quốc tế của
NHNTVN có tốc độ tăng trưởng cao, thấp nhất là 60%, đỉnh điểm cao nhất đạt
mức 126 triệu USD năm 1996.
Giai đoạn 1996 – 2004:
Một sự kiện không thể nhắc tới trong thời kỳ này nó đã gây ảnh hưởng rất
Tổng 126 96 77 71 71.06 86.72 108.70 144.10 225.90
(Báo cáo kết quả kinh doanh thẻ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giai đoạn 1996-2004)
Với những sự điều chỉnh, thay đổi phù hợp, kịp thời đã tạo nên sự phát triển
liên tục về thẻ của NHNTVN trong những năm tiếp theo. Kế tiếp đà phát triển, liên
tục trong những năm 2002 trở lại đây, NHNTVN luôn là ngân hàng thanh toán lớn
nhất trên thị trường, doanh số thanh toán thẻ tăng trưởng với mức độ cao, tốc độ
bình quân 20%/ năm, nắm giữ hơn 50% thị trường thanh toán thẻ quốc tế trong
nước. Giai đoạn 2003 - 2004 là giai đoạn các ngân hàng tập trung đẩy mạnh dịch
vụ thẻ trên tất cả các mặt trận: thanh toán và phát hành, tín dụng và ghi nợ, thẻ nội
địa cũng như thẻ quốc tế. Trước sức ép cạnh tranh ngày càng gay gắt, doanh số
thanh toán thẻ quốc tế của NHNTVN vẫn đạt mức 144,1 triệu USD năm 2003 và
225,9 triệu USD năm 2004, tăng 81,8 triệu USD. Mức tăng trưởng cao nhất là của
thẻ Dinner Club: 300% tuy số tuyệt đối còn ít (3,2 triệu USD) nhưng tốc độ tăng
trưởng cao được duy trì qua 2 năm 2003, 2004 là hết sức khả quan. Trong số các
loại thẻ còn lại, thanh toán thẻ MasterCard đạt tăng trưởng nhanh nhất với tốc độ
79,5%, tiếp theo là thẻ Visa 60,45 % và thẻ American Express 26.19%.
Về tương quan giữa các loại thẻ, thẻ Visa vẫn có doanh số thanh toán cao
nhất chiếm 54%, MasterCard 25%, American Express 19%. Tuy nhiên xét về mức
tăng trưởng, thị phần MasterCard tăng 3% so với năm 2003, thị phần Visa tăng 1%
trong khi thị phần của American Express giảm 4%.
Thanh toán thẻ Dinner Club đã vượt doanh số thẻ JCB. Việc doanh số thanh
toán thẻ JCB không có sự tăng trưởng là do trong năm các ngân hàng ACB, ANZ,
UOB cũng đã ký hợp đồng chấp nhận thanh toán thẻ với JCB tại Việt Nam.
Tuy nhiên những năm qua, doanh số thanh toán thẻ vẫn tập trung chủ yếu ở
địa bàn Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh và các thành phố du lịch như Huế, Nha
Trang, Vũng Tàu. Chỉ tính riêng tại địa bàn Hà Nội và Hồ Chí Minh, doanh số
thanh toán thẻ chiếm 87,8% doanh số thanh toán toàn hệ thống, trong đó chi nhánh
Hồ Chí Minh là 60,67% trong năm 2004.
Để được kết quả đáng khích lệ như trong giai đoạn 2000-2004 kể trên là do
hệ thống công nghệ thanh toán thẻ tại NHNTVN đã được nâng cấp, đổi mới, hệ
nhân đến Việt Nam tăng) nên doanh số thanh toán thẻ quốc tế đạt mức tăng ngoạn
mục ước đạt 482,5 triệu USD tăng gần 25% so với năm 2006.
Bảng 2.4: Tình hình thanh toán thẻ quốc tế của Ngân hàng Ngoại thương Việt
Nam 2007
Đơn vị: triệu USD
Loại thẻ 2004 2005 2006 2007
Visa 120,5 166,7 196,8 224,2
MasterCard 56,9 82,4 99,0 125,4
American Express 42,4 58,1 81,8 123,7
JCB 2,9 3,8 4,8 5,2
DinerClub 3,2 3,7 3,9 4
Tổng 225,9 314,7 386,3 482,5
(Nguồn: Báo cáo tổng kết năm 2007 của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam)
Mức tăng trưởng doanh số thanh toán cao nhất là của thẻ American
Express:51,2%, tuy số tuyệt đối mới chỉ đạt ½ số tuyệt đối về doanh số thanh toán
của thẻ VisaCard nhưng tốc độ tăng trưởng cao của thẻ American Express là hết
sức khả quan. Trong số các loại thẻ còn lại, mức tăng trưởng doanh số thanh toán
thẻ Master ở vị trí thứ hai: 26,67%, tiếp theo là doanh số thanh toán thẻ Visa với
mức tăng trưởng 13,92%, tiếp đó là thẻ JCB với mức 8,3% thấp hơn mức 26% của
năm 2006 mặc dù về số tuyệt đối là có tăng. Cuối cùng là thẻ Diner Club có mức
tăng trưởng rất thấp chỉ có 2.5% so với 5,4% của năm 2006 đồng thời cũng giảm
cả về số tuyệt đối (0,1 triệu USD so với 0,2 triệu USD của năm 2006 ). Nhìn chung
mức tăng trưởng của tất cả các loại thẻ đều giảm, duy chỉ có thẻ American Express
là tăng trưởng. Điều này chứng tỏ sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của các ngân
hàng trong thị trường thanh toán thẻ.
Biểu 2.2 Tỷ lệ doanh số thanh toán thẻ năm 2007
Về tương quan giữa các loại thẻ, thẻ Visa vẫn có tỷ lệ doanh số cao nhất và
duy trì ở mức 46% tổng doanh số thanh toán thẻ, MasterCard 26%, Amex 26%.
Xét về mức tăng trưởng, thị phần Amex tăng nhiều nhất, từ chỗ kém MasterCard
năm 2006 8% đến năm 2007 đã đạt xấp xỉ MasterCarrd.Năm 2005, doanh số thanh
Doanh số chuyển khoản (tỷ VNĐ) 588 1.925 4.017
Doanh số thanh toán (tỷ VNĐ) 8 37 42
(Báo cáo kết quả kinh doanh thẻ Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam giai
đoạn2004-2007)