Đề án
“Một số vấn đề cơ bản về
chính sách lãi suất của Ngân
hàng Nhà nước Việt Nam
trong thời gian qua”
Đề án : Lý thuyết tiền tệ ngân
hàng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Phương
Lớp : 1704
1
Lời nói đầu
hàng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Phương
Lớp : 1704
2
Đồng thời còn giải thích tài khoản 12 điều 9 “Lãi suất cơ bản là lãi suất do
Ngân hàng Trung ương công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ổn định lãi
suất kinh doanh “ Điều này là thể hiện rất rõ hoặc chất lãi suất của Ngân hàng
Trung ương trong nền kinh tế thị trường .
Xuất phát từ những vấn đề mang tính thời sự của lãi suất trên cơ sở những
kiến thức
đã học cùng với những kiến thức trong khuân khổ tài liệu cho phép , em
xin trình bày đề tài :“Một số vấn đề cơ bản về chính sách lãi suất của Ngân hàng
Nhà nước Việt Nam trong thời gian qua” Bàn về lãi suất có nhiều vấn đề đề cập
song trong khuân khổ của một đề án và kiến thức có hạn, em chỉ đề cập đến một
số cấn đề cơ bản nhất.
Em xin chân thành cảm
ơn cô giáo Lê Tuấn Nghĩa cùng toàn thể các thầy cô
trong bộ môn Tiền tệ Ngân hàng đã giúp em hoàn thành đề án này.
Sinh viên : Nguyễn Thị Thu
Phương
Lớp : 17.04
Hà Nội ngày 15 /03/2002
Đề án : Lý thuyết tiền tệ ngân
hàng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Phương
Lớp : 1704
phục vụ nhu cầu sinh lợi trong sản xuất kinh doanh hoặc nhu cầu tiêu dùng của
mình . việc người cho vay chuển quyền sử dụng v
ốn cho người khác có nghĩa là
anh đã hy sinh quyền sử dụng tiền tệ ngày hôm nay của mình . Đánh đổi cho sự
chuyển quyền đó là quền người cho vay được trả lãi suất .
Đề án : Lý thuyết tiền tệ ngân
hàng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Phương
Lớp : 1704
4
II- PHÂN LOẠI LÃI SUẤT
1. Căn cứ vào thời hạn tín dụng lãi suất0 được chia thành 3 loại .
Lãi suất ngắn hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng ngắn hạn
Lãi suất trung hạn áp dụng đối với các khoản tín dụg trung hạn
Lãi suất tín dụng dài hạn áp dụng đối với các khoản tín dụng dài hạn
2. Căn cứ vào các loại hình tín dụng (phân loại theo chủ thể tham gia quan hệ
tín dụng).
Lãi suất được chia thành các loại sau:
- Lãi suất tín dụng thương mại áp dụng khi các doanh nghiệp cho nhau vay dưới
hình thức mua ban chịu hàng hoá .
Nó được tính như sau:
Giá cả hàng hoá
bán chịu
--
Giá cả hàng hoá
vốn tiền vay cho Ngân hàng
- Lãi suất liên Ngân hàng : là lãi suất mà Ngân hàng áp dụng khi cho nhau vay trên
thị trường liên Ngân hàng .
- Lãi suất cơ bản: Là lãi suất được các Ngân hàng sử dụng làm cơ sở để ổn định
mức lãi suất kinh doanh của mình .
- Lãi suất tín dụng Nhà nước : áp dụng khi Nhà nước đi vay của các chủ
thể khác
nhau trong xã hội dưới hình thức phát hành tín phiếu hoặc trái phiếu .
- Lãi suất tín dụng tiêu dùng : áp dụng khi doanh nghiệp cho người lao động vay
phục vụ nhu cầu tiêu dùng cá nhân .
3. Căn cứ vào giá trị thực của lãi suất
Lãi suất được chia thành 2 loại :
- Lãi suất danh nghĩa : Là lãi suất tính theo giá trị danh nghĩa của tiền tệ vào thời
điểm nghiên cứu hay nói cách khác là loại lãi suất chưa loại trừ đi tỷ lệ lạm phát .
Lãi suất thực tế là lãi suất được điều chỉnh lại cho đúng theo những thay đổi về
lạm phát .Hay nói cách khác là lãi suất đã loại trừ đi tỷ lệ lạm phát
- Lãi suất thự
c của hai loại
+ Lãi suất thực tính trước ( dự tính ): là lãi suất thực được điều chỉnh lại cho
đúng theo đúng những thay đổi dự tính về lạm phát
+ Lãi suất thực tính sau : là lãi suất thực được điều chỉnh lại cho đúng theo
những thay đổi trên thực tế về lạm phát
Lãi suất danh nghĩa = lãi suất thực + tỷ lệ lạm phát
Hoặc Lãi suất thực = lãi suất danh ngh
ĩa – tỷ lệ lạm phát
4. Căn cứ vào mức ổn định của lãi suất .
Lãi suất được chia làm hai loại .
Đề án : Lý thuyết tiền tệ ngân
Trong đó :C số tiền thu được theo lãi gộp sau n kỳ ,C
o
vốn gốc ban đầu ,i lãi
suất n só kỳ gửi vốn
C. VAI TRÒ CỦA LÃI SUẤT TRONG NỀN KINH TẾ
Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập chung quan liêu bao cấp vai trò của lãi
suất được nhìn nhận một cách hết sức mờ nhạt và lệ thuộc nhiều khi được hiểu
như là một sự phan phối cuối cùng của sản phẩm giữa những người sản xuất và
người cho vay
Chuyển sang nền kinh tế thị trường lãi suất giữ vai trò hết sức quan trọng là
một trong những đòn b
ẩy kinh tế .Nó tác động đến tất cả các lĩnh vực của nền kinh
tế quốc dân nói chung vai trò của lãi suất được thể hiện ở nội dung sau đây .
1. Lãi suất là công cụ để khuyến khích tiết kiệm đầu tư
Đề án : Lý thuyết tiền tệ ngân
hàng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Phương
Lớp : 1704
7
Lãi suất là công cụ khuyến khích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiết
kiệm của các chủ thể kinh tế tạo nên quỹ cho vay đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế
Theo lý thuyết tài chính chúng ta có thể đưa ra phương trình về thu nhập
như sau :
Thu nhập = Tiêu dùng + Tiết kiệm
Phương trình này không những đúng với đặc điểm tài chính của các hộ gia
đình các doanh nghiệp mà còn đúng với cả nền kinh t
nghiệp .
- Lãi suất là công cụ buộc các doanh nghiệp phải sử dụng hiệu quả .
những ưu đãi về lãi suất về điều kiện cung cấp tín dụng và thanh toán là công cụ
của Nhà nước nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các nghành các
sản phẩm cần ưu tiên trong chiến lược phát triển kinh tế
3. Lãi su
ất là công cụ điều tiết vĩ mô
Lãi suất tạo nên khoản chi phí của người đi vay vì vậy sự biến động của lãi
suất có tác động đến đầu tư đến tiêu dùng qua đó tác động đến các mục tiêu của
nền kinh tế vĩ mô biểu hiện trong các trường hợp :
- Lãi suất thấp → kích thích đầu tư , kích thích tiêu dùng → tăng tổng
cầu → sản lượng tăng, giá tăng, thất nghiệp giảm→
nội tệ có xu hướng giảm giá
so với ngoại tệ .
- Lãi suất cao→ hạn chế đầu tư , hạn chế tiêu dùng→ giảm tổng cầu
→ sản lượng giảm →giảm giá→ thất nghiệp tăng→ nội tệ có xu hướng tăng giá so
với ngoại tệ
Như vậy, bằng cách tăng lãi suất Ngân hàng Nhà nước có thể làm giảm khả
nă
ng cho vay của Ngân hàng Thương mại do đó thực hiện chính sách tiền tệ thắt
chặt giảm bớt khối lượng tiền cần thiết cho việc mở rộng sản xuất kinh doanh và
chi tiêu của người tiêu dùng . Cũng như vậy ,bằng cách hạ thấp lãi suất Ngân hàng
Nhà nước có thể tạo điều kiện cho các hoạt động kinh tế phát triển hoặc muốn kìm
hãm tốc độ phát triển một nghành nghề nào
đó , Ngân hàng Nhà nước có thể tăng
hoặc giảm lãi suất cho vay để thu hẹp hoặc mở rộng đầu tư của các nghành nghề .
Từ năm 1989 đến nay ,chính sách lãi suất luân được sử dụng để điều chỉnh
kinh tế ở Việt Nam .Sau khi kiềm chế và giữ được lạm phát ở mức độ tương đối
Đề án : Lý thuyết tiền tệ ngân
hàng
Quan điểm 1
Hiện nay, ở Việt Nam chưa có nghiệp vụ tái chiết khấu cho nên không có
công cụ là thương phiếu hay các giấy tờ có giá nhưng ở nước ta lại có lãi suất tái
cấp vốn của Ngân hàng Trung ương cho các Ngân hàng Thương mại .Do đó đãcó
ý kiến lấy lãi suất tái cấp vốn làm lãi suất cơ bản . Nếu như hiểu được lãi suất cơ
Đề án : Lý thuyết tiền tệ ngân
hàng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Phương
Lớp : 1704
10
bản là lãi suất tái cấp vốn thì điều này trái với luật Ngân hàng Nhà nước và luật
các tổ chức tín dụng ban hành năm 1997 trong luật này đã xác định rõ lãi suất cơ
bản là lãi suất tái cấp vốn .Trên thực tế chúng ta thấy bản chất của 2 loại lãi suất
này cũng không giống nhau lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Trung ương
công bố là lãi suất làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng xác định mức lãi suất kinh
doanh còn lãi suất tái cấp vốn là lãi suất mà Ngân hàng Trung ương quy định đối
với các khoản vay cuối cùng trong các hình thức sau :
Ngân hàng Trung ương cho vay chiết khấu và tái chiết khấu
Ngân hàng Trung ương cho vay đối với giá trị hợp đồng tín dụng chưa đến
hạn cuả Ngân hàng Thương mại
Ngân hàng Trung ương cho vay cầm cố bất động sản và thế chấp các chứng
từ khác có giá trị của Ngân hàng Thương mại
Bằng các hình thức tái cấp vố
n này Ngân hàng Nhà nước sử dụng linh hoạt
để thắt chặt hay lới lỏng tín dụng phương tiện thanh toán trong điều kiện cụ thể có
khi lãi suất tái cấp vốn có thể thấp hơn hay bằng lãi suất cho vay của Ngân hàng
Thương mại nhưng thực tế tình hình lãi suất hiện nay ở Việt Nam chưa thể sử
dụng lãi suất tái cấp vốn để điều hành chính sách tiền tệ được .
10 năm đổi mới chính sách lãi suất .
1 . Điểm lại những chặng đường sau hơn 10 năm đổi mới chính sách lãi suất
1.1 Giai đoạn lãi suất Việt nam chuyển từ lãi suất âm sang lãi suất dương (1986 –
1990)
Ở giai đoạn này người gửi tiền không những không có lãi mà giá trị đồng
tiền vốn của họ bỏ vào Ngân hàng còn không được bảo đảm lãi suất thời kỳ này là
lãi suất âm và thấp hơn nhiều so với lạm phát .Lạm phát năm 1986 là 774% là mức
lạm phát trên thị trường tự do trong khi đó lãi suất chỉ có 12%
Tháng 10 /1990 trong pháp lệnh Ngân hàng công bố tách hệ thống Ngân
hàng thành 2 cấp Ngân hàng Nhà nước và các tài chính tín dụng . Trong những
năm đầu thực hi
ện pháp lệnh này, Ngân hàng Nhà nước quy định rõ lãi suất tiền
gửi và lãi suất tiền vay
Lãi suất tiền gửi thấp hơn tỷ lệ lạm phát
Lãi suất cho vay nhỏ hơn lãi suất tiền gửi
Đề án : Lý thuyết tiền tệ ngân
hàng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Phương
Lớp : 1704
12
Sang năm 1992 nền kinh tế nức ta bước sang một hướng mới lạm phát được
đẩy lùi và ở mức thấp đây là điều kiện để chuyển sang lãi suất dương . Bên cạnh
viẹc xác định các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể Ngân hàng Nhà nước còn
có sự phân biệt lãi suất giữa các thành phần kinh tế lãi suất cho vay đối với các
doanh nghiệp quốc doanh nhưng có hạn chế ở việc lãi suấ
t cho vay ngắn hạn cao
chế trần lãi suất cho vay như hiện nay đối với các Ngân hàng thương mại và các tổ
chức tín dụng khác .
1.3 Giai đoạn thực hiện trần lãi suất cho vay
Trước tình hình trên Ngân hàng Trung ương đã ban hành chính sách lãi suất
theo trần lãi suất với mục đích khống chế lãi suất cho vay tối đa của các Ngân
hàng thương mại với chính sách này Ngân hàng Nhà nước đã quy định các mức
trần cho vay cũng khác nhau trần lãi suất cho vay ngắn hạn (áp dụng đối khu vực
thành thị ) trần lãi suất cho vay nông thôn cao hơn trần lãi suất trung dày hạn tràn
lãi suất cho của các tổ chức tín dụng là cao nhất .
Trong năm 1999, Ngân hàng Nhà nước đ
ã thực hiện 5 lần hạ trần lãi suất
cho vay đối với các Ngân hàng thương mại và các tổ chức tín dụng khác đây là
những biện pháp thiét yếu để khắc phục những dư âm của cuộc khủng hoảng tài
chính tiền tệ khu vực Châu Á năm 1998 tăng 5,8 % /năm ứng với lạm phát 9,2%
năm so với năm 1997 là 9,8 % và mức lạm phát là 3,7% năm dẫn đến đầu tư sản
xuất kinh doanh có chiề
u hướng chậm lại hàng hoá sản xuất ra tiêu thụ chậm cùng
với hiện tượng giảm phát kéo dài trong 7 tháng đầu năm 1999 .Để khắc phục tình
trạng này chính phủ thực hiện chủ chương kích cầu tăng đầu tư tăng sản xuất và
tăng tiêu dùng
2. Thực trạng lãi suất ở Việt Nam hiện nay .
Từ năm 1986 đến nay ,việc thực hiện chính sách lãi suất đã trải qua nhiều
giai đoạn mỗi giai đoạn mang một nội dung và một mục đích khác nhau nhưng nói
chung qua mỗi giai đoạn đã tích luỹ được khá nhiều kinh nghiệm .Thời kỳ kế
hoạch hoá tập chung quan liêu bao cấp với lãi suất âm , chính sách lãi suất hoàn
toàn cứng nhắc theo kiểu hành chính phổ biến là lãi suất do bao cấp tín dụng
.Bước vào nh
ững năm đầu của thời kỳ đổi mới Việt nam đã đổi mới chính sách lãi
nhất định .
Ba là :Thực tế đ
ang đặt ra trừng nào có được loại hình lãi suất chủ đạo ( lãi
suất cơ bản ) đồng thời xây dựng được cơ chế bảo đảm mức độ bao quát và cách
thức can thiệp linh hoạt của Ngân hàng Nhà nước đối với quan hệ cung cầu tiền tệ
trong nền kinh tế thì lúc đó mới kiểm soát tốt lượng tiền trong lưu thông .
Thực tế cho thấy còn nhiều tồn tại xoay quanh chính sách lãi suất hiện hành
.Dù có biện minh cho việc kiểm soát lãi suất trong những điều kiện nhất định vì
mục tiêu của chính sách tiền tệ thì vẫn không tránh khỏi những thiệt hại xét trên
Đề án : Lý thuyết tiền tệ ngân
hàng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Phương
Lớp : 1704
15
tổng thể nền kinh tế . Điều này khuyến khích sự vay mượn ,chiếm dụng vốn ,chốn
tránh kiểm soát của Ngân hàng Nhà nước làm méo mó chế độ lãi suất quy định
.Mức độ toàn dụng vốn trong nền kinh tế thấp đầu cơ thực lợi và cạnh tranh bất
tương xứng về lãi suất còn phổ biến vốn bị sử dụng lãng phí kém hiệu quả
.Chuyển sang lãi suất trần là m
ột bước tiến độ sang lãi suất vẫn chưa phản ảnh
đúng quan hệ cung cầu vốn của nền kinh tế .
Một số chính sách lãi suất cơ bản hiện nay của Việt nam .
2.1. Lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước hiện nay
Theo điều 9 khoản 12 của luật Ngân hàng Nhà nước Việt N am , lãi suất cơ
bản được định nghĩa như sau : “ Lãi suất cơ bản là lãi suất do Ngân hàng Nhà
nước công bố làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng ấn định lãi suất kinh doanh “.
Tuy nhiên cho đến nay , Ngân hàng Nhà nước vẫn chưa xác định và công bố
lãi suất cơ bản cho các tổ chức tín dụng mà vẫn sử dụng công cụ trần lãi suất cho
đối với các khách hàng và dự án cho vay đầu tư không có rủi ro xem như bằng
không
Các Ngân hàng thương mại xác định lãi suất cơ sở của mình dựa trên lãi
suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố .Sau khi tính toán đến các yếu tó như
chính sách tài chính tiền tệ của chính phủ , chỉ số lạm phát , lãi suất trêng thị
trường liên Ngân hàng , các quy định về d
ự trữ bắt buộc , dự phòng rủi ro .
Do đó để xác định lãi suất cơ bản của Ngân hàng thương mại chúng ta có
thể sử dụng công thức xác định lãi suất cho vay của Ngân hàng thương mại như
sau Lãi suất
cho vay
=
Lãi suất
cơ sở
+
Dự phòng rủi ro
khách hàng mất khả
năng thanh toán
+
Dự phòng rủi ro kỳ
hạn khi khách hàng
vay dài hạn
Hiện nay ở Việt nam chưa có nghiên cứu nào về mức dự phòng rủi ro khách
doanh khi muốn đạt được chỉ tiêu lợi nhuận tạm chí chỉ đạt mức hoà vốn hoặt bị lỗ
nếu không có các nguồn thu từ các hoạt động khác mang lại II. QUÁ TRÌNH ĐIỀU CHỈNH LÃI XUẤT
1. Việc điều chỉnh lãi xuất trong thời gian gần đây.
Từ ngày 1/6.1990 Ngân hàng Nhà nước đã có một số chuyển biến lớn là chỉ
quy định một mức trần lãi suất cho vay tối đa bằng đồng Việt Nam là 1,15% /
tháng áp dụng cho tất cả các kỳ hạn cho vay . Đây cũng là bước tiến mới cho Ngân
hàng Nhà nước thực hiện công bố lãi suất cơ bản
Trong xu hướng toàn cầu hoá và quốc tế hoá nền kinh tế ,Ngân hàng trung
ương ở mỗi quốc gia khi tiến hành đ
iều chỉnh lãi suất của mình trước hết phải xem
xét với xu huướng diễn biến trong khu vực và trên thế giới trong xu hướng chung
về diễn biến lãi suất trên thế giới hơn một năm qua và diễn biến kinh tế trong 6
tháng đầu năm 1999 , ta cùng xem xét việc điều chỉnh lãi suất ở Việt Nam ra sao ?
Đề án : Lý thuyết tiền tệ ngân
hàng
Sinh viên thực hiện : Nguyễn Thị Thu Phương
Lớp : 1704
18
Tính từ ngày 1-7-1997 đến nay, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đã tiến
hành nhiều đợt điêù chỉnh lãi suất cho vay . Hai lần điều chỉnh gần đây nhất là
1/2/1999 thực hiện với 4 Ngân hàng thương mại quốc doanh cho vay với khách
hàng ở khu vực đô thị 1/6 1999 thực hiện đối với các tổ chức tín dụng . Ngày
29/1/1999 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước cho chỉ thị 01 1/1999 CT - NH NN
quy định trần lãi suất cho vay thông thường bằng đồng Việ