NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU - Pdf 71

NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ DỊCH VỤ GIAO NHẬN
HÀNG HÓA XUẤT NHẬP KHẨU.
I. TỔNG QUAN VỀ NGÀNH KINH DOANH DỊCH VỤ VÀ DỊCH VỤ QUỐC TẾ.
I.1. Giới thiệu chung về ngành dịch vụ.
1. Sự phát triển của ngành dịch vụ trên thế giới.
Bản thân con người khi sinh ra đã ẩn chứa trong mình một tập hợp những nhu
cầu, mong muốn hết sức đa dạng v phong phú. Trong tà ập hợp đó, có những nhu
cầu có thể được thoả mãn bằng những sản phẩm vật chất như kem đánh răng, ô
tô, thép v thià ết bị nhưng có những nhu cầu không thể được thoả mãn bằng
những sản phẩm vật chất đó, đó l nhu cà ầu dịch vụ. Dịch vụ ra đời ngay khi nền
sản xuất h ng hóa xuà ất hiện v cùng và ới sự phát triển của nền kinh tế, lĩnh vực
hoạt động của ng nh dà ịch vụ cũng ng y c ng à à được mở rộng không ngừng. Thời
gian đầu khi nền kinh tế còn chưa phát triển, ng nh dà ịch vụ chỉ đóng góp khoảng
10% – 15% trong tổng sản phẩm quốc nội (GDP) về sau ng nh dà ịch vụ có sự
tăng trưởng phi thường v ng y c ng à à à đóng góp một phần đáng kể v o GDP,à
GNP của các quốc gia. Ng y nay à ở Hoa Kỳ các công việc kinh doanh dịch vụ
chiếm 77% tổng số việc l m v 70% GNP v dà à à ự kiến sẽ sẽ tạo 90% tổng số việc
l m mà ới trong thời gian tới. Cũng như vậy, ở các nước công nghiệp phát triển
như Anh, Pháp, Đức, Nhật … ng nh dà ịch vụ hết sức phát triển v à đóng góp v oà
GDP một tỷ trọng tuyệt đối từ 60% - 90%.
Các ngành dịch vụ hoàn toàn khác nhau. Khu vực nhà nước với toà án, cơ quan
giới thiệu việc làm, bệnh viện quỹ tín dụng, các cơ quan hậu cần quân đội, cảnh sát
và đội cứu hoả, bưu điện các cơ quan hoà giải và trường học, đều thuộc lĩnh vực
dịch vụ. Khu vực phi lợi nhuận tư nhân với các viện bảo tàng, các tổ chức từ thiện,
nhà thờ, các trường cao đẳng và đại học, các quỹ tài trợ và bệnh viện đều thuộc
lĩnh vực dịch vụ. Một phần không nhỏ trong lĩnh vực kinh doanh với các công ty
hàng không, ngân hàng, văn phòng dịch vụ máy tính, khách sạn các công ty bảo
hiểm, công ty tư vấn pháp luật, công ty tư vấn quản lý, các phòng mạch, các hãng
điện ảnh, công ty sửa chữa hệ thống cấp nước và các công ty buôn bán bất động
sản cũng thuộc lĩnh vực dịch vụ.
Nhiều công nhân trong khu vực sản suất cũng làm dịch vụ, như thao tác viên máy

Kế hoạch năm 2004: GDP tăng trưởng: 7.5%-8%, Nông lâm ngư nghiệp tăng:
4.6%, ngành Công nghiệp tăng: 15% và ngành dịch vụ tăng: 8%.
Ngành
Năm
Công nghiệp
và xây dựng
Dịch vụ Nông lâm ngư
nghiệp
2002 38.5% 38.5% 23%
2003 39.9% 37.8% 22.3%
Ngành dịch vụ trong thời gian vừa qua, tốc độ tăng trưởng liên tục gia tăng năm
này qua năm khác: năm 2001 tăng 6.1%, năm 2002 tăng 6.54%, năm 2003 tăng
7%.
Những thông tin trên đây đã cho thấy dấu hiệu khả quan trong tăng trưởng phát
triển nền kinh tế nói chung và ngành dịch vụ nói riêng tại Việt Nam. Chắc chắn
rằng ngành dịch vụ trong tương lai sẽ phát triển mạnh mẽ không chỉ ở các quốc gia
phát triển trên thế giới mà còn mạnh mẽ hơn ở các quốc gia đang phát triển như
Việt Nam.
I.2. Khái niệm chung về dịch vụ.
1. Định nghĩa dịch vụ
Từ trước đến nay có rất nhiều khái niệm về dịch vụ, đây là vấn đề đã được quan
tâm từ rất sớm, tuy ngành kinh doanh này ra đời muộn hơn so với các ngành kinh
doanh khác nhưng hoạt động dịch vụ ngày càng chiếm tỷ trong lớn hơn trong tổng
thu nhập quốc dân.
Các Mác cho rằng: “ Dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế sản xuất hàng hóa, khi mà
kinh tế hàng hóa phát triển mạnh đòi hỏi một sự lưu thông hàng hóa trôi chảy,
thông suốt, liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ
phát triển.”
Theo kinh tế học: “Dịch vụ là một khu vực kinh tế, bao gồm một tổ hợp rộng rãi
các ngành nhằm cung cấp các sản phẩm đáp ứng nhu cầu của sản xuất, của đời

xác định được mức độ sản phẩm hiện hữu, dịch vụ hoàn hảo và các mức độ trung
gian giữa dịch vụ và hàng hóa hiện hữu.
Tính không hiện hữu của dịch vụ gây rất nhiều khó khăn cho quản lý hoạt động
sản xuất cung cấp dịch vụ, khó khăn cho Marketing dịch vụ và cho việc nhận biết
dịch vụ.
Để nhận biết dịch vụ thông thường phải tìm hiểu qua những đầu mối vật chất
trong môi trường hoạt động dịch vụ, chẳng hạn các trang thiết bị, dụng cụ, trang trí
nội thất, ánh sáng, màu sắc, con người… có quan hệ trực tiếp tới hoạt động cung
cấp dịch vụ của doanh nghiệp.
- Dịch vụ có tính không đồng nhất:
Sản phẩm dịch vụ không tiêu chuẩn hoá được, lý do trước hết là do hoạt động
cung ứng. Các nhân viên cung ứng không thể tạo được những dịch vụ như nhau
trong những thời gian làm việc khác nhau. Hơn nữa khách hàng tiêu dùng dịch vụ
là người tham gia quyết định chất lượng dịch vụ dựa vào cảm nhận của họ. Trong
những thời gian khác nhau sự cảm nhận cũng khác nhau, những khách hàng khác
nhau cũng có sự cảm nhận khác nhau. Do vậy trong cung cấp dịch vụ thường thực
hiện cá nhân hoá, thoát ly khỏi quy chế. Điều đó càng làm cho dịch vụ tăng thêm
mức độ khác biệt giữa chúng. Dịch vụ vô hình ở đầu ra nên không thể đo lường và
quy chuẩn hoá được. Vì những nguyên nhân trên mà dịch vụ luôn luôn không đồng
nhất, không giống nhau giữa một dịch vụ này với một dịch vụ khác nhưng những
dịch vụ cùng loại chúng chỉ khác về lượng trong sự đồng nhất để phân biệt với loại
dịch vụ khác.
- Dịch vụ có tính không tách rời:
Sản phẩm dịch vụ gắn liền với hoạt động cung cấp dịch vụ. Các sản phẩm cụ thể
là không đồng nhất nhưng đều mang tính hệ thống đều từ cấu trúc dịch vụ cơ bản
phát triển thành. Một sản phẩm dịch vụ cụ thể gắn liền với cấu trúc của nó và là kết
quả của quá trình hoạt động của hệ thống cấu trúc đó. Quá trình sản xuất gắn liền
với việc tiêu dùng dịch vụ. Người tiêu dùng cũng tham gia vào hoạt động sản xuất
cung ứng dịch vụ cho chính mình.
Từ đặc điểm trên ta thấy việc sản xuất cung ứng dịch vụ không được tuỳ tiện, trái

điều này một phần đã khẳng định vai trò kinh tế lớn lao của ngành dịch vụ.
3.2. Vai trò cụ thể.
- Dịch vụ là cầu nối giữa đầu ra và đầu vào trong quá trình sản xuất, tiêu thụ sản
phẩm thúc đẩy nền kinh tế phát triển.
- Dịch vụ phát triển thúc đẩy phân công lao động xã hội, thúc đẩy quá trình
chuyên môn hoá, tạo điều kiện cho lực lượng sản xuất tăng năng suất lao động,
đồng thời đáp ứng được nhu cầu ngày càng đa dạng của đời sống xã hội, nâng cao
chất lượng cuộc sống cho cộng đồng.
- Phát triển dịch vụ tạo ra nhiều ngành kinh doanh mới, tạo nhiều việc làm.
- Dịch vụ phát triển làm biến đổi cơ cấu kinh tế theo hướng tối ưu, đảm bảo sự
tăng trưởng của tổng sản phẩm trong nước.
- Dịch vụ đóng vai trò to lớn trong việc giải phóng phụ nữ, một lực lượng quan
trọng mà các nước văn minh hiện đang có xu hướng tiến tới bình đẳng giữa nam và
nữ, khai thác tiềm năng lao động lớn lao này.
- Dịch vụ đóng vai trò thúc đẩy nhanh quá trình công nghiệp hoá hiện đại hoá,
nâng cao dân chí và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng.
- Phát triển dịch vụ quốc tế trong hoạt động thương mại có vai trò là cầu nối giữa
nền kinh tế quốc gia với nền kinh tế thế giới, tạo điều kiện cho quá trình hợp tác
hội nhập.
I.3. Dịch vụ quốc tế.
1. Sự mở rộng giới hạn địa lý trong kinh doanh dịch vụ.
Hoạt động giao lưu kinh tế quốc tế, buôn bán ngoại thương đã xuất hiện từ rất lâu
trên thế giới. Từ thời kỳ “con đường tơ lụa” với hoạt động buôn bán giao lưu giữa
Trung Quốc và Ấn Độ cho đến thời kỳ tích luỹ nguyên thuỷ tư bản chủ nghĩa, rồi
thời kỳ khai thác các nước thuộc địa Á, Phi, Mỹ La Tinh của đế quốc thực dân
Anh, Pháp và cho đến ngày nay hoạt động buôn bán quốc tế, hoạt động xuất nhập
khẩu hàng hóa ngoại thương giữa các quốc gia trên thế giới diễn ra hết sức sôi
động và trở thành một phần tất yếu trong phát triển kinh tế của các quốc gia.
Giờ đây một quốc qia muốn phát triển không thể tách mình ra khỏi các quốc gia
khác mà trái lại muốn phát triển các quốc gia phải dựa vào nhau, quan hệ chặt chẽ

- Thúc đẩy quá trình hội nhập hợp tác kinh tế giữa các quốc gia, các khu vực trên
thế giới.
- Là chất xúc tác thúc đẩy hoạt động xuất nhập khẩu, buôn bán ngoại thương phát
triển.
- Giúp các quốc gia triệt để tận dụng những lợi thế của mình so với các quốc gia
khác đem lại hiệu quả kinh tế chung cho toàn thế giới.
-Rút ngắn sự cách biệt về trình độ phát triển kinh tế giữa các quốc gia đã phát
triển với các quốc gia kém phát triển.
- Đẩy nhanh sự phân công lao động quốc tế, tạo nhiều việc làm với thu nhập cao
góp phần nâng cao mức sống của dân cư.
- Tăng cường các hoạt động giao lưu văn hoá giữa các quốc gia có nền văn hoá
khác nhau trên thế giới.
- Thúc đẩy sự ra đời và phát triển của các hiệp hội hợp tác kinh tế trong khu vực
và trên thế giới.
II. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DỊCH VỤ GIAO NHẬN HÀNG HÓA XUẤT NHẬP
KHẨU.
II.1. Khái niệm chung về dịch vụ vận tải quốc tế.
1. Định nghĩa phân loại vận tải.
1.1. Định nghĩa.
Vận tải là một hoạt động kinh tế có mục đích của con người nhằm đáp ứng nhu
cầu di chuyển vị trí của đối tượng vận chuyển. Đối tượng vận chuyển gồm con
người và vật phẩm (hàng hóa). Sự di chuyển vị trí của con người và vật phẩm trong
không gian rất đa dạng phong phú và không phải mọi di chuyển đều là vận tải.
Vận tải chỉ bao gồm những di chuyển do con người tạo ra nhằm mục đích kinh tế
(lợi nhuận) để đáp ứng nhu cầu về sự di chuyển đó mà thôi. (theo sách Vận tải-
Giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu của PGS,TS Hoàng Văn Châu).
1.2. Phân loại vận tải.
Có nhiều cách phân loại vận tải, phụ thuộc vào các tiêu chuẩn lựa chọn:
- Nếu căn cứ vào tính chất của vận tải, có thể phân ra: vận tải nội bộ xí ngiệp và
vận tải công cộng.

xã hội cần thiết kết tinh trong hàng hóa đó. Giá trị sử dụng của sản phẩm vận tải là
khả năng đáp ứng nhu cầu di chuyển. Tuy nhiên so với các ngành sản xuất vật chất
khác, ngành vận tải có những điểm khác biệt về quá trình sản xuất, về sản phẩm và
tiêu thụ sản phẩm, thể hiện ở các điểm sau đây:
- Môi trường sản xuất của vận tải là không gian, luôn di động chứ không cố định
như các ngành khác;
- Sản xuất trong vận tải là quá trình tác động về mặt không gian vào đối tượng
lao động chứ không phải là sự tác động về mặt kỹ thuật, do đó không làm thay đổi
hình dáng kích thước của đối tượng.
- Sản phẩm của vận tải mang tính vô hình.
- Quá trình sản xuất của ngành vận tải không tạo ra sản phẩm vật chất mới mà chỉ
làm thay đổi vị trí của hàng hóa và qua đó cũng làm tăng giá trị của hàng hóa.
Từ những đặc điểm trên C. Mác cho rằng vận tải là một ngành sản xuất đặc biệt.
3. Vai trò tác dụng của vận tải trong nền kinh tế quốc dân.
Vận tải giữ vai trò rất quan trọng và có tác dụng to lớn đối với nền kinh tế quốc
dân của mỗi nước. Hệ thống vận tải được ví như mạch máu của cơ thể con người,
nó phản ánh trình độ phát triển của một nước. Vận tải phục vụ tất cả các lĩnh vực
của đời sống xã hội: sản xuất, lưu thông, tiêu dùng, quốc phòng. Trong sản xuất
ngành vận tải vận chuyển nguyên nhiên vật liệu, bán thành phẩm, thành phẩm, lao
động để phục vụ quá trình sản xuất. Vận tải là yếu tố quan trọng của lưu thông. C.
Mác nói “ Lưu thông có nghĩa là hành trình thực tế của hàng hóa trong không gian
được giải quyết bằng vận tải. Vận tải là sự tiếp tục của quá trình sản xuất ở bên
trong quá trình lưu thông và vì quá trình lưu thông đó”. Ngành vận tải có nhiệm vụ
đưa hàng hóa tới nơi tiêu dùng. Vận tải tạo ra khả năng thực hiện giá trị sử dụng
của hàng hóa. C. Mác nói “ Sản phẩm chỉ sẵn sàng để tiêu dùng khi nó kết thúc quá
trình di chuyển đó”
Tác dụng của vận tải đối với nền kinh tế quốc dân thể hiện ở những mặt sau:
- Ngành vận tải sáng tạo ra một phần đáng kể tổng sản phẩm xã hội và thu nhập
quốc dân;
- Vận tải đáp ứng nhu cầu di chuyển ngày càng tăng của hàng hóa và con người

hàng, xếp hàng lên tàu, chuyển tải hàng hóa dọc đường, dỡ hàng hóa ra khỏi tàu và
giao cho người nhận.
Lúc đầu khi hoạt động buôn bán ngoại thương chưa phát triển, những công việc
trên được các hãng cung ứng dịch vụ vận tải quốc tế đảm nhận. Đến khi thương
mại quốc tế phát triển mạnh mẽ, lượng hàng xuất nhập khẩu lớn, các hãng cung
ứng dịch vụ vận tải quốc tế nhận thấy rằng: nếu chỉ chuyên môn hoá vào việc vận
tải hàng hóa thôi thì hiệu quả kinh tế sẽ cao hơn bởi vì hai lý do, thứ nhất là:
thương mại quốc tế phát triển, lượng hàng hóa xuất nhập khẩu nhiều đòi hỏi hãng
vận tải phải mở rộng quy mô, quy mô lớn lên dẫn đến chi phí cố định phân bổ
giảm dần và đạt tới điểm tối ưu. Thứ hai là: theo hiệu ứng đường cong kinh
nghiệm, nếu chỉ chuyên vào việc vận tải hàng hóa sẽ làm giảm tiếp cả chi phí biến
đổi dẫn đến việc đạt được hiệu quả cao trong kinh doanh. Chính vì vậy những công
việc giao nhận trên đã tách ra và phát triển thành một ngành kinh doanh riêng và
do người giao nhận đảm nhiệm. Từ đó, trong vận tải hàng hóa quốc tế xuất hiện sự
chuyên môn hoá gồm hai ngành kinh doanh, ngành vận tải quốc tế và ngành giao
nhận.
II.3. Định nghĩa giao nhận và người giao nhận.
1. Định nghĩa về giao nhận.
Dịch vụ giao nhận, theo “ Quy tắc mẫu của FIATA (Liên đoàn quốc tế các hiệp
hội giao nhận) về dịch vụ giao nhận, là bất kỳ loại dịch vụ nào liên quan đến vận
chuyển, gom hàng, lưu kho, bốc xếp, đóng gói hay phân phối hàng hóa cũng như
các dịch vụ tư vấn hay có liên quan đến các dịch vụ trên, kể cả các vấn đề hải quan,
tài chính, mua bảo hiểm, thanh toán, thu thập chứng từ liên quan đến hàng hóa.
Theo luật thương mại Việt Nam thì giao nhận hàng hóa là hành vi thương mại,
theo đó người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa nhận hàng từ người gửi, tổ chức vận
chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm các thủ tục giấy tờ và các dịch vụ khác có liên quan để
giao hàng cho người nhận theo sự uỷ thác của chủ hàng, của người vận tải hoặc
người giao nhận khác.
2. Định nghĩa về người giao nhận.
Người kinh doanh dịch vụ giao nhận gọi là người giao nhận( forwarder, freight

cho người nhận, dỡ hàng và xử lý hàng nhập, khai báo hải quan hay chuyển tiếp
hàng quá cảnh, lưu kho và phân phối hàng, giao hàng tại địa phương, gián nhãn
hiệu, khảo sát đơn hàng (đối với lô hàng nhập).
Tiếp sau đây sẽ trình bày về những dịch vụ mà người giao nhận tiến hành:
- Chuẩn bị hàng để chở
- Tổ chức chuyên chở hàng hóa trong phạm vi ga cảng
- Tổ chức xếp dỡ hàng hóa
- Làm tư vấn cho chủ hàng trong việc chuyên chở hàng hóa
- Ký kết hợp đồng vận tải với người chuyên chở, thuê tàu, lưu cước
- Làm các thủ tục gửi hàng, nhận hàng
- Làm thủ tục hải quan kiểm nghiệm kiểm dịch
- Mua bảo hiểm cho hàng hóa
- Lập chứng từ cần thiết trong quá trình gửi hàng, nhận hàng, thanh toán
- Thanh toán, thu đổi ngoại tệ
- Nhận hàng từ chủ hàng giao cho người chuyên chở và giao cho người nhận
- Thu xếp chuyển tải hàng hóa
- Nhận hàng từ người chuyên chở và giao cho người nhận hàng
- Gom hàng, lựa chọn tuyến đường vận tải, phương thức vận tải và người chuyên
chở thích hợp
- Đóng gói bao bì, phân loại, tái chế hàng hóa
- Lưu kho, bảo quản hàng hóa
- Nhận và kiểm tra các chứng từ cần thiết liên quan đến sự vận động của hàng hóa
- Thanh toán cước phí, chi phí lưu kho lưu bãi…
- Thông báo tình hình đi, đến của các phương tiện vận tải
- Thông báo tổn thất tới người chuyên chở
- Giúp chủ hàng trong việc khiếu nại đòi bồi thường.
II.5. Đặc điểm và vai trò của dịch vụ giao nhận.
1. Đặc điểm.
Dịch vụ giao nhận mang những đặc điểm chính của dịch vụ vận tải quốc tế bởi vì
thực chất của dịch vụ giao nhận nó đã bao gồm cả dịch vụ vận tải.

nhận uỷ thác từ chủ hàng hoặc từ người chuyên chở để thực hiện các công việc
khác nhau như nhận hàng, giao hàng, làm thủ tục hải quan, lưu kho… trên cơ sở
hợp đồng uỷ thác.
- Người gom hàng (Consolidator).
Ở châu Âu, người giao nhận từ lâu đã cung cấp dịch vụ gom hàng để phục vụ cho
vận tải đường sắt. Đặc biệt trong vận tải hàng hóa bằng container dịch vụ gom
hàng là không thể thiếu được nhằm biến hàng lẻ thành hàng nguyên để tận dụng
sức chở của container và giảm cước phí vận tải. Khi là người gom hàng người giao
nhận có thể đóng vai trò là người chuyên chở hoặc chỉ làm đại lý.
- Người chuyên chở (Carrier).
Ngày nay trong nhiều trường hợp người giao nhận đóng vai trò là người chuyên
chở, tức người giao nhận trực tiếp ký hợp đồng vận tải với chủ hàng và chịu trách
nhiệm chuyên chở hàng hóa từ một nơi này đến một nơi khác. Người giao nhận
đóng vai trò là người thầu chuyên chở nếu anh ta ký hợp đồng mà không trực tiếp
chuyên chở. Nếu anh ta trực tiếp chuyên chở thì anh ta là người chuyên chở thực
tế.
- Người kinh doanh dịch vụ vận tải đa phương thức (Multimodal Transport
Operator).
Trong trường hợp người giao nhận cung cấp dịch vụ vận tải đi suốt hay còn gọi
là vận tải từ cửa đến cửa thì người giao nhận đã đóng vai trò là người kinh doanh
vận tải đa phương thức ( MTO ).
MTO cũng là người chuyên chở và phải chịu trách nhiệm với hàng hóa
Người giao nhận còn được gọi là “kiến trúc sư của vận tải” vì người giao nhận
có khả năng tổ chức quá trình vận tải một cách tốt nhất, an toàn nhất và tiết kiệm
nhất.
II.6. Nội dung của hoạt động giao nhận.
Thông thường thì người làm công tác giao nhận sẽ làm tất cả các thủ tục, giải
quyết các vấn đề liên quan đến vận chuyển hàng hóa quốc tế từ tay người bán đến
tay người mua, ngoại trừ trường hợp người bán hoặc người mua trực tiếp can thiệp
vào một khâu thủ tục, chứng từ nào đó. Doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giao


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status