NGHIÊN CỨU PHÂN TÍCH TÌNH HÌNH LƯU THÔNG PHÂN BÓN
VÔ CƠ CỦA VIỆT NAM HIỆN NAY
1-/ TỔ CHỨC LƯU THÔNG PHÂN BÓN VÔ CƠ Ở VIỆT NAM-CÁC
GIAI ĐOẠN PHÁT TRIỂN
1.1-/ Tổ chức lưu thông phân bón vô cơ thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch
hoá tập trung
1.1.1. Lưu thông phân bón vô cơ- một bộ phân của hệ thống cung ứng vật
tư kỹ thuật của nền kinh tế quốc dân
Thời kỳ thực hiện cơ chế kế hoạch tập trung ở Việt Nam có thể tính từ năm
1988 trở về trước. Đặc trưng cơ bản của cơ chế này là những vấn đề kinh tế trung
tâm của sản xuất: sản xuất mặt hàng gì, số lượng bao nhiêu, cách thức sản xuất và
sản xuất với giá cả nào, bán cho ai đều do nhà nước chỉ định. Do đó các chính sách
về lưu thông nói chung dược khái quát cô đọng là: thời kỳ độc quyền. Giai đoạn
này được đặc trưng bởi sự tập trung cao độ trong cung ứn vật tư- kỹ thuật. Việc
cung ứng vật tư kỹ thuật được tổ chức theo nguyên tắc ngành. Có nghĩa là:
- Các cơ quan cung ứng và cơ sở vật tư kỹ thụât gắn liền với từng Bộ từng
ngành.
- Việc phân phối sản phẩm có công dụng sản suất-kỹ thuật do các Bộ sản
xuất ra tiến hành
- Việc cung ứng vật tư- kỹ thuật, tức là loĩnh vực lưu thông của các tư liệu
dản xuất, tồn tại chỉ như là quá trình vật chất chứ không phải là lĩnh vực hoạt động
- Chức năng phối hợp liên ngành do uỷ ban kế hoạch nhà nước đảm nhận.
Ưu điểm cơ bản và duy nhất của hệ thống này là khả năng phối hợp chính
xác giữa kế hoạch sản xuất với kế hoạch tiêu thụ, tức là giữa cung ứng sản phẩm ở
cùng một cấp, tập trung ở một Bộ. Tuy nhiên nhược điểm của hệ thống này là : Do
mỗi bộ đều có cơ quan cung ứng riêng của mình, cho nên trên phạm vi cả nước xảy
ra tình trạng vận chuyển ngược chiều nhau, trùng lặp rất nhiều- các bộ đều vận
chuyển vật tư đến các cơ sở của mình trên khắp đất nước, và ngược lại.
Thời kỳ này, sản xuất nông nghiệp được tổ chức dưới hai hình thức: Hợp tác
xã sản xất nông nghiệp (thuộc sở hữu tập thể của nông dân); Nông trường quốc
doanh (thuộc sở hữu Nhà nước). Tuy có hai hình thức sở hữu và hai hình thức tổ
lúc sản xuất nông nghiệp cần phân thì không có phân, lúc không cần thì phân lại
về. Phân bón ở Việt Nam được nhập theo Nghị định thư và chủ yếu là của Liên Xô,
với giá thấp hơn giá thị trường Quốc tế. Trong khi đó, nền kinh tế Việt Nam ở thời
kỳ này đang gặp khủng hoảng nặng, kinh tế không phát triển, giá trị đồng tiền Việt
Nam liên tục giảm. Trước tình hình này. Chính phủ chỉ đạo không bán phân bón
bình thường mà áp dụng cơ chế bán đối lưu, gọi là bán theo hợp đồng kinh tế hai
chiều. Điều này có nghĩa là, Nhà nước bán phân bón cho nông dân theo số lượng
tương ứng với số lượng hàng nông sản mà nông dân bán cho Nhà nước (về mặt giá
trị), ở đây lấy tỷ lệ giữa urê và lúa làm tiêu chuẩn. Cơ chế bán phân bón theo hợp
đồng kinh tế hai chiều được chấp nhận là cơ chế có hiệu quả phù hợp với giai đoạn
kế hoạch tập trung bao cấp, vì để đáp ứng các nhu cầu tiêu dùng cho các đối tượng.
Nhà nước cần thiết phải nắm được hàng hoá nông sản trong tay nhằm kìm hãm bớt
sự mất giá đồng tiền trong nước. Nhà nước đã tổ chức ra một bộ máy thống nhất từ
Trung ương đến tận các huyện về quản lý và cung ứng các loại vật tư nông nghiệp
nói chung, phân bón nói riêng cho các hợp tác sản xuất và nông trường quốc doanh
- đó là hệ thống các Công ty vật tư nông nghiệp. Tất nhiên, cũng có một số Công ty
như Công ty chè, cà phê, cao su được phép nhận phân bón trực tiếp từ Trung ương,
không phải thông qua hệ thống Công ty vật tư nông nghiệp các cấp (số này không
nhiều, chỉ chiếm khoảng 10% trong tổng số phân bón được nhập về).Số 90% phân
bón còn lại Nhà nước trực tiếp giao cho Tổng Công ty vật tư nông nghiệp Việt
Nam tiếp nhận và phân phối cho các địa phương (tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương) qua các Công ty vật tư nông nghiệp tỉnh, thành phố, theo chỉ tiêu (từng tỉnh)
đã được Bộ nông nghiệp thoả thuận với Uỷ ban kế hoạch nhà nước và đã được ghi
vào chỉ tiêu kế hoạch của Chính phủ để giao cho các Bộ, các tỉnh và thành phố.
Sau khi nhận được phân bón do Tổng Công ty vật tư nông nghiệp theo chỉ tiêu kế
hoạch - Công ty vật tư nông nghiệp các tỉnh tiến hành phân phối cho các Công ty
vật tư nông nghiệp theo chỉ tiêu Uỷ ban nhân dân tỉnh đã duyệt và uỷ ban kế hoạch
tỉnh đã giao xuống từng huyện trọng tỉnh. Công ty vật tư nông nghiệp huyện (nơi
nào không có Công ty thì phòng nông nghiệp huyện đảm nhận), thực hiện việc
phân phối phân bón xuống cho các xã và các hợp tác xã sản xuất nông nghiệp theo
nước như là chủ thể sản sản xuất lại như vừa là chủ thể của kinh doanh, “nhà nước mua,
nhà nước bán, lãi Nhà nước thu, lỗ Nhà nước chịu bù”. Trong đó từ năm 1981 về
trước Nhà nước bán vật tư cho nông dân và thu lại bằng tiền. Các công ty cung ứng
phân bón của nhà nước được tổ chức thành một hệ thống với nhiều tầng nấc, cấp
nọ phải bán cho cấp kia theo chỉ tiêu kế hoạch pháp lệnh bắt buộc. Thực chất là
độc quyền cung ứng phân bón; thực hiện một chế độ nghiêm ngặt về cung ứng
phân bón cho người tiêu dùng theo định lượng, định xuất thông qua chế độ tem
phiếu. Tuy nhiên nhìn chung trong thời kỳ này, quan hệ trao đổi được hình thành
theo hướng có lợi cho người sản xuất, Nhà nước chủ trương khuyến khích người
nông dân sử dụng phân bón để nâng cao năng suất và sản lượng cây trồng, Nhà
nước không thực hiện việc tích luỹ trong khâu kinh doanh phân bón.Tỷ giá trao đổi
giữa phân bón và lúa trong giai đoạn này là :
Giá thu mua Giá bán urê Tỷ lệ
Thóc trong HĐ Trong HĐ Thóc/urê
- Đợt điều chỉnh
giá tháng 10/85 :
+ ĐB Bắc bộ 2,5 đ/kg 5,6 đ/kg 2,24
+ ĐB Nam bộ 1,75 đ/kg 5,0 đ/kg 2,85
- Đợt điều chỉnh
giá tháng 10/87:
+ ĐB Bắc bộ 31 đ/kg 62,5 đ/kg 2,0
+ ĐB Nam bộ 25 đ/kg 62,5 đ/kg 2,5
Với chủ trương thống nhất quản lý phân bón, vì thế các trạm kiểm soát mang
tính “ngăn sông cấm chợ” mọc lên như nấm ở khắp nơi, thị trường bị chia cắt theo
ranh giới hành chính; những người kinh doanh, buôn bán phân bón ngoài quốc
doanh bị coi là vi phạm pháp luật và có thể bị xử phạt cả hành chính và kinh tế. Từ
năm 1982 đến 1989 Nhà nước cung ứng vật tư cho nông dân để thu lại nông sản,
gọi là “đối lưu nông sản”. Tỷ lệ trao đổi được quy định tuỳ theo loại vật tư và theo
thời kỳ khác nhau: 1 kg Urea năm 1982-1984 tương ứng với 3 kg lúa, 1 kg phân
lân suppe quy định đổi 0,5-1 kg thóc, 1 kg kali đổi 0,3 kg thóc.
1985), vụ mùa 86 bị cơn bão số 5 gây thiệt hại nặng nền. Vụ chiêm xuân 87 do thời
tiết nóng ấm, sâu bệnh nhiều làm giảm năng suất, sản lượng.
c. Dùng vật tư vào mục đích khác:
Dùng vật tư vào mục đích khác xảy ra phổ biến ở các địa phương. Tình Hà
Sơn Bình (cũ) năm 1986 nhận 38.952 tấn phân đạm tiêu chuẩn của Nhà nước để
thu mua nông sản nhưng đến tỉnh, tỉnh đã giữ lại 3.499 tấn (8.9%); về đến huyện
huyện giữ lại 3.740 tấn (10%) (Báo cáo của đoàn thanh tra vật tư).
d. Tỷ lệ trao đổi có loại, có lúc không phù hợp:
Nhà nước quy định 1kg kali đổi 1,2 kg thóc nhưng nông dân nhiều nơi đề
nghị 0,3-0,4 kg thóc, có nơi đề nghị không thu thóc (chỉ bán thu tiền). Một kg supe
lân quy định đổi 1kg thóc: ở miền Nam nông dân chấp nhận nhưng ở miền Bắc
nông dân đề nghị 0,4-0,5 kg thóc; một số địa phương đề nghị không thu thóc.
e. Tổn thất do hao hụt:
Tổn thất do hao hụt xẩy ra rất lớn. Tổng kết của Uỷ ban khoa học kỹ thuật Nhà
nước về hao hụt phân đạm từ 1984-1986 cho loại phân urea rời như sau:
- Sang mạn tại vùng neo hao 3,4%.
- Vận chuyển đường thuỷ với cự li trên 50 km hao 7,0%.
- Bốc xếp, vận chuyển bằng ô tô với cự li trên 50 km hao 1,9%.
- Bảo quản, bốc xếp tại kho từ 10-25 ngày hao 0,4%.
- Đóng gói hao 2%.
Chỉ riêng 5 công đoạn trên đã hao 14,7%; chưa kể hao hụt trong khâu bảo quản
tại kho hợp tác xã và các khâu khác cho đến khi vật tư đến tay nông dân.
g. Gây căng thẳng về thiếu vật tư, điều hành của Nhà nước trở nên bận rộn:
Do giá vật tư quy định của Nhà nước thấp nên vật tư bị lợi dụng mua đi bán
lại để kiếm chênh lệch. Cũng do giá thấp nên địa phương và các ngành không dám
nhập vật tư ngoài kế hoạch vì nhập theo giá thị trường thế giới, bán theo giá quy
định của Nhà nước, sẽ lỗ vốn lớn. Vật tư lúc nào cũng ở trong tình trạng thiếu
nghiêm trọng, nhiều lúc gây thành “cơn sốt” giá.
Các cuộc họp để xử lý vật tư thiếu thường xuyên diễn ra ở các cấp, các
ngành, từ các cơ quan điều hành cao nhất của Chính phủ như Văn phòng Chính
thường cũng khi thời vụ hoặc ở thời điểm giá cả tăng cao, bảo đảm để nông dân
mua được đạm ure xoay quanh định hướng 1 ure tương đương 2 lúa mà nông dân
đồng bằng Sông Cửu Long và khoảng 1,5 lúa ở đồng bằng sông Hồng đã chấp
nhận.
Bước sang năm 1994, 1995 và đặc biệt là từ năm 1997 với Quyết định
140/TTg(07/3/1997) và quyết định 141/TTg của Thủ tướng Chính phủ đã đánh dấu
một bước đổi mới quan trọng về cơ chế quản lý của nhà nước đối với lĩnh vực lưu
thông, nhập khẩu phân bón. Với việc chỉ định các đầu mối nhập khẩu phân bón,
tuy nhiên các đầu mối nhập khẩu được sàng lọc, giảm bớt số lượng, coi trọng tiêu
chuẩn chất lượng và năng lực thực sự về tài chính, tiếp thị. Đã tạo điều kiện cho
các đơn vị kinh doanh phân bón chủ động giao dịch, ký kết hợp đồng Nhập khẩu
và cung ứng kinh doanh phân bón trên thị trường. Bên cạnh việc quản Nhập khẩu
phân bón vô cơ bằng đầu mối và hạn ngạch (Quyết định 336/CP ngày 06/4/1999
xác định hạn ngạch chỉ là định hướng), Nhà nước còn sử dụng các biện pháp hạn
chế nhập mạnh như tăng thuế suất, áp dụng chế độ phụ thu, cấm các đơn vị không
có đủ các điều kiện về tài chính, mạng lưới cung ứng nhập khẩu phân bón....Đây
chính là các biện pháp nhằm khắc phục tình trạng lãi nhập lỗ bỏ của các đơn vị
kinh doanh cung ứng phân bón vô cơ trên thị trường.
1.2.2. Hệ thống các cơ quan quản lý của Nhà nước trong lĩnh vực lưu
thông phân bón vô cơ
Như trên đã phân tích, trong tổng khối lượng nhiều triệu tấn phân hoá học
tiêu dùng hàng năm thì sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng được khoảng 65%
nhu cầu về lân, chưa tới 10% nhu cầu về đạm, còn nhiều loại khác thì trong nước
vẫn chưa sản xuất được. Do vậy hàng năm nước ta vẫn phải bỏ ra hàng triệu USD
để nhập khẩu phân bón. Từ nhiều năm nay nhà nước đã áp dụng nhiều biện pháp
quản lý khác nhau, quản lý nhập khẩu bằng hạn ngạch, chỉ định các đơn vị đầu mối
được kinh doanh nhập khẩu; hỗ trợ giá cước vận chuyển phân bón Bắc-Nam lên
Miền núi, cho vay vốn sản xuất, dự trữ thời vụ phân bón với lãi suất ưu đãi... .Tuy
nhiên, những năm gần đây, hệ thống cung ứng phân bón phải đối mặt với những
thử thách to lớn và trải qua mấy nấc thăng trầm tương ứng với những phương sách
nghiệp được chỉ định nhập khẩu phân bón vay trả chậm nước ngoài và được lấy giá
trị hàng hoá phân bón nhập khẩu làm bảo đảm và ký quỹ với mức thấp nhất theo
quy định của Ngân hàng nhà nước Việt nam. Đối với một số doanh nghiệp được
giao nhập khẩu số lượng phân bón lớn để điều hoà cung cầu, bình ổn giá trong
nước, ngoài quy định chung, Ngân hàng cho vay và bảo lãnh theo số lượng phân
bón nhập cụ thể của từng doanh nghiệp để các doanh nghiệp thực hiện được chỉ
tiêu đã giao. Trường hợp có khó khăn về vốn, Bộ kế hoạch đẩu tư, Bộ Tài chính
cân đối trình Thủ tướng chính phủ cho phép sử dụng từ nguồn quỹ dự trữ ngoại tập
trung của Nhà nước để cho vay nhập phân bón.
*Ban vật giá Chính phủ, tuỳ từng trường hợp là cơ quan xác định mức trọ
giá cho từng mặt hàng, từng địa phương, xác định mức giá bán tối đa “giá trần”
cho từng mặt hàng.
*Tổng công ty Vật tư nông nghiệp chịu trách nhiệm: ngoài việc thực hiện
đầy đủ trách nhiệm như các doanh nghiệp khác còn phải từng bước tổ chức lại
mạng lưới bán buôn, đại lý bán phân bón trực tiếp đến nông dân, quản lý chặt chẽ
quỹ dự trữ lưu thông tư liệu sản xuất phân bón được nhà nước giao, chịu trách
nhiệm đảm bảo dự trữ lưu thông tư liệu sản xuất bằng ngoại tệ và bằng hiện vật
cho 3 miền Bắc, Trung, Nam, theo quy định; khi xảy ra đột biến giá và mất cân đối
quan hệ Cung- cầu phải kịp thời đưa lực lượng dự trữ lưu thông tư liệu sản xuất
can thiệp thị trường theo chỉ đạo của Bộ nông nghiệp và phát triển nông thôn và Bộ
Thương mại nhằm ổn định Cung- cầu và giá phân bón trong cả nước.
*Đối với các loại phân hoá học là nguyên liệu sản xuất phân bón tổng hợp,
Bộ Thương mại thống nhất với Bộ nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ công
nghiệp, cho phép một số doanh nghiệp bảo đảm nhập đủ nguồn nguyên liệu cung
ứng cho các cơ sở sản xuất phân bón trong nước đã được Bộ công nghiệp cấp giấy
phép sản xuất và Bộ khoa học công nghệ và môi trường cấp giấy chứng nhận chất
lượng hàng hoá. Bộ công nghiệp rà soát, chấn chỉnh lại các doanh nghiệp sản xuất
phân bón tổng hợp, nhằm mục đích bảo đảm chất lượng hàng hoá và cân đối Cung-
cầu về phân bón tổng hợp.
*Ban chỉ đạo để điều hành hoạt động xuất khẩu gạo và nhập khẩu phân bón
MỚICƠ CHẾ KINH TẾ.
NƯỚC B N PH N HO HÁ Â Á ỌC TRÊN THẾ GIỚI
C C Á ĐẦU MỐI NHẬP KHẨU
BỘ NÔNG NGHIỆP V PH T TRIÀ Á ỂN NÔNG THÔN
CÁC TỔ CHỨC TRUNG GIAN CUNG ỨNG PHÂN
Cửa h ng đà ại lý bán lẻ
NÔNG D NÂ
1.2.4. Các chính sách và công cụ quản lý, điều tiết lưu thông phân bón vô
cơ của Nhà nước (1990-1999)
1.2.4.1 Phân phối, giá cả, kế hoạch hoá
Từ năm 1990 đến nay, đã có những thay đổi cơ bản và chính điều này đã tạo
nên một bước ngoặt mới trong hoạt động lưu thông phân bón vô cơ. Sự thay đổi
này biểu hiện trên các mặt sau:
- Điều hành giá bán hợp lý hơn: Trước kia giá bán do Nhà nước quy định và
thường là rất thấp so với giá thị trường tự do, thì nay:
+ Phân bón nhập từ các nước xã hội chủ nghĩa được bán theo giá không
bị lỗ.
+ Phân bón nhập từ các nước khác được phép bán với giá nông dân chấp
nhận được.
- Bỏ việc dùng phân bón để trao đổi nông sản và thay vào đó là bán thu bằng
tiền.
- Cải tiến cách giao kế hoạch: chỉ tiêu kế hoạch nhập khẩu, cung ứng chỉ có
tính chất hướng dẫn, không phải là kế hoạch pháp lệnh như trước.
Đó là 3 vấn đề có tính chất quyết định đến tổ chức lưu thông phân bón. Có
thể nói rằng năm 1990 là năm bắt đầu có bước ngoặt trong cơ chế quản lý vụ phân
bón.
1.2.4.2./ Các chính sách khác:
1.2.4.2 1 Trợ giá phân bón vô cơ
Chủ trương: trước kia khi phân bón vô cơ được cung ứng theo kế hoạch, giá
bán được thống nhất trong cả nước. Từ năm 1989-1990 phân bón vô cơ được bán
Việc trợ cước các năm này chủ yếu chỉ cho 15 tỉnh miền núi trong đó có 11
tỉnh miền núi phía Bắc và 4 tỉnh Tây Nguyên. Chi phí trợ cước được giao cho
ngành hàng (Tổng công ty Vật tư nông nghiệp hoặc Tổng công ty phân bón và hoá
chất cơ bản).
d. Ngày 15-4-1994 Thủ tướng Chính phủ đã có văn bản số 1960/KTTH về
một số chính sách đối với việc đưa hàng hoá lên miền núi phục vụ đồng bào các
dân tộc trong đó ghi rõ:
- “Nhà nước thực hiện trợ giá và trợ cước vận chuyển đối với 7 mặt hàng:
muối i ốt, thuốc chữa bệnh, dầu hảo thắp sáng, giấy viết học sinh, vải mặc phục vụ
đồng bào dân tộc và phân bón, thuốc trừ sâu”.
- Cự ly trợ cước được áp dụng như sau: Đối với vải mặc phục vụ đồng bào
dân tộc và phân bón, thuốc trừ sâu tính từ kho giao hàng của các doanh nghiệp
thuộc trung ương quản lý đến trung tâm các huyện.
- Từ nay kinh phí trợ cước từng mặt hàng được cấp trực tiếp cho Uỷ ban
nhân dân các tỉnh theo chế độ “kinh phí uỷ quyền” (trừ muối iốt, việc trợ giá thông
qua chương trình quốc gia về chống bướu cổ do Bộ Y tế chủ trì).
- Giao cho Uỷ ban dân tộc và miền núi chủ trì cùng các ngành liên quan thực
hiện.
Đây là chủ trương toàn diện về trợ cước (kể cả cho không) nhiều mặt hàng
cho đồng bào miền núi.
e. Ngày 17-5-1994, Uỷ ban dân tộc và miền núi có văn bản số 290/UB-TH
về việc thực hiện đưa hàng lên miền núi theo Quyết định trên của Thủ tướng Chính
phủ.
+ Uỷ ban dân tộc và miền núi là cơ quan phối hợp chung, chịu trách nhiệm
về việc tổ chức thực hiện, xác định vùng cao, miền núi, dân số, cự li, để làm căn cứ
tính toán.
+ Uỷ ban kế hoạch Nhà nước cân đối, xác định lượng hàng hoá đưa lên miền
núi.
+ Ban vật giá Chính phủ xác định mức trợ giá cho từng mặt hàng, từng địa
phương, xác định mức giá bán tối đa “giá trần” cho từng mặt hàng.
Nguyên.
Kinh phí:
+ Năm 1994 đã trợ cước kế hoạch khoảng 60 tỷ đồng, trong đó:
- Trợ cước 200 nghìn tấn phân bón cho các tỉnh miền núi khoảng 30 tỷ
đồng.
- Trợ cước vận chuyển 300 nghìn tấn phân lân đi vào Nam khoảng 29,2
tỷ đồng.
+ Năm 1995 trợ cước cho 500 nghìn tấn với tổng kinh phí khoảng 79 tỷ
đồng, trong đó:
- Trợ cước 232.000 tấn phân bón cho các tỉnh miền núi khoảng 49 tỷ đồng
(bình quân khoảng 211 đồng/kg).
- Trợ cước vận chuyển 282.000 tấn phân lân đi vào Nam khoảng 29,5 tỷ
đồng.
Tổng số có 39 tỉnh được trợ cước với diện tích canh tác 3,2 triệu ha. Chính
sách trợ cước đã có tác dụng tốt, khuyến khích đồng bào các dân tộc miền núi
trong sản xuất nông nghiệp.
Tuy vậy việc thực hiện trong 2 năm 1994-1995 có những tồn tại sau:
- Định mức phân bón sử dụng: hiện nay chỉ tính bình quân khoảng 72-100 kg
phân bón các loại cho một ha gieo trồng và cây lâu năm. Với cách tính này thì các tỉnh
có các cây trồng yêu cầu thâm canh cao như cao su, chè, cà phê sẽ không đủ phân bón.
Các tỉnh khác có mức độ thâm canh thấp thì tạm đủ.
Do vậy các tỉnh ở Tây Nguyên thường có nhu cầu rất lớn, chỉ đáp ứng được
40% nhu cầu.
Về cấp kinh phí: Tuy chủ trương của Nhà nước cấp theo “kinh phí uỷ
quyền” nhưng theo cách cân đối ngân sách hiện nay trên địa bàn tỉnh nên nhiều địa
phương vì không thu đủ nên đã không chỉ đủ theo yêu cầu kế hoạch cho trợ cước.
Do vậy đề nghị Nhà nước nên bán giá vật tư bình thường còn phần kinh phí
này nên trợ cấp cho vùng khó khăn.
1.2.4.2 2 Vấn đề dự trữ
Năm 1991, Chính phủ đã quyết định cho dự trự 7 vạn tấn urêa. Năm 1994
518.200ha. Trong số này cây công nghiệp lâu năm tăng 402.900ha (chủ yếu là do
khai hoang trồng mới) và cây ăn quả tăng 63.000 ha (chủ yếu là do cải tạo các
vườn tạp mà có).
Giả thiết rằng, các điều kiện khác không có gì thay đổi thì chính việc tăng
diện tích gieo trồng đã làm cho nhu cầu phân vô cơ tăng lên, 1ha một năm cần
khoảng 200 kg các loại phân vô cơ. Riêng việc tăng diện tích mỗi năm cũng làm
cho nhu cầu phân bón vô cơ tăng thêm 55.228 tấn.
Thứ hai, phụ thuộc vào loại cây trồng.
Tập đoàn cây trồng của Việt Nam hết sức phong phú đa dạng: có cây lương
thực, cây công nghiệp, cây rau đậu, cây ăn quả, cây dược liệu, cây thức ăn cho gia
súc. Song trong từng loại cây có hàng chục, hàng trăm loại cây cụ thể. Ví dụ, riêng
cây lương thực ở Việt Nam đã có các loại: lúa , ngô, khoai, sắn, đỗ ..(trừ đỗ tương),
đồng thời cũng có thể tính cả cây khoai tây nữa.
Trong tập đoàn cây trồng đó, không phải cây nào người nông dân Việt Nam
cũng dùng phân bón vô cơ để bón trong quá trình sản xuất. Thực tiễn sự phát triển
của nền nông nghiệp Việt Nam mấy chục năm vừa qua đã cho thấy, phân bón vô cơ
hầu như 80% là dùng bón cho cây lúa, các loại cây trồng khác, chỉ bón có 20% mà
thôi (các cây này chủ yếu là caphê, chè, mía, rau, hoa). Các loại cây còn lại người
ta thường dùng phân xanh, phân chuồng, phân rác.Tất nhiên, như thế không có
nghĩa là các loại cây trồng khác không cần dùng phân vô cơ, rất cần song vì khả
năng có hạn, nên trước hết người ta phải ưu tiên cho các loại cây trồng giữ vai trò
chủ yếu (bảo đảm an ninh lương thực Quốc gia, tạo ra hàng hoá lớn phục vụ cho
xuất khẩu ...).
Bởi vậy, khi khả năng đầu tư của người nông dân ngày một tăng thì các loại
cấy trồng được bón phân vô cơ cũng sẽ được mở rộng thêm và như vậy nhu cầu
phân vô cơ sẽ tăng.
Thứ ba, phụ thuộc vào thu nhập của người nông dân
Về mặt lý thuyết thì dường như người nông dân nào của Việt Nam cũng hiểu
được rằng, muốn nâng cao năng suất cây trồng phải có sự đầu tư thoả đáng, đặc
biệt là đầu tư phân bón. Song với một đất nước 80% dân số sống ở nông thôn, trên
Duyên hải miền trung 801,7 802 835,8 849,6 867,1 862,8 875
Tây nguyên 457,6 464,7 473,6 500,1 524 533,8 631
Đông nam bộ 838,3 850,9 881,8 935,7 1.000,2 1096,8 1133