BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
LÊ MINH TRÍ
TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG ĐẾN LẠM PHÁT
Ở CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
LÊ MINH TRÍ
TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG ĐẾN LẠM PHÁT
Ở CÁC NƯỚC ĐÔNG NAM Á
Chuyên ngành: Tài chính-Ngân hàng
Mã số: 8340201
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS Nguyễn Ngọc Hùng
Thành phố Hồ Chí Minh - 2018
2.1.3. Các nguyên nhân gây ra lạm phát ............................................................... 5
2.1.4. Các chỉ số đo lường lạm phát ....................................................................... 8
2.2. Tác động của lạm phát đến nền kinh tế ........................................................... 9
2.3. Tác động của chi tiêu công và các yếu tố khác đến lạm phát....................... 11
2.3.1. Chi tiêu công ............................................................................................... 11
2.3.2. Tỷ giá hối đoái ............................................................................................. 13
2.3.3. Tăng trưởng kinh tế .................................................................................... 15
2.3.4. Cung tiền ..................................................................................................... 15
2.4. Lược khảo một số nghiên cứu trước về tác động của chi tiêu công đến lạm
phát ........................................................................................................................... 16
CHƯƠNG 3: MƠ HÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................... 20
3.1. Mơ hình và các giả thuyết nghiên cứu............................................................ 20
3.1.1. Mơ hình nghiên cứu ................................................................................... 20
3.1.2. Các giả thuyết nghiên cứu .......................................................................... 21
3.2. Phương pháp nghiên cứu................................................................................. 21
3.3. Dữ liệu nghiên cứu ........................................................................................... 22
CHƯƠNG 4: THỰC TRẠNG VỀ CHI TIÊU CÔNG VÀ TÌNH HÌNH LẠM
PHÁT Ở CÁC NƯỚC ĐƠNG NAM Á ..................................................................... 24
4.1. Thực trạng về tình hình lạm phát tại các nước Đông Nam Á ...................... 24
4.1.1. Tỷ lệ lạm phát tính theo chỉ số giá tiêu dùng CPI ..................................... 24
4.1.2. Tỷ lệ lạm phát tính theo hệ số giảm phát GDP ......................................... 25
4.2. Thực trạng về chi tiêu công và một số yếu tố khác tác động đến lạm phát
tại các nước Đông Nam Á ....................................................................................... 27
4.2.1. Chi tiêu công ............................................................................................... 27
4.2.2. Tốc độ tăng trưởng kinh tế ......................................................................... 28
4.2.3. Cung tiền ..................................................................................................... 30
4.2.4. Tỷ giá hối đoái ............................................................................................. 32
CHƯƠNG 5: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TÁC ĐỘNG CỦA CHI TIÊU CÔNG
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
NSNN
Ngân sách Nhà nước
NHTW
Ngân hàng Trung ương
CPI
Chỉ số cảm nhận tham nhũng
PPI
Chỉ số giá sản xuất
GDP
Tổng sản phẩm quốc nội
OLS
Mơ hình bình phương nhỏ nhất
FE
Mơ hình tác động cố định
Hình 4.5: Biểu đồ giá trị trung bình tỷ của tỷ lệ cung tiền trên GDP tại các
nước Đông Nam Á giai đoạn 2007-2016 ...................................................................
Hình 4.6: Biểu đồ tỷ giá hối đối của các nước Đơng Nam Á giai đoạn 20072016 ............................................................................................................................
Bảng 5.1: Thống kế mô tả dữ liệu nghiên cứu của mơ hình .........................
Hình 5.1: Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa mơ hình CPI.....................
Hình 5.2: Biểu đồ P – P Plot về phân phối chuẩn của phần dư mơ hình CPI
Bảng 5.2: Tổng hợp kết quả hồi quy theo ba phương pháp đối với mơ hình
CPI ..............................................................................................................................
Hình 5.3: Biểu đồ tần số của phần dư chuẩn hóa mơ hình DGDP ................
Hình 5.4: Biểu đồ P – P Plot về phân phối chuẩn của phần dư mô hình DGDP
Bảng 5.3: Tổng hợp kết quả hồi quy theo ba phương pháp đối với mơ hình
DGDP .........................................................................................................................
1
CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU LUẬN VĂN
1.1. Tính cấp thiết của đề tài
Một quốc gia muốn tồn tại và phát triển vững mạnh cần phải có nguồn thu Ngân
sách lớn kết hợp với những kế hoạch chi tiêu cụ thế và khoa học. Các khoản chi tiêu
của các cấp chính quyền, các đơn vị quản lý hành chính, các đơn vị sự nghiệp được sự
kiểm sốt và tài trợ bởi Chính phủ gọi là khoản chi tiêu công. Chi tiêu công là các
khoản chi của NSNN hàng năm được quốc hội thông qua bao gồm rất nhiều các khoản
chi như: chi cho văn hóa, giáo dục, thơng tin, qn sự, quốc phòng, chi đầu tư xây
dựng cơ bản… với những tỷ trọng khác nhau tùy thuộc vào sự ưu tiên phát triển các
lĩnh vực trong chính sách phát triển quốc gia.
Tuy nhiên, các khoản chi tiêu công của NSNN tại các quốc gia Đơng Nam Á nói
chung ln trong tình trạng thâm hụt ở mức cao. Thực tế cho thấy, tình trạng bội chi
NSNN ở mức cao đều có nguy cơ gây ra lạm phát. Bởi vì, khi ngân sách bị bội chi có
phát tại các nước Đông Nam Á trong thời gian tới.
1.3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Sự tác động của chi tiêu công đến lạm phát.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian ngiên cứu: các nước Đông Nam Á.
- Thời gian nghiên cứu: tác giả thu thập dữ liệu trong 10 năm từ 2007 đến
2016.
1.4. Phương pháp nghiên cứu
Tác giả sẽ sử dụng phương pháp dữ liệu bảng với 3 mơ hình khác nhau là: mơ hình
ước lượng OLS thơ (Pooled OLS), mơ hình tác động cố định (Fixed Effects Model) và
mơ hình tác động ngẫu nhiên (Random Effects Model) để đo lường mức độ tác động
của các biến độc lập trong đó có chi tiêu công đến biến phụ thuộc lạm phát được thể
hiện qua hai chỉ tiêu CPI và DGDP. Sau đó, để đảm bảo sự phù hợp của mơ hình, tác
giả sẽ tiến hành thực hiện một số kiểm định Breusch-Pagan Lagrangian để lựa chọn
giữa Pooled OLS và REM (Baltagi, 2008), kiểm định Hausman để lựa chọn giữa
REM và FEM (Baltagi, 2008; Gujarati, 2004).
Ngồi ra khi tiến hành phân tích mơ hình hồi quy tuyến tính, để kết quả hồi quy có
ý nghĩa, hiệu quả và chính xác cần đảm bảo các giả định hồi quy khơng bị vi phạm. Vì
vậy, tác giả sẽ thực hiện một số kiểm định các giả định hồi quy sau đây:
(1) Khơng có hiện tượng đa cộng tuyến;
(2) Khơng có hiện tượng phương sai sai số thay đổi;
(3) Khơng có hiện tượng tự tương quan;
3
(4) Phần dư có phân phối chuẩn.
Bên cạnh đó, nếu xảy ra hiện tượng tự tương quan hay phương sai số thay đổi,
phương pháp FGLS sẽ được sử dụng kiểm soát các vi phạm này (Judge, Hill et al,
1988).
khác nhau về lạm phát tùy theo từng cách tiếp cận, cụ thể như sau:
Theo Friedman (1970), “lạm phát bao giờ và ở đâu cũng là một hiện tượng tiền tệ”.
Một số nhà kinh tế học cho rằng “lạm phát là hiện tượng tiền được cung ứng nhiều
hơn mức cần thiết hoặc là do khối lượng tiền thực tế trong lưu thông lớn hơn khối
lượng tiền cần thiết”, “lạm phát là hiện tượng bội chi lâu dài của ngân sách nhà nước”.
Lạm phát là sự gia tăng bền vững của mức giá chung trong nền kinh tế, trong khi tỷ
lệ lạm phát là tỷ lệ tăng giữa mức giá chung của hai kỳ kế tiếp nhau (Ogbole &
Momodu, 2015).
Tình trạng lạm phát diễn ra trong một nền kinh tế khi giá trị thị trường hay sức mua
của đồng tiền bị suy giảm. Khái niệm này được hiểu trong phạm vi nền kinh tế của
một nước. Đặt trong tương quan với các nền kinh tế khác, có thể hiểu lạm phát là sự
phá giá của đồng nội tệ so với các loại ngoại tệ khác. Cách hiểu này lại dựa trên khía
cạnh lạm phát trong phạm vi thị trường tồn cầu của một đồng tiền cụ thể.
Theo World Bank, lạm phát được đo lường bởi chỉ số giá tiêu dùng, thể hiện sự
thay đổi (%) hàng năm về chi phí mà người tiêu dùng bình thường phải trả cho một rỗ
hàng hóa và dịch vụ (có thể cố định hoặc thay đổi) ở những khoảng thời gian nhất
định (thường là theo năm).
Như vậy, lạm phát có thể được hiểu là sự suy giảm sức mua của tiền tệ và được đo
lường bằng sự gia tăng mức giá chung trong nền kinh tế.
2.1.2. Phân loại lạm phát
Dựa trên tỷ lệ lạm phát, các nhà kinh tế học đã chia lạm phát thành ba loại như sau:
- Lạm phát vừa phải: còn gọi là lạm phát một con số, có tỷ lệ lạm phát dýới 10%
một nãm. Lạm phát vừa phải làm cho giá cả biến ðộng týõng ðối. Nền kinh tế trong
giai ðoạn lạm phát vừa phải hoạt động bình thường, đời sống của người lao động ổn
5
định, giá của các hàng hóa tăng lên khá chậm, mức lãi suất tiền gửi khơng biến động
nhiều, tình trạng tích trữ hàng hố để đầu cơ với số lượng lớn không xảy ra... Điều này
6
- Do một sự sụt giảm của tỷ giá hối đối làm cho hàng hóa xuất khẩu tăng khả
năng cạnh tranh ở thị trường ngồi nước dẫn đến có một lực cầu mới chảy vào quốc
gia đó dẫn đến làm gia tăng nhu cầu về hàng hóa, dịch vụ đối với nguồn cung của
quốc gia đó.
- Các chính sách về kinh tế của Chính phủ làm tăng áp lực cầu, cụ thể là: Chính
phủ giảm các loại thuế đánh vào hàng hóa, dịch vụ cũng như thu nhập dẫn đến làm
tăng thu nhập khả dụng của người tiêu dùng. Ngoài ra, chính phủ cịn tạo áp lực lên
cầu thơng qua chi tiêu dùng của chính phủ và tăng cường cho vay mượn. Bên cạnh đó,
NHNN thực hiện chính sách tiền tệ nới lỏng thơng qua việc giảm lãi suất có thể dẫn
đến gia tăng nhu cầu tiêu dùng do việc đi vay trở nên dễ dàng hơn.
Hình 2.1. Lạm phát cầu kéo
Lạm phát chi phí đẩy: (hay lạm phát sốc cung) là do giá cả các yếu tố đầu vào
trong sản xuất tăng dẫn đến việc các doanh nghiệp thu hẹp sản xuất hoặc thậm chí phá
sản làm tổng cung sụt giảm (sản lượng tiềm năng). Một trong những hậu quả của lạm
phát chi phí đẩy là nó có thể dẫn đến tình trạng đình trệ trong hoạt động sản xuất kinh
doanh của nền kinh tế. Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng lạm phát này. Chi phí
sản xuất tăng do sự gia tăng về giá của các yếu tố đầu vào trong sản xuất như sau:
- Sự gia tăng chi phí nguyên vật liệu cấu thành nên sản phẩm: Điều này có thể là
do sự gia tăng giá cả hàng hóa tồn cầu như dầu, khí đốt làm tăng chi phí trong hoạt
động sản xuất hay sự gia tăng giá nơng sản như giá lúa mì làm gia tăng giá thành của
các sản phẩm chế biến.
7
- Sự gia tăng chi phí lao động: do tiền lương tăng vượt quá lợi ích do năng suất
lao động tăng. Chi phí tiền lương thường tăng khi tỷ lệ thất nghiệp thấp và do người
giữ cố định, khơng có sự thay đổi nhiều. Tuy nhiên, chỉ số CPI có một số hạn chế như
sau:
- Chỉ số CPI không phản ánh được sự thay đổi chất lượng hàng hóa nghĩa là giá
tăng có thể do chất lượng tăng tuy nhiên CPI khơng tính tới sự thay đổi chất lượng, do
đó chỉ số CPI phóng đại tỷ lệ lạm phát cao hơn thực tế.
- Không phản ánh được sự xuất hiện của hàng hóa mới do hàng hóa mới thường
xuyên xuất hiện thay thế hàng hóa cũ trong khi giỏ hàng hóa dùng để tính CPI là giỏ
hàng hóa cố định. Do đó, chỉ số giá tiêu dùng có thể phóng đại tỷ lệ lạm phát so với
thực tế do khơng tính tới hàng hóa mới thay thế hàng hóa cũ.
9
Để xác định tỷ lệ lạm phát thông qua chỉ số CPI, trước tiên người ta sẽ chọn ra
một giỏ hàng hóa mang tính chất điển hình, có thể đại diện cho toàn bộ hàng tiêu dùng
và lấy trọng số theo số lượng của từng mặt hàng mà người tiêu dùng mua, rồi xác định
giá cả từng loại hàng hóa dịch vụ tại một thời điểm cụ thể. Sau đó tính tốn tổng chi
phí của giỏ hàng hóa dịch vụ điển hình đó tại các thời điểm. Chỉ định một năm gốc
hay năm cơ sở để so sánh với các năm khác:
Chỉ số giảm phát GDP (GDP deflator):
Chỉ số giảm phát GDP còn gọi là chỉ số điều chỉnh GDP thường được ký hiệu là
DGDP, là chỉ số tính theo phần trăm phản ánh mức giá chung của tất cả các loại hàng
hoá, dịch vụ sản xuất trong lãnh thổ một quốc gia. Chỉ số giảm phát GDP cho biết một
đơn vị GDP điển hình của kỳ nghiên cứu có mức giá bằng bao nhiêu phần trăm so với
mức giá của năm cơ sở. DGDP phản ánh sự biến động về giá của giá của tất cả các
thành phần của GDP (tiêu dùng, đầu tư, mua sắm của chính phủ và xuất khẩu ròng).
Ưu điểm của chỉ số giảm phát GDP là có sự thay đổi trong giỏ hàng hóa khi mà các
thành phần GDP thay đổi do đó chỉ số này làm giảm bớt xu hướng gia tăng của lạm
phát ngược với chỉ số CPI có xu hướng phóng đại lạm phát.
nhiên, khi lạm phát tăng cao và khơng dự đốn được, cơ cấu nền kinh tế dễ bị mất cân
đối vì khi đó các nhà kinh doanh thường hướng đầu tư vào những khu vực hàng hóa
có giá cả tăng lên cao, những ngành sản suất có chu kỳ ngắn, thời gian thu hồi vốn
nhanh, hạn chế đầu tư vào những ngành sản suất có chu kỳ dài, thời gian thu hồi vốn
chậm vì có nguy cơ gặp phải nhiều rủi ro.
Giữa lạm phát và thất nghiệp có mối quan hệ nghịch biến: khi lạm phát tăng lên
thì thất nghiệp giảm xuống và ngược lại khi thất nghiệp giảm xuống thì lạm phát tăng
lên. Nhà linh tế học A.W. Phillips đã đưa ra “Lý thuyết đánh đổi giữa lạm phát và việc
làm”, theo đó một nước có thể mua một mức độ thất nghiệp tháp hơn nếu sẵn sàng trả
giá bằng một tỷ lệ lạm phát cao hơn.
Các ảnh hưởng khác: Khi lạm phát gia tăng sẽ dẫn đến làm mất giá trị đồng
nội tệ từ đó khiến tỷ giá hối đối tăng. Điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi kích thích
hoạt động xuất khẩu của nước đó, tuy nhiên nó lại có tác động tiêu cực đến hoạt động
nhập khẩu. Ngoài ra, nếu để xảy ra tình trạng lạm phát phi mã và siêu lạm phát sẽ
khiến chi hoạt động tín dụng rơi vào tình trạng khủng hoảng ddo lãi suất tăng quá cao.
Giá trị đồng tiền bị sụt giảm nhanh chóng, nhiều ngân hàng bị phá sản vì mất thanh
khoản. Bên cạnh đó, lạm phát gây thiệt hại cho ngân sách nhà nước bằng việc bào
11
mịn giá trị thực của những khoản cơng phí. Đồng thời, sản xuất bị suy thoái do lạm
phát cao kéo dài và khơng dự đốn trước được làm cho nguồn thu ngân sách nhà nước
bị suy giảm. Ngoài ra, lạm phát sẽ làm cho mức thu thuế nhà nước gia tăng trong một
số trường hợp nhất định. Nếu áp dụng thuế suất lũy tiến thì tỷ lệ lạm phát cao hơn sẽ
khiến giá trị tuyệt đối thu nhập của người dân tăng cao và làm gia tăng mức đóng thuế
của họ theo thuế suất lũy tiến, do đó chính phủ có thể thu được nhiều thuế hơn mà
khơng cần sửa đổi luật thuế. Trong thời kỳ lạm phát, thu nhập thực tế của người lao
động nói chung có thể vững hoặc tăng lên, hoặc giảm đi chứ không phải bao giờ cũng
suy giảm do giá cả hàng hóa – dịch vụ tăng lên một cách vững chắc, bên cạnh đó tiền
gian do liên tục tăng chỉ tiêu công cao. Tăng chi NSNN để kích cầu tiêu dùng, kích
thích đầu tư và tăng đầu tư phát triển sẽ đưa đến tăng trưởng cao. Đồng thời, nếu tăng
chi quá mức cho phép của nền kinh tế, dẫn đến thâm hụt NSNN quá cao. Khi ngân
sách bị bội chi có thể được bù đắp bằng phát hành tiền hoặc vay nợ đều gây nên nguy
cơ lạm phát tăng do làm tăng lượng tiền lưu thông trong nền kinh tế.
Thứ nhất, việc phát hành tiền trực tiếp làm tăng cung tiền tệ trên thị trường sẽ
gây lạm phát cao, đặc biệt khi việc tài trợ thâm hụt lớn và diễn ra liên tục thì nền kinh
tế phải trải qua lạm phát cao và kéo dài. Người ta gọi trường hợp khi chính phủ tài trợ
thâm hụt ngân sách bằng cách tăng cung tiền là hiện tượng chính phủ đang thu "thuế
lạm phát" từ những người đang nắm giữ tiền.
Thứ hai, khi chính phủ tăng chi tiêu công quá nhiều dẫn đến thâm hụt ngân sách
thì cần phải bù đắp thâm hụt ngân sách bằng nguồn vay nợ trong nước hoặc nước
ngoài, khoản vay nợ trong nước thông qua phát hành trái phiếu ra thị trường vốn, nếu
việc phát hành diễn ra liên tục thì lãi suất thị trường tăng vì làm tăng lượng cầu quỹ
cho vay. Để giảm lãi suất, Ngân hàng Trung ương phải can thiệp bằng cách mua các
trái phiếu đó, dẫn đến làm tăng lượng tiền tệ gây lạm phát. Hay vay nợ nước ngoài để
bù đắp bội chi ngân sách bằng ngoại tệ, lượng ngoại tệ phải đổi ra nội tệ để chi tiêu
bằng cách bán cho Ngân hàng Trung ương, điều này làm tăng lượng tiền nội tệ trên thị
trường tạo áp lực lên lạm phát.
Những nghiên cứu thực nghiệm cũng cung cấp bằng chứng mạnh mẽ về sự tác
động của chi tiêu công đến lạm phát. Theo Basu (2001), việc chính phủ chi tiêu càng
nhiều, đặc biệt là trong chi đầu tư sẽ có tác động làm gia tăng tỷ lệ lạm phát tương
ứng. Hơn nữa, theo Roubini và Sachs (1989), thâm hụt ngân sách và chi tiêu của chính
phủ có sự tương quan cao. Do đó, có những lý do chính đáng để phỏng đốn rằng
những thay đổi trong chi tiêu chính phủ, cũng giống như thâm hụt ngân sách, có thể có
tác động đáng kể đến lạm phát theo hướng tích cực. Bên cạnh đó, nghiên cứu của
13
Mức cung tiền
(M2)
Lạm phát
Giá hàng nhập
khẩu
Hình 2.4. Các kênh tác động từ tỷ giá hối đoái đến lạm phát
Qua sơ đồ, tỷ giá tác động gián tiếp đến lạm phát chủ yếu thông qua các con đường
như xuất khẩu rịng, cán cân thanh tốn, giá hàng hóa nhập khẩu và đây đều là các mối
quan hệ đồng biến. Tuy nhiên, việc tác động của tỷ giá đến lạm phát thông qua cán
cân thương mại và cán cân thanh tốn quốc tế thì tn theo ngun tắc quốc tế, nhưng
14
riêng với giá hàng nhập khẩu thì chỉ có những quốc gia có tỷ trọng nhập khẩu cao so
với GDP mới có tác dụng rõ rệt. Những tác động của tỷ giá đến lạm phát thông qua
các kênh cụ thể như sau:
- Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua xuất nhập khẩu ròng: xuất khẩu ròng tăng
lên khi đồng nội tệ giảm giá so với đồng tiền nước ngồi, qua đó, cán cân thương mại
có thể được cải thiện; khi xuất khẩu ròng là một thành phần của tổng cầu AD tãng lên,
đường AD dịch chuyển lên trên (trong mơ hình AD - AS), tác động làm lạm phát gia
tăng.
- Tác động của tỷ giá tới lạm phát qua cán cân thanh toán:
Trong trường hợp tỷ giá tăng, khi đó sẽ khiến xuất nhập khẩu ròng tăng lên, giúp
cán cân thương mại được cải thiện. Tiếp đến, việc tăng xuất nhập khẩu ròng sẽ làm
dịch chuyển đường IS về bên phải (theo mơ hình IS - LM) khiến lãi suất thị trường
trong nước tăng lên. Điều này sẽ làm nguồn vốn đầu tư (đầu tư trực tiếp và gián tiếp)
chảy vào trong nước tăng trong ngắn hạn làm cán cân vốn tăng lên. Tất cả những việc
trưởng kinh tế thường có mối quan hệ cùng chiều. Chính phủ các nước muốn có tốc
độ tăng trưởng cao đồng nghĩa với việc đánh đổi tỷ lệ lạm phát cao trong nền kinh tế.
Mặt khác, mối quan hệ đồng biến này sẽ thay đổi trong giai đoạn lạm phát tăng cao trở
thành lạm phát phi mã và siêu lạm phát. Lúc này lạm phát và tăng trưởng kinh tế sẽ có
mối quan hệ ngược chiều. Ngồi ra, khi tăng trưởng của một nước đã đạt đến mức
tiềm năng thì lạm phát khơng tác động đến tăng trưởng nữa mà lạm phát là hậu quả
của việc cung tiền quá mức vào nền kinh tế.
Tuy nhiên một số nhà kinh tế lại cho rằng giữa tăng trưởng và lạm phát có mối
quan hệ đồng biến trong cả dài hạn và ngắn hạn. Mối quan hệ này là mối quan hệ hai
chiều, trong đó sự thay đổi của tăng trưởng nhanh hơn sự thay đổi của lạm phát. Hơn
nữa, tác động của lạm phát đến tăng trưởng là nhiều hơn.
2.3.4. Cung tiền
Friedman (1956) đã đưa ra lập luận cho rằng lượng cung tiền trong nền kinh tế
quyết định giá cả hàng hóa, hay nói cách khác trong dài hạn, việc tăng lượng cung tiền
sẽ làm mức giá chung của nền kinh tế tăng lên và sẽ khơng có hoặc có tác động rất ít
đến mức sản lượng của nền kinh tế một quốc gia. Trên cơ sở lập luận đó, Friedman đã
đề xuất rằng nếu ngân hàng trung ương có thể điều tiết được sự gia tăng của lượng
cung tiền tệ tương ứng với tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế thì sẽ khơng gây ra tình
trạng lạm phát. Tuy nhiên trong thực tế, ngân hàng trung ương phải gia tăng cung tiền
vì nhiều lý do khác nhau, trong đó có lý do chi tiêu cơng q mức dẫn đến làm thâm
hụt NSNN chứ hiếm khi có thể điều tiết tốc độ tăng của cung tiền tương ứng với tốc
độ tăng trưởng kinh tế như lập luận của Friedman. Chính vì vậy, tác động của cung
16
tiền và chi tiêu cơng đến lạm phát có sự tương đồng nhất định với nhau, tuy nhiên sự
gia tăng của cung tiền còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác chứ khơng chỉ liên quan
đến chi tiêu cơng.
Phương trình sau thể hiện lý thuyết về mối quan hệ giữa cung tiền và lạm phát của